Tôi xúc động rưng rưng khi đọc những trang đầu cuốn sách mới của nhà văn Ngô Thảo với đầu đề “Nghiêng trong bóng chiều” (Nxb. Quân đội nhân dân, 2020), mừng ông tròn tuổi 80. Ông mở đầu: Khi trò chuyện với người già, lớp trẻ sợ nhất là các vị ôn nghèo, kể khổ về thời bao cấp.
Bìa sách Nghiêng trong bóng chiều của nhà văn Ngô Thảo.
Và, Ngô Thảo khẳng định tiếp như đinh đóng cột: “Đó là một tài sản đặc biệt của thế hệ chúng tôi. Và tận lòng sâu mỗi người lại biết ơn những năm tháng nghèo khổ, gian lao đó. Nó giúp chúng tôi hiểu sâu sắc cái hạnh phúc của ngày hôm nay, nếm được hương vị của hạnh phúc, cả trong những gì nhỏ nhất”.
Tôi xúc động do đồng cảm. Chừng 5 năm trước, tôi nhận được tập sách in những bức ảnh đen trắng của John Ramsden chụp về Hà Nội những năm 1980-1982. Tác giả là nghệ sĩ nghiệp dư bởi ông làm Phó Đại sứ Vương quốc Anh tại Hà Nội, nhưng hầu hết các ảnh của ông đều chộp được những khoảnh khắc diệu kỳ, hết sức gợi cảm. Hào hứng, tôi hạ bút viết luôn một bài “đọc... ảnh” khá dài.
Qua tập ảnh của một người nước ngoài, “tôi gặp lại tuổi trung niên của mình, sống lại một thời bao cấp thật lắm nhiêu khê, mà lớp trẻ ngày nay nghe người cao tuổi kể chuyện nếu không phá ra cười thì cũng trố mắt: Sao kỳ cục vậy? Tuy nhiên, đằng sau lắm thứ nhiêu khê ấy hiển hiện cái đẹp của tình người”. Chính tác giả John Ramsden cũng kể lại trong Lời giới thiệu in đầu tập sách: “Vào buổi chiều cuối cùng của cuộc triển lãm, có một phụ nữ lớn tuổi đến xem. Bà mặc áo trắng quần đen truyền thống. Bà chậm rãi xem từ bức ảnh này tới bức ảnh khác, nhìn thật kỹ rồi lại nhìn ra xa như thể chìm vào ký ức của mình. Đến khi triển lãm chính thức đóng cửa bà mới ra về” (*).
*
Trở lại với cuốn “Nghiêng trong bóng chiều” của Ngô Thảo. Đọc Lời nói đầu, tôi tự hỏi: Phải chăng nhà phê bình văn học viết hồi ký về cuộc đời của mình? Đúng. Nhưng vẻn vẹn qua sáu trang sách. Còn lại hơn 200 trang, ông dành cho những vấn đề khác, những con người khác. Tôi nghĩ có thể coi đây là một tập bút ký chân dung văn học qua ký ức của Ngô Thảo về những văn nghệ sĩ ông quen thân. Từ những người lớp trước như Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp đến những đồng nghiệp của ông ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội và những nghệ sĩ tài danh như Dương Ngọc Đức, Nguyễn Đình Nghi thời ông là Phó Tổng Thư ký thường trực Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam.
Sau mấy lời tự sự, Ngô Thảo dành hai bài đầu, có lẽ là những bài tác giả nhiều suy tư nhất, bàn về người lính Cụ Hồ với tư cách là những tác giả và những nhân vật văn học chủ chốt trong bối cảnh đất nước dốc toàn lực giành chiến thắng vì sự nghiệp không có gì quý hơn độc lập, tự do và hạnh phúc của người dân. Nhà văn Nguyễn Công Hoan, cây bút nổi tiếng khi nước ta còn dưới ách áp bức của nước ngoài, người am hiểu xã hội cũ, đã nhấn mạnh sự đổi thay kỳ lạ ấy: “Thời thực dân Pháp đô hộ, vai trò người lính hình như không có trong xã hội Việt Nam... Nếu như người ta có nói đến người lính thì chỉ để chế nhạo hoặc oán ghét mà thôi. Vậy mà bây giờ dân chúng yêu người lính, coi người lính như ruột thịt trong gia đình. Người lính gọi người dân là đồng chí”.
Chỉ mấy tháng sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nhà văn Trần Đăng đã có tác phẩm đầu tiên viết về người lính là bút ký “Một lần tới Thủ đô”. Sống ở chiến khu cùng bộ đội trong ngày gian khó nhất, Nam Cao tác giả tiểu thuyết “Sống mòn”, từng ước mong với lòng cảm phục: “Các anh hãy dạy tôi biết hy sinh, biết chiến đấu, chiến đấu lặng lẽ, chiến đấu không nghĩ gì đến cái tên mình, không nghĩ gì đến cả thân mình nữa...”.
