“Trên đường hướng về ngày mai của các nghề truyền thống Huế, tôi gặp được trúc chỉ” - nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã bắt đầu tham luận của ông như thế tại hội thảo về nghề truyền thống Huế tháng 4-2013.
Trúc chỉ là cái tên do dịch giả Bửu Ý đặt nên. Trúc là tre, chỉ là giấy. Đó là một loại giấy được làm từ nguyên liệu cây tre, kết quả của hơn 10 năm lặn lội tìm kiếm và học hỏi khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam, sang tận Lào, Thái Lan của họa sĩ Phan Hải Bằng, giảng viên Trường đại học Nghệ thuật Huế.
Tinh tế của tre
|
“Trúc Chỉ là một đóng góp quan trọng cho việc khôi phục làng nghề truyền thống Huế. Trong tất cả các đề tài nghiên cứu của Trường đại học Nghệ thuật Huế thì đây là đề tài có tính ứng dụng cao nhất từ trước đến nay”.
TS Phan Thanh Bình |
Phòng trưng bày các sản phẩm trúc chỉ của Phan Hải Bằng và cộng sự đặt ở số 4 Triệu Quang Phục, TP Huế. Người xem không khỏi ngỡ ngàng khi biết rằng các sản phẩm như túi xách, đèn lồng, nón, giấy in tranh, giấy viết thư pháp… đều được làm từ cây tre.
Đã nhiều lần làm thử bằng các chất liệu như rơm, bèo, chuối, bã mía… nhưng không thành công, Hải Bằng thử sức với tre và nhận ra chỉ có tre mới đủ độ tinh để tạo ra được sản phẩm như ý muốn.
“Trên cơ sở quy trình làm giấy dó truyền thống, tôi dùng nguyên liệu tre thay thế nguyên liệu vỏ dó để tạo nên loại giấy này” - họa sĩ Hải Bằng chia sẻ. Bắt đầu là chẻ nhỏ tre ra rồi phân loại ruột, vỏ, sau đó ngâm với nước vôi suốt đêm, rồi nấu và nghiền thành bột giấy. Tiếp đó, đổ bột lên khuôn rồi cho vào máy ép khô nước.
Để tạo ra hình ảnh, hoa văn trên giấy, họa sĩ phải đặt hình ảnh đó lên trên giấy và phun nước trước khi phơi khô. Điểm đặc biệt ở đây, mỗi sản phẩm là một độc bản bởi các họa tiết in chìm trên đó có nét nghệ thuật độc đáo riêng. Họa sĩ dùng loại giấy đó để tạo nên các sản phẩm như túi xách, đèn lồng, nón, giấy in tranh, giấy viết thư pháp… và nhiều món hàng mỹ nghệ khác.
Trúc Chỉ nối kết các làng nghề
Ước mong về một sự kết hợp giữa trúc chỉ với nhiều làng nghề lại với nhau là điều mà Hải Bằng hướng tới. Nếu trúc chỉ chỉ tạo ra giấy và hoa văn thì chưa đủ. Cần có sự kết hợp với những sản phẩm thủ công của các làng nghề khác, như làng đan lát Bao La sẽ dùng tre tạo ra khung cho bức tranh bằng giấy trúc chỉ, hoặc có thể là in tranh làng Sình lên loại giấy này thay cho giấy dó.
“Trúc chỉ là giấy, nhưng không chỉ là giấy, mà đó là một sự kết hợp”. Họa sĩ Hải Bằng nói rằng mỗi làng nghề có nét độc đáo riêng, làm sao kết hợp hài hòa để cho ra một sản phẩm chung. Thông qua sự kết hợp này sẽ giúp các làng nghề thoát ra khỏi những tư duy cũ kỹ để đến với sự sáng tạo mới.
“Trong mắt tôi, trúc chỉ là một sản phẩm tuyệt vời bởi các lẽ sau: kết hợp giữa trí thức, nghệ sĩ với người lao động, kết hợp được nhiều ngành truyền thống, tạo được công ăn việc làm cho nhiều người. Vừa có nghệ thuật truyền thống vừa có giá trị kinh tế thị trường. Thu hút được nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, có khả năng tạo ra nhiều mặt hàng mới, có thể chuyển giao công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất...” - nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã kết lại như thế.
Theo PHAN THÀNH ( TTCT)
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.