Trúc không che ngang mà che nghiêng...

09:55 16/07/2008
TRẦN THÙY MAI“Khuôn mặt em đâu phải chữ điền, Trúc không che ngang mà che nghiêng”

Ai dám chất vấn thơ Hàn Mặc Tử, trong khi “Lá trúc che ngang mặt chữ điền “đã được xem là một trong những câu thơ kinh điển trong thơ tiền chiến? Xin thưa, đó là Tô Kiều Ngân. Mỗi nhà thơ có cách nhìn khác nhau về ngoại giới, tuy vậy điều phát hiện của Tô Kiều Ngân thật thú vị. Hàn Mạc Tử là khách thơ qua thôn Vỹ, từ cảm tình lưu luyến với giai nhân mà yêu luôn cả vườn ai. Còn với Tô Kiều Ngân thì những khu vườn đó là đất chôn nhau, rất quen thuộc thân thương, anh hiểu rất rõ dáng nét của cảnh của người nơi ấy.
“Nghìn năm mây trắng” (NXB Văn hoá Sài Gòn, 2-2008) “là nỗi hoài nhớ sâu đậm mà Tô Kiều Ngân dành cho quê mẹ. Huế trong thơ anh là tiếng hò ru em da diết: “Hai tay cầm bốn tao nôi, tao thẳng tao dùi, tao nhớ, tao thương”. Là mùi hương của cây sầu đông tỏa bóng bên đường. Là chiếc áo cổ y phơi trong vườn, ngoài giậu nắng. Là nhánh rong non vương nhẹ mái chèo trong làn nước Hương Giang... 
Xa quê đã bốn mươi năm, những hình ảnh ấy vẫn lắng sâu trong tâm hồn anh, không hề lãng quên trong tất bật đời thường. Một phần vì quê hương ấy đẹp quá, lung linh trong ký ức không dễ gì phai nhạt. Một phần vì bản chất đa cảm và nhân hậu của người thơ. Và có lẽ cũng có phần vì cuộc đời anh gắn với tiếng sáo, tiếng thơ, mà Huế chính là thơ, là nhạc. Huế đã xa nhưng Huế vẫn rất gần trong từng ngày sống của  anh. Cội nguồn cảm hứng của  anh chính là ý niệm về tình tự quê hương, trong anh quê hương gắn liền với tình yêu và nghệ thuật: 
“Nếu lại được em ru bằng giọng Huế,
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa,
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt,
Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô...” 
Thơ Tô Kiều Ngân hay vì câu chữ nhẹ nhàng thanh thoát, nhưng  trước hết là hay ở chỗ chí tình, cái tình chân thật và thiết tha khiến câu thơ như có linh hồn. Chất Huế hiện rõ trong thơ anh: Ta cảm nhận được qua từng câu chữ một nét mềm mại, cái vẻ mềm mại thư sinh của con trai Huế, tinh tế mà dịu dàng, mộc mạc mà da diết. “Ở xứ Huế ni cấy chi cũng nhẹ, Chỉ có tình là nặng bằng non”.
Thôi Hiệu ngày xưa viết “Hạc vàng bay mất từ xưa, Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay” Đọc tập thơ của Tô Kiều Ngân tôi cứ tưởng trong ấy có cả hạc vàng và mây trắng, cả ngày xưa và bây giờ, kỷ niệm thì rạng ngời trong dĩ vãng mà những lời thơ ngọt ngào cứ lãng đãng bay hoài  như mây trắng nghìn năm. 
Con người không có rễ, nó có đôi bàn chân” đã có người nói thế. Từ bao thế kỷ rồi, cuộc sinh tồn đã đưa con người vào những hành trình lớn để mở rộng chân trời trước mắt. Dù vậy, con người vẫn có rễ, rễ con người không ở dưới chân mà ở trong tim. Bởi vì, “Người ta có nhiều nơi để đến, Chỉ một nơi thân thiết để quay về”.  
Huế trong thơ Tô Kiều Ngân là thế đó, một miền nhớ thương để cả đời người ngoái lại. 
“Bà con mình bỏ Huế đi cũng lắm,
Nhưng người về với Huế cũng đông thêm,
Đi hay ở, vẫn thiết tha với Huế,
Vẫn bao lần nghe Huế nhói trong tim...” 
Đọc hết thơ rồi, mà trong lòng vẫn còn dư vị nhói đau ngọt ngào từ nỗi nhớ một chốn về... 

T.T.M

(nguồn: TCSH số 233 - 07 - 2008)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TRUNG SƠNTrong số những con vật gần gũi với con người, con mèo không đứng vị trí thứ nhất thì cũng nhì. Chỉ riêng việc chú mèo có đặc quyền thỉnh thoảng "chung chăn" với con người lúc trời mưa rét cũng đủ để xếp chú đứng ở thứ bậc cao trong mối quan hệ với con người. Cũng vì vậy, trong thành ngữ và tục ngữ có nhiều câu nói đến con mèo ngẫm ra khá thú vị.

  • ĐOÀN MINH TUẤN                     Tùy bútĐã từ lâu lắm, nhiều mùa xuân đã qua, nhà văn Đoàn Giỏi có cho tôi mượn cuốn sách rất hay viết về "chó và mèo trên thế giới" của hai tác giả người Pháp Marlyse et Frange.

  • NGUYỄN QUANG HÀHầu như mỗi chúng ta chỉ biết Mai Xuân Hòa là nhạc sĩ. Anh đã ra mắt hai tập nhạc viết cho người lớn: "Nỗi đợi chờ", "Khát vọng",và hai tập cho thiếu nhi: " Những điều em thích", " Những ngôi sao đẹp".

  • PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

  • LÊ KHAI           Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ.  Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.

  • HÀ KHÁNH LINH            Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ                                        Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!

  • TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.

  • NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.

  • PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước  vào đời.

  • NGUYỄN VĂN VINH                         Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.

  • TRẦN HOÀI                  Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...

  • LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.

  • NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.

  • TỐ HỮU        Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời

  • VÕ MẠNH LẬP            Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                          Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                         Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.