Từ những bước đầu có thể gọi là non sơ ấy, chúng ta dần dà có một đội ngũ nhà văn quân đội hùng hậu với một kho tác phẩm đồ sộ, trong số đó nhiều tác phẩm đã và sẽ tồn tại lâu dài với thời gian. Tuy nhiên, qua đôi mắt Ngô Thảo, “những giá trị đặc biệt quý báu” ấy, hay hình như không còn như trước, “những người có trách nhiệm hiện nay (do đó cần) kịp thời có những chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị tinh thần, tư tưởng của những tác phẩm ra đời trong chiến tranh để tiếp tục cho ra đời những tác phẩm xứng tầm” với thời đại ngày nay.
Ông phân chia theo trình tự thời gian các “Nhà văn Việt Nam qua 30 năm đổi mới” thành mấy thế hệ:
Thế hệ tiền chiến, gồm lớp nhà văn cầm bút trước năm 1945.
Thế hệ chống thực dân Pháp, trong số này nhiều nhà văn mặc áo lính đến những năm 1990 vẫn còn sức sáng tạo qua những đổi mới quyết liệt. Cũng có một số người gặp trắc trở nhưng đến thời đổi mới, nhiều điều được giải tỏa, nhiều tác phẩm và tác giả được đánh giá lại.
Thế hệ các nhà văn thời chống Mỹ, cứu nước là đông đảo và thành công nhất. Tác phẩm của các nhà văn thuộc thế hệ này về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng, trong đó nhân vật chính là người lính, chiếm số lượng chủ yếu trong tác phẩm của họ.
Đóng góp vào văn học và kháng chiến của các nhà văn được vinh danh bằng nhiều Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng nhà nước. Năm nhà văn được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang là Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Chu Cẩm Phong, Sơn Tùng.
Sang thời đổi mới, tình hình có khác trước nhiều. Số người sáng tác văn học đông, khối lượng tác phẩm in ấn nhiều khó kể xiết. Giao lưu và hòa nhập với thế giới qua nhiều loại hình giải trí tràn ngập trong đời sống thường nhật. Dù vậy, nói đến những nhà văn thật sự có đóng góp vào đời sống xã hội và những tìm tòi được xã hội công nhận thật không dễ.
Có những nhà văn xuất hiện sáng chói một thời rồi cứ mờ dần như ngọn đèn hụt bấc. “Để trong những năm tới, văn học nước nhà có một thế hệ, nhà văn và tác phẩm sánh vai với bạn bè quốc tế, một chiến lược phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những người có năng khiếu văn chương cần được sớm cụ thể hóa” - Ngô Thảo kết luận.
*
Phần còn lại chiếm đến 90% số lượng trang in của cuốn sách, như đã nói ở trên, dành cho những phác họa chân dung các nhà văn, nghệ sĩ. Mở đầu với “Nhà văn một thuở” viết về Lê Anh Xuân, nhà thơ đã để lại cho đời “Dáng đứng Việt Nam” cùng một số bạn văn thân thiết của Ngô Thảo - mà tôi cảm thấy xấu hổ nhưng vẫn phải thú nhận rằng nhờ đọc một số bài của anh tôi mới được nghe bút danh họ lần đầu - tác giả đều có những đánh giá sắc sảo, chi tiết dồi dào, đặc biệt là tình cảm ấm nóng đối với bất kỳ ai.
Thật khó nén được bồi hồi xúc động khi Ngô Thảo, qua ký ức của mình kể lại câu chuyện ông cùng nhà viết kịch Xuân Trình và một số anh em ở Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam lao về cầu Phú Lương, Hải Dương nơi vừa xảy ra tai nạn khiến chúng ta mất luôn một Lưu Quang Vũ và một Xuân Quỳnh (cùng cháu bé Lưu Quỳnh Thơ của hai anh chị), đưa về Bệnh viện Hải Dương nhờ nhân viên tắm rửa, thay quần áo cho cả ba người trước khi đưa họ về Hà Nội - nơi hàng trăm nghệ sĩ và bạn bè thân quen đang đứng chờ trước Bệnh viện Việt Đức và cùng gào khóc khi xe về đến. Ngô Thảo cũng là người viết Điếu văn để NSND Dương Ngọc Đức, Tổng Thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu đọc tại lễ tang ngày 31-8-1988.
Ngô Thảo kết thúc: “Không lâu trước khi mất, Lưu Quang Vũ vẫn hoài nghi: Như tia nắng, chúng mình không còn mãi/ Những câu thơ chắc gì ai đọc lại. Hội thảo về Lưu Quang Vũ tổ chức kỷ niệm 30 năm ngày nhà thơ, nhà viết kịch qua đời đã “chúng khẩu đồng từ” gửi tới Lưu trong cõi nhớ câu trả lời đầy thuyết phục”.
Tôi nghĩ không riêng Ngô Thảo, nhiều vị trong số những bằng hữu được nhà văn tưởng niệm, đầy trