Trường ca với tư cách là một thể loại mới

16:00 16/04/2008
Theo định nghĩa hiện nay, trường ca là một tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình.

Tuy nhiên trước đây, trường ca được dùng để gọi các tác phẩm sử thi thời cổ đại và trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả. Như thế, trường ca đã có một bề dày lịch sử lâu đời. Hiện tại, trường ca vẫn được nhiều nhà thơ lớn dành cho một mối quan tâm đáng kể. Hầu như mỗi nhà thơ trong đời mình đều ấp ủ một trường ca. Thơ ca Việt cũng không nằm ngoài quy luật đó. Có tác giả trong nền thơ ca đương đại Việt còn sáng tác cả trường ca dài đến hơn 200 trang.
Tuy nhiên, với định nghĩa như trên, trường ca có thể được coi là một thể loại [còn gọi là “thể tài”] nằm giữa thể loại tự sự và trữ tình. Chính vì vậy mà vấn đề tên gọi của trường ca cũng làm nảy sinh những cuộc tranh luận sôi nổi về việc nên gọi nó là thơ dài, truyện thơ hay trường ca. Và nhiều người đã cho rằng việc mở rộng dung lượng tự sự và quy mô cảm xúc của trường ca đã “làm mờ ranh giới của các thể loại”, mà cụ thể là ranh giới giữa hai thể loại tự sự và trữ tình.
1. Trường ca, một thể loại chưa ổn định
Từ thời cổ đại đến nay, trường ca luôn chiếm một vị trí trang trọng trong nền văn học của một dân tộc cũng như trong văn học thế giới. Người ta nói đến nguồn gốc của nó ở trường ca sử thi cổ đại và trung đại (còn được gọi là anh hùng ca). Tuy nhiên nó lại không hề là một thể loại ổn định trong hệ thống các thể loại văn học. Có thể nói, từ thời cổ đại đến nay, trường ca đã trải qua những bước tiến hoá sâu sắc, đến mức khi nói đến trường ca hiện đại, người ta không thể hình dung nó như cách đây 2-3 nghìn năm.
Chính vì vậy mà đã có nhiều cuộc tranh luận về tên gọi của trường ca, về những đặc điểm của thể loại trường ca hiện đại, về vị trí và vai trò của nó trong hệ thống các thể loại thơ ca nói riêng và trong hệ thống các thể loại văn học nói chung. Ngoài những bài giới thiệu và bình luận về các tác phẩm trường ca cụ thể được đăng rải rác trên báo và tạp chí từ đầu những năm 1960 đến nay, chúng ta thấy xuất hiện một loạt các bài lý luận về trường ca với tư cách là một thể loại. Những cuộc tranh luận như thế đã được bắt đầu từ 1975 với bài “Mấy suy nghĩ về thể loại trường ca” của Lại Nguyên Ân trên Tạp chí văn học số 4. Đến 1980, tạp chí Văn nghệ quân đội đã mở một mục trao đổi với tiêu đề “Về thể loại trường ca”, thu hút được sự tham gia của đông đảo các nhà văn, nhà thơ cùng các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học. Sau đó, Tạp chí văn học cũng tiếp nối cuộc trao đổi này. Rồi các báo mạng cũng đăng tải nhiều bài viết trao đổi về thể loại trường ca. Cụ thể, trên Văn nghệ quân đội tháng 11-1980 đã có các bài viết: “Trường ca – cảm hứng, bản lĩnh, sức vóc của người viết” của Nguyễn Trọng Tạo, “Về mấy đặc điểm của trường ca” của Vương Trọng, “Vài ý nghĩ nhỏ” của Trần Mạnh Hảo, “Trường ca và người viết trường ca” của Phạm Ngọc Cảnh, “Trường ca, một kiến trúc tổng hợp của thơ ca” của Thu Bồn. VNQĐ tháng 12-1980 có bài “Vài suy nghĩ về thể loại trường ca” của Hữu Thỉnh. VNQĐ tháng 1-1981 có các bài: “Về thể loại trường ca” của Từ Sơn, “Bàn góp về trường ca” của Lại Nguyên Ân. VNQĐ tháng 2-1981 có các bài: “Thơ và chuyện trong truyện thơ” của Hoài Thanh, “Về thể loại trường ca và tính chất của nó” của Trần Ngọc Vương, “Thêm vài ý nghĩ” của Hồng Diệu. Tạp chí văn học số 6-1982 có các bài: “Từ ý kiến về trường ca sử thi của Hê-ghen đến “trường ca” hiện đại ở ta” của Đỗ Văn Khang, “Chung quanh vấn đề trường ca” của Vũ Đức Phúc, “Trường ca, vấn đề thể loại” của Mã Giang Lân. TCVH số 1-1983 có bài “Trường ca” của Phạm Huy Thông. TCVH số 3-1984 có bài “Về đặc trưng của trường ca” của Hoàng Ngọc Hiến. TCVH số 5-6/1988 có bài “Thử phân định ranh giới giữa trường ca và thơ dài” của Mã Giang Lân. Cuốn kỷ yếu hội thảo Việt Nam nửa thế kỷ văn học <26-9-1995> (Nxb. Hội Nhà văn, H., 1997) có bài “Trường ca – thành tựu của nền văn học mới” của Vũ Văn Sỹ. Báo Người Hà Nội số 51 ngày 18-12-1999 có bài “Về một đặc trưng trường ca qua “Người cùng thời” của Mai Văn Phấn” của Phạm Quang Trung (đăng lại trên trang web của Mai Văn Phấn www.maivanphan.com). Cuốn sách Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học của Viện Văn học do Nxb. KHXH ấn hành năm 2001 có bài “Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại” của Vũ Văn Sỹ (in lại trong Vũ Văn Sỹ, Mạch thơ trong nguồn thế kỷ, Nxb. KHXH, H., 2005)...
Có thể nói, các ý kiến phát biểu và tranh luận về trường ca là khá phong phú. Điều đó chứng tỏ trường ca đã trở thành tâm điểm chú ý của giới sáng tác và nghiên cứu văn học.
Có những ý kiến muốn xác định bản chất của trường ca về mặt định lượng: trường ca phải có tầm cỡ nội dung hoành tráng, có sự mở rộng của dung lượng tự sự và quy mô cảm xúc (Thu Bồn, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Trọng Tạo, Vũ Văn Sỹ...). Song cũng có nhiều ý kiến muốn xác định trường ca về mặt định tính, kể cả những người có ý kiến đánh giá về mặt định lượng thì cũng vẫn chú ý đến yếu tố định tính. Về mặt này, hiện đang tồn tại 2 luồng ý kiến chủ yếu đề xuất về đặc trưng của trường ca, và liên quan đến nó là vấn đề tên gọi của trường ca:
1. Nhiều người cho rằng trường ca phải kế thừa anh hùng ca cổ-trung đại, tức là nhấn mạnh tính tự sự, tính sử thi, tính anh hùng (hay tính hào hùng) [Báo Văn nghệ công an còn gọi trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm là “bản hùng ca đất nước”], rằng về cơ bản nó vẫn phải có cốt truyện, và vì thế nó cũng có thể được gọi là truyện thơ, và cũng vì thế một số trường ca hiện đại vẫn có thể được gọi là “anh hùng ca” (Từ Sơn, Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Trung, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Trọng Tạo...). (Trong cuộc trao đổi trên VNQĐ tháng 2-1981, tác giả Hồng Diệu còn nhận xét rằng “mấy chục năm nay, chưa có một trường ca nào mà tác giả của nó là nữ”, phải chăng tác giả cho rằng tính anh hùng ca là đặc trưng cơ bản của trường ca?). Xu hướng này phù hợp với quan niệm của Hegel về trường ca như là một “thánh thư sử thi” của một dân tộc (Theo Đỗ Văn Khang).
2. Nhiều người khác lại cho rằng trường ca phải có sự kết hợp bổ sung cho nhau giữa tính tự sự với tính trữ tình, nó là một thể loại giao thoa giữa thể loại tự sự và thể loại trữ tình (Hoài Thanh, Vũ Đức Phúc, Mã Giang Lân, Hoàng Ngọc Hiến, Lại Nguyên Ân...). Tuy nhiên về sự kết hợp này, có người cho rằng cảm hứng anh hùng ca vẫn là cảm hứng chủ đạo (Mã Giang Lân). Và khi chất tự sự bao quát những sự kiện lịch sử có tầm cỡ hoành tráng, thì chất sử thi (tức anh hùng ca) xuất hiện (Lại Nguyên Ân).
Ngoài ra, nhiều người đều nhận xét thấy rằng, bên cạnh những trường ca mang tính sử thi, thì trong trường ca Việt Nam hiện đại đã xuất hiện một xu hướng đi theo xu hướng của thế giới, nặng về thể hiện cảm xúc, tâm tư của nhà thơ, tức là thiên về loại “trữ tình”, một kiểu “trường ca không có cốt truyện”, tuy nhiên nó vẫn dựa trên một cái sườn sự kiện, nhưng sự kiện chỉ là một cái khung để nhà thơ gửi gắm tình cảm và ý nghĩ của mình (Nguyễn Trọng Tạo, Vương Trọng, Trần Mạnh Hảo, Hoàng Ngọc Hiến, Trần Ngọc Vương <“dung lượng cảm hứng”>,...). Trong số những người nhận xét thấy sự lấn át của tính trữ tình trong trường ca, có người đồng tình (Trần Mạnh Hảo, Lê Minh Quốc), nhưng cũng có nhiều người phản đối với lý lẽ cho rằng nguyên tắc tự sự của trường ca cần phải được tôn trọng trong mối quan hệ với nguyên tắc trữ tình (Hoàng Ngọc Hiến).
Tuy nhiên, vượt lên tất cả những ý kiến nói trên, thì một mặt, trường ca vẫn được xếp vào thể loại thơ ca, một thình thức thể hiện chủ yếu của “thể loại trữ tình”, nhưng mặt khác, nó lại được coi là một trong những thể loại của loại văn tự sự. Điều này cho thấy trường ca có một vị trí rất đặc biệt và chưa ổn định trong hệ thống thể loại văn học Việt .
Mặc dù vậy, nhìn chung các ý kiến đều khẳng định vị trí quan trọng của trường ca trong hệ thống thể loại văn học; rằng đã có một sự chuyển biến lớn từ trường ca sử thi cổ-trung đại đến trường ca hiện đại.
Có thể nói đây là một vấn đề tranh luận rất lý thú và bổ ích đứng từ góc độ lý thuyết thể loại. Và để hiểu thêm về đặc trưng của trường ca, chúng ta hãy xét xem khái niệm “trường ca” đã được hình thành như thế nào.
2. Diễn biến lịch sử của khái niệm “thể loại trường ca”
Trước hết cần xác định khái niệm “thể loại” mà trên sách báo người ta thường dùng rất phổ biến để chỉ một kiểu văn học nhất định. Theo nhiều người, chẳng hạn như Trần Đình Sử trong chương viết về thể loại của tác phẩm văn học của cuốn sách Lý luận văn học (Phương Lựu chủ biên, Nxb. Giáo dục, 2002), và theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi chủ biên Nxb. GD, 1992), hay theo Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học (ĐHQGHN,1999), văn học được chia thành các loại và các thể (hay thể loại, thể tài), thể nằm trong loại. Theo các tác giả này thì văn học được chia thành ba loại lớn: tự sự, trữ tình, và kịch. Trong mỗi loại người ta lại chia ra các thể (hay còn gọi là thể loại, thể tài). Thế nhưng chúng ta cũng quen thấy nhiều người nói đến ba thể loại chính của văn học là “thể loại tự sự”, “thể loại trữ tình”, và “thể loại kịch”. Trong tiếng Pháp, ba thể loại chính này đều được núp dưới một thuật ngữ là “genre”, và các cuốn từ điển Pháp-Việt đều dịch là “thể loại”. Thậm chí, để phân biệt giữa “loại” và “thể”, nhiều người còn đề xuất cách gọi “thể loại” thay cho “loại” và “tiểu thể loại” thay cho “thể loại”. Như vậy, khái niệm “thể loại” được dùng tương đối linh hoạt. Do đó, nếu như trong bài viết này chúng tôi có nói rằng “thể loại trường ca nằm trong thể loại trữ tình” thì cũng có thể được hiểu là “thể trường ca nằm trong loại trữ tình”.
Trong nhiều ngôn ngữ châu Âu, trường ca hiện đại chỉ được gọi bằng một thuật ngữ đơn giản là “bài thơ dài” (tiếng Pháp: “poème”), khác với thuật ngữ “anh hùng ca”, “sử thi” (tiếng Pháp: “épopée”). Về vị trí của trường ca, có người xếp nó vào một nhóm với anh hùng ca (sử thi), với truyện thơ, thơ trường thiên, và với ngụ ngôn, và họ xếp cả nhóm này vào loại tác phẩm tự sự (Trần Đình Sử). Nhưng rồi người ta (trong đó có cả Trần Đình Sử) vẫn xếp trường ca vào một thể loại chung là thơ ca, mang cả tính tự sự lẫn trữ tình (Lại Nguyên Ân). Ngày nay, nói chung các nhà thơ khi sáng tác những tác phẩm thơ dài hơi, họ thường gọi đó là “trường ca”. Và như thế, trong quan niệm của họ, trường ca là một bộ phận của sự nghiệp thơ ca của họ. Vì thế, có nhiều người vẫn coi “trường ca là một thuật ngữ văn học mới, chưa chính xác, chưa ổn định” (Vũ Đức Phúc). Thậm chí có người còn đề xuất cứ gọi nó bằng thuật ngữ cũ là “truyện thơ” cho giản tiện (Từ Sơn).
Như vậy, trước đây ở ta người ta thường dùng khái niệm “trường ca” để chỉ các sáng tác sử thi anh hùng ca thời cổ-trung đại, như các sáng tác Iliađ, Ôđixê của Homer (Hy Lạp), Ênâyađa của Virgilius (La Mã), Ramayana của dân tộc Ấn Độ, Bài ca Roland của dân tộc Pháp, Dũng sỹ khoác áo da hổ của Rustaveli (Gruzia), Bài ca những người Nibelungen của dân tộc Đức, v.v... Nhìn chung ở nước ta, khái niệm trường ca ban đầu được dùng để chỉ những sáng tác bằng thơ kể về những chiến tích anh hùng của một hoặc một số nhân vật, hay của cả một tộc người. Đây là khái niệm được dùng để dịch một khái niệm của các nước châu Âu, đó là khái niệm “épopée” của tiếng Pháp (tiếng Anh cũng mượn khái niệm này của Pháp và viết không dấu là “epopee”), khái niệm này còn được giải nghĩa bằng một thuật ngữ khác là “poème épique” <“thơ sử thi”>, chính vì vậy mà để xác định rõ hơn, người ta còn gọi nó “trường ca sử thi”, và căn cứ vào tính chất và đặc trưng của nó, người ta còn gọi nó là “anh hùng ca”. Trong khi đó những sáng tác thơ dài kể về chuyện tình yêu thì không được gọi là épopée <“trường ca”>, mà được gọi là “poème d’amour” hay “poème lyrique” trong tiếng Pháp và “love-romance” trong tiếng Anh <“truyện tình”> (ví dụ như truyện Tristan và Isolde của tộc người Celt (một tộc người German), và nói chung, loại sáng tác này cũng thường được chúng ta xếp chung vào với thể loại “truyện thơ”.
Vậy tại sao ngày nay các nhà thơ ở nước ta lại tự gọi các sáng tác dài hơi của mình là trường ca? Theo tôi có 2 lý do:
1. Hầu hết các sáng tác thơ dài hơi ngày nay không thể gọi là “truyện thơ”, vì hầu hết chúng không có cốt truyện, có chăng chỉ là một chuỗi sự kiện lịch sử, chứ không phải là một câu chuyện có kết cấu chặt chẽ. Vì thế các nhà thơ thấy rằng họ không thể gọi những đứa con tinh thần đó của mình là “truyện thơ”.
2. Các nhà thơ Việt Nam ngày nay cũng không thể gọi các sáng tác thơ dài hơi của họ là “anh hùng ca” hay “trường ca sử thi”, bởi lẽ trong giai đoạn hiện đại, các sáng tác dài hơi của thơ ca Việt Nam có xu hướng thiên về chất trữ tình, một số sáng tác hoàn toàn không có cốt truyện.
Chính vì thế mà, trong khi nỗ lực muốn sử dụng khái niệm “thơ trường thiên” với nghĩa là “bài thơ dài” đã không đạt được kết quả, thì các nhà thơ và các nhà nghiên cứu đành bằng lòng dùng lại khái niệm “trường ca” – một khái niệm được “chiết xuất” từ khái niệm “trường ca sử thi” cổ-trung đại – dùng để chỉ những sáng tác thơ dài, có hay không có cốt truyện đều được, và việc làm này cũng phần nào cho thấy ý tưởng của các nhà thơ là muốn kế thừa chất sử thi của trường ca sử thi truyền thống.
Như vậy có thể coi khái niệm “trường ca hiện đại” là một phát minh mới của giới lý luận và sáng tác Việt . Nhìn chung, trường ca được coi là một thể loại trong hệ thống thể loại thơ ca (Vũ Văn Sỹ). Và chúng tôi nói thêm rằng trường ca là một thể loại “có tầm cỡ lớn” trong hệ thống các thể loại thơ ca. Điều này liên quan đến việc xác định tính chất đặc trưng của trường ca hiện đại.
3. Đặc trưng của thể loại trường ca Việt hiện đại
Trường ca Việt hiện đại có thể được chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1932-1975: là giai đoạn ra đời của trường ca, nó vẫn mang nặng tính sử thi của anh hùng ca.
- Giai đoạn sau 1975: xuất hiện xu hướng thiên về tính trữ tình, mang đậm dấu ấn cái tôi cá nhân.
Trong lịch sử văn học viết của Việt , trước đây có một thể loại gần giống với trường ca sử thi cổ-trung đại, đó là truyện thơ. Trên thực tế, truyền thống truyện thơ, diễn ca, ngâm khúc ở Việt đã có một bề dày lịch sử khá lâu đời. Điều này là phù hợp với lịch sử văn học của toàn thế giới, khi mà hình thức thể hiện đầu tiên của văn học là thơ ca, chính vì vậy mà thuật ngữ “thơ ca” còn có một nội hàm nữa là dùng để chỉ mọi sáng tác văn học.
Trong tinh thần đó, sử thi (hay anh hùng ca) của thế giới, và truyện thơ của Việt , có thể được coi là thể loại văn học đầu tiên vận dụng hình thức thơ ca để kể chuyện, như là một hình thức “diễn sử bằng thơ” (vì thế nó được gọi là “sử thi”). Về sau, khi tiểu thuyết ra đời, chức năng kể chuyện và diễn sử đã được tiểu thuyết phát huy tối đa hiệu quả. Vì thế, sử thi không còn có thể cạnh tranh được với tiểu thuyết về phương diện này. Điều đó bắt buộc sử thi phải làm một cuộc cách mạng để tự tồn tại. Và nó đã chuyển biến để làm hình thành một thể loại mới là trường ca với đặc trưng thiên về yếu tố trữ tình như chúng tôi đã nói. Tuy nhiên, mặc dù đặc trưng của trường ca hiện đại là thiên về tính trữ tình, nhưng chất sử thi của trường ca vẫn chưa mất hẳn, nó có nhiệm vụ dẫn dắt và tạo nên tầm cỡ cho các sự kiện lịch sử, vẫn là yếu tố quy định về mặt nội dung trong một định nghĩa về trường ca. Một trường ca trước hết phải hàm chứa một nội dung lớn. Đó là cái làm nên chất sử thi truyền thống của trường ca. Nhiều khi chất sử thi vẫn còn đóng một vai trò quan trọng trong việc tái hiện một quãng đường lịch sử hoặc một chuỗi sự kiện lịch sử quan trọng. Trong những trường hợp như vậy, chất sử thi kết hợp với những cảm xúc mãnh liệt sẽ tạo nên tầm cỡ hoành tráng cho trường ca, chính vì vậy mà có người còn gọi trường ca là “tráng ca” (Xuân Diệu).
Đến thời kỳ của phong trào Thơ Mới, xuất hiện trường ca đầu tiên trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam, đó là bản trường ca Tiếng địch sông Ô của Phạm Huy Thông, nhưng vẫn nó mang hơi hướng của trường ca sử thi cổ-trung đại, chưa bộc lộ rõ những đặc trưng như của trường ca hiện đại sau này.
Đến 1946, Xuân Diệu viết bản trường ca Ngọn quốc kỳ, được chính nhà thơ gọi là “tráng ca”. Song thực tế nó chưa có đủ tầm cỡ hoành tráng và kết cấu của một trường ca để tạo đà cho một phong trào viết trường ca. Và sự thật là trong những năm kháng chiến chống Pháp và thời kỳ đầu chống Mỹ, chúng ta mới có lác đác một số bản trường ca: Từ đêm 19 (Khương Hữu Dụng, 1951), Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (Phùng Quán, 1955), Du kích sông Loan (Xuân Hoàng, 1963)...
Đến 1964, Bài ca chim Chơ Rao của Thu Bồn ra đời. Trong thời gian này, một thế hệ thi sĩ của Việt Nam đã lớn mạnh, có đủ sức vóc để hưởng ứng và gánh vác một thể loại mới mà Bài ca chim Chơ Rao có thể được coi là một cú hích, một dấu mốc chính thức khai sinh ra trường ca hiện đại của Việt Nam.
Từ đó, một loạt trường ca ra đời. Xu hướng ban đầu là kế thừa chất sử thi của anh hùng ca. Điều này phù hợp với lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt lúc bấy giờ. Tiếp nối gần nhất với Bài ca chim Chơ Rao là trường ca Nguyễn Văn Trỗi của nhà thơ liệt sỹ Lê Anh Xuân (1968). Và cận kề với thời điểm 1975 lịch sử là trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm (1974). Có thể nói ở giai đoạn này, các nhà thơ muốn dùng trường ca để cạnh tranh với tiểu thuyết trong việc tái hiện lịch sử hào hùng của dân tộc. Ở giai đoạn này, trường ca Việt hiện đại vẫn mang nặng dấu ấn sử thi. Thậm chí, trong những năm đầu của giai đoạn sau 1975, chất sử thi vẫn còn để lại dấu ấn quan trọng trong một số trường ca: Những người đi tới biển của Thanh Thảo (1977), Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh (1979), Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu (1980), Con đường của những vì sao của Nguyễn Trọng Tạo (1981),...
Cùng trong xu hướng chung của văn học Việt Nam sau 1975 là đi sâu vào miền nội tâm sâu xa, được gọi là “xu hướng hướng nội”, trường ca Việt Nam hiện đại cũng bắt đầu chuyển hướng sang thể hiện chất trữ tình, hay có thể gọi là một xu hướng “trữ tình hoá trường ca”, một xu hướng phù hợp với xu hướng chung của thơ ca hiện đại thế giới. Kể từ 1986, xu hướng trữ tình thể hiện rất rõ nét. Đây là thể hiện của một ý thức về sự phân công lao động nghệ thuật: trường ca không làm thay cho tiểu thuyết như anh hùng ca trước đây nữa, mà nó phải thể hiện đúng là một thể loại trong hệ thống các thể loại thơ ca.
Tuy nhiên, qua một số trường ca hiện đại sau 1975, chúng tôi thấy ngoài một xu hướng kế thừa tính sử thi của trường ca, thì ngay cả ở những trường ca được gọi là trữ tình, tính tự sự và sử thi vẫn không mất đi.
Trong trường ca hiện đại, đặc trưng trữ tình được thể hiện như là cảm xúc của cái tôi cá nhân đối với truyền thống văn hoá-lịch sử của dân tộc. Cá nhân mở rộng biên độ cảm xúc và suy tư về lịch sử của đất nước: Người cùng thời của Mai Văn Phấn (1999), Đổ bóng xuống mặt trời của Trần Anh Thái (1999), Trầm tích của Hoàng Trần Cương (1999), Trường ca Hàm Rồng của Từ Nguyên Tĩnh (2000),... Đồng thời nó cũng được thể hiện như là một sự chiêm nghiệm về hiện thực đời sống hôm nay: Trường ca biển của Hữu Thỉnh (1994), Hành trình của con kiến của Lê Minh Quốc (2006), Phồn sinh của Nguyễn Linh Khiếu (chưa xuất bản, đăng trên mạng
www.maivanphan.com, 2007)...
Cho nên theo chúng tôi, phải xem xét trường ca cả về mặt định lượng lẫn định tính, từ đó có thể cho rằng đặc trưng của trường ca Việt Nam hiện đại là sự nổi trội của tính trữ tình so với tính tự sự, nhưng tính tự sự vẫn không mất hẳn, mà nó vẫn tồn tại như một khung quy chiếu cần thiết để làm nên “tầm cỡ nội dung hoành tráng” mang tính sử thi cho một tác phẩm được gọi là trường ca. Điều này cho thấy tính chất chia sẻ về mặt thể loại của trường ca:
trường ca là thể loại nằm ở nơi giáp ranh giữa thể loại tự sự và trữ tình.
Có thể nói, chưa bao giờ thơ ca nói chung và trường ca Việt nói riêng lại có được sự tự do thể hiện tư tưởng và tình cảm như ngày nay. Tuy nhiên, theo chúng tôi, sự tự do này đôi khi đã bị một vài nhà thơ phung phí: những câu thơ dễ dãi, lên án tội ác của con người một cách chung chung (Phồn sinh – Nguyễn Linh Khiếu). Có một điều rõ ràng là sự nổi lên của cái trữ tình là một thôi thúc của cái tôi bị dồn nén từ nhiều năm nay, là sự đáp ứng yêu cầu của một thể loại mới, một thể loại thơ trường thiên trong hệ thống thể loại thơ ca. Đặc trưng này làm cho trường ca trở về với chính địa hạt của thơ ca.
Đặc trưng “tầm cỡ nội dung hoành tráng” lại dẫn đến một đặc trưng thứ hai về thể loại:
Trường ca là một thể loại có khả năng tích hợp.
Nếu như tiểu thuyết là một thể loại có thể thâu tóm nhiều thể loại của cả văn học lẫn của một số ngành nghệ thuật, thì trường ca cũng là một thể loại có khả năng tích hợp thể loại lớn: trong một tác phẩm trường ca có thể có cả thơ lục bát, thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ tự do, văn đối thoại, văn độc thoại, văn tả cảnh, ngâm vịnh, khúc ca, vè, thơ văn xuôi (hầu hết các trường ca hiện đại đều đi theo xu hướng tích hợp này). Tức là, nói chung trong khi các thể thơ khác thường là những thể thơ “thuần chủng”, ví dụ một bài thơ lục bát thì từ đầu đến cuối đều gieo vần theo luật lục bát, một bài thơ bốn chữ thì từ đầu đến cuối đều chỉ là thơ bốn chữ, v.v... Nhưng trong một bản trường ca hiện đại, nhà thơ có thể nhảy từ câu thơ hai chữ sang ba chữ, bốn chữ, 5-6-7-8... chữ, sang lục bát, song thất lục bát, rồi lại có thể đột ngột chuyển sang một đoạn thơ văn xuôi mà không cần có một sự chuyển tiếp nào. Nó cũng có thể bao gồm cả ngôn ngữ đối thoại của kịch, ngôn ngữ tả cảnh của hội họa, ngôn ngữ ngâm vịnh của âm nhạc... Vì thế, nhiều người đã gọi trường ca là tiểu thuyết của thơ (theo Trần Mạnh Hảo).
Trong những trường ca mới nhất hiện nay, chúng ta còn thấy xuất hiện một xu hướng tiếp thu những thủ pháp của văn xuôi hiện đại: thủ pháp dòng chảy ý thức, thậm chí cả thủ pháp của tiểu thuyết mới, của kịch phi lý: câu văn không viết hoa, không chấm phảy, kéo dài liên tục từng đoạn nhiều dòng (Phồn sinh – Nguyễn Linh Khiếu).
Và tương xứng với thủ pháp kỹ thuật mới đó là một không gian khoáng đạt để chứa đựng một dung lượng nội dung hoành tráng và cảm xúc bao la, phù hợp với cái tôi được giải phóng. Thời gian lịch sử cũng tiến tới được thay thế bằng thời gian tâm linh: đó là một thời gian mơ hồ, vô định: một hình thức tồn tại của xu hướng trữ tình, suy tư, trở về chốn nội tâm (Đổ bóng xuống mặt trời – Trần Anh Thái). Thậm chí có những lúc thời gian như thể ngưng đọng, như thể bị biến mất (Người cùng thời – Mai Văn Phấn)...
Như thế, nếu như người ta nói tiểu thuyết được coi là một thể loại vẫn đang không ngừng phát triển và chưa hoàn thành (Bakhtin)
, thì câu nói đó cũng có thể được dành cho cả trường ca, và vì thế chúng tôi đã nói rằng trường ca là một thể loại chưa ổn định.
Kết luận
Trong khi ở phương Tây chỉ có khái niệm dành cho trường ca sử thi cổ-trung đại (ví dụ khái niệm “épopée” trong tiếng Pháp), còn thơ dài hay ngắn thì cũng chỉ được dành cho một khái niệm (ví dụ khái niệm “poème” trong tiếng Pháp), thì ở ta, khái niệm trường ca có thể được coi là dùng để chỉ một thể loại mới: thơ trường thiên trữ tình, có thể dựa trên một cái sườn sự kiện lịch sử. Đặc biệt là trường ca sau 1975, tính trữ tình đã nổi trội hẳn lên so với tính sử thi, nhưng là một tính trữ tình-suy tư. 
Như vậy, trường ca Việt hiện đại đã đóng góp cho việc định hình một thể loại mới trong thơ nói riêng và trong văn học Việt nói chung. Nó là một sự kế thừa có sáng tạo của các thể loại tương tự trước đó như sử thi (anh hùng ca), truyện thơ, diễn ca... Có thể coi trường ca là miền đất hứa để cho các nhà thơ bộc lộ tài năng của mình.


NGUYỄN VĂN DÂN
(nguồn TCSH số 230 - 04- 2008)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Phê bình thi pháp học đã mang đến sức sống mới cho phê bình văn học Việt Nam. Một số nhà nghiên cứu cho rằng thi pháp học là phương pháp minh chứng cho thành quả thay đổi hệ hình nghiên cứu trong phê bình văn học.

  • Hiện nay trên thế giới, quan niệm về Nghệ thuật tạo hình, Nghệ thuật thị giác và Mỹ thuật mang ý nghĩa gần giống nhau. Nó bao gồm: hội họa, đồ họa, kiến trúc, điêu khắc, trang trí ứng dụng, video clip, sắp đặt v.v..Loại hình nghệ thuật này luôn xuất hiện bằng những hình ảnh (image) thu hút mắt nhìn và ngày càng mở rộng quan niệm, phương thức biểu hiện cũng như khai thác chất liệu. Tuy nhiên, để hiểu thế nào là nghệ thuật trong tranh, hoặc vẻ đẹp của một công trình nghệ thuật còn là câu hỏi đặt ra với nhiều người.

  • HÀ VĂN LƯỠNGPuskin không chỉ là nhà thơ Nga vĩ đại, nhà viết kịch có tiếng mà còn là nhà cải cách văn học lớn. Là người “khởi đầu của mọi khởi đầu” (M. Gorki) Puskin bước vào lĩnh vực văn xuôi với tư cách là một người cách tân trong văn học Nga những năm đầu thế kỷ. Những tác phẩm văn xuôi của ông đã đặt cơ sở vững chắc cho văn xuôi hiện thực và sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực phê phán Nga, góp phần khẳng định những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc.

  • ĐẶNG VIỆT BÍCHGần đây trên tuần báo Văn Nghệ đã có bài viết bàn về vấn đề đào tạo "Văn hóa học", nhân dịp Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết V về xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

  • PHAN TUẤN ANH “Cuộc nói chuyện của chúng ta đã cho tôi thấy rằng hết thảy những gì liên quan đến bản chất của ngôn ngữ mới ít được nghĩ đến làm sao”                                       (Martin Heidegger)

  • TRẦN ĐÌNH SỬVăn học sáng tác là nhằm để cho người đọc tiếp nhận. Nhưng thực tế là người đọc tiếp nhận rất khác nhau. Lý luận tiếp nhận truyền thống giải thích là do người đọc không sành.

  • NGUYỄN THANH HÙNGVăn học là cuộc sống. Quan niệm như vậy là chẳng cần phải nói gì thêm cho sâu sắc để rồi cứ sống, cứ viết, cứ đọc và xa dần mãi bản thân văn học.

  • LTS: Cuộc tranh luận giữa hai luồng ý kiến về nhân vật lịch sử Nguyễn Hiển Dĩnh, một mệnh quan triều đình Huế có công hay có tội vẫn chưa thuyết phục được nhau.Vấn đề này, Tòa soạn chúng tôi cũng chỉ biết... nhờ ông Khổng Tử "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri giả" (biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, ấy là biết). Vậy nên bài viết sau đây của nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Nguyễn Đắc Xuân, chúng tôi xin đăng nguyên văn, tác giả phải gánh trọn trách nhiệm về độ chính xác, về tính khoa học của văn bản.Mong các nhà nghiên cứu, cùng bạn đọc quan tâm tham gia trao đổi tiếp.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNNăm 1998, Thành phố Đà Nẵng dự định lấy tên nhà soạn tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh đặt cho con đường mới song song với đường 2 tháng 9 và đường Núi Thành. Nhưng sau đó qua một số tin bài của tôi đăng trên báo Lao Động nêu lên những điểm chưa rõ ràng trong tiểu sử của ông Nguyễn Hiển Dĩnh, UBND Thành phố Đà Nẵng thấy có một cái gì chưa ổn trong tiểu sử của Nguyễn Hiển Dĩnh nên đã thống nhất rút tên ông ra khỏi danh sách danh nhân dùng để đặt tên đường phố lần ấy. Như thế mọi việc đã tạm ổn.

  • Vừa qua nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân có viết một loạt bài về ông Nguyễn Hiển Dĩnh - một quan lại triều nguyễn, nhà soạn tuồng nổi tiếng Quảng Nam. Qua thư tịch, anh chứng minh Nguyễn Hiển Dĩnh tuy có đóng góp cho nghệ thuật tuồng cổ nhưng những hành vi tiếp tay cho Pháp đàn áp các phong trào yêu nước ở Quảng Nam quá nặng nề nên không thể tôn xưng Nguyễn Hiển Dĩnh là danh nhân văn hoá của việt Nam như Viện Sân khấu và ngành văn hoá ở Quảng Nam Đà Nẵng đã làm. Qua các bài viết của Nguyễn Đắc Xuân có những vấn đề lâu nay ngành văn hoá lịch sử chưa chú ý đến. nhà báo Bùi Ngọc Quỳnh đã có cuộc đối thoại lý thú với anh về những vấn đề nầy.

  • ĐỖ NGỌC YÊNVào những năm 70 của thế kỷ, ở nhiều nước phương Tây tràn ngập không khí của cuộc khủng hoảng gia đình, làm cho nhiều người rất lo ngại. Một số kẻ cực đoan chủ trương xóa bỏ hình mẫu gia đình truyền thống. Nhưng cái khó đối với họ không phải là việc từ bỏ hình mẫu gia đình cũ - mặc dù trên thực tế việc làm đó không phải dễ - mà vấn đề đâu là hình mẫu gia đình mới.

  • NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH             Phóng sự điều tra

  • THỦY THANHLâu nay, "quả lắc" vì sự trong sáng tiếng Việt dường như đã trì vào điểm chết của dây dọi. Những mặc cảm, thành kiến hoặc dị ứng về sự "ga lăng ngôn ngữ" trước áp lực của thời đại tin học cũng chững lại như một thái độ thăm dò. Suy cho cùng thì ngôn ngữ cũng có đời sống riêng và nó bao gồm cả thể vía lẫn thể xác. Nó cũng "hữu sinh tất hữu diệt" trong luật tiến hóa và đào thải như nhiên. Ngôn ngữ nói chung là một phương pháp hệ thống hóa và tích lũy tri thức theo sự diễn tiến về mặt lịch đại và sự tiệm tiến về mặt đồng đại.

  • Các lý thuyết văn học tiếp cận văn chương theo những cách khác nhau và có thể được phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, có một điểm chung tối quan trọng không thể chối cãi: tác phẩm văn học là một hiện tượng sử dụng ngôn ngữ trong đó không thể thiếu vai trò của tác giả, độc giả cũng như thực tại, cho dù mỗi yếu tố tham gia ở những mức độ khác nhau.

  • Viết là một công việc bất hạnh. Một trong những yếu tố gây khốn khổ cho nhà văn là cốt truyện. Cốt truyện là “ông ngoáo ộp” dọa dẫm người cầm bút và cũng là nguyên nhân chung dẫn đến sự bế tắc của họ trong quá trình triển khai tác phẩm.

  • Trên thế giới, ít có loài hoa nào ra đời sớm, phổ biến với nhiều biểu trưng cao quý như hoa sen. Dáng hình đẹp, màu sắc trang nhã, hương thơm thùy mị, thanh khiết, không nhiễm bẩn... chừng ấy đức tính tốt đẹp đã đưa hoa sen thành biểu trưng cao quý của đạo Phật.

  • TRẦN ĐƯƠNGGoethe (1749-1832) hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào ông cũng thâu tóm những tri thức đồ sộ, cũng đạt được những thành tựu xuất sắc. Tên tuổi ông trở thành niềm tự hào của cả dân tộc, được Các Mác gọi là người Đức vĩ đại nhất”.

  • AN CHÍNHCó lẽ Hồng Nguyên là một trong những nhà thơ rất thành công về việc dùng "tiếng địa phương trong thơ của mình.

  • Flier Andrei Jakovlevich(Tiến sĩ triết học, nhà văn hóa học của Nga)

  • HOÀNG NGỌC HIẾN    (Đọc "Văn hóa chính trị - truyền thống và hiện đại" (1) của Nguyễn Hồng Phong)Đây là công trình nghiên cứu tổng kết có tính chất chiến lược Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX06 "Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội" do cố giáo sư Nguyễn Hồng Phong làm chủ nhiệm(2). Lịch sử những quá trình hiện đại hóa ở Việt Nam từ cuối t.k.XIX đến nay là một chủ đề quan trọng của công trình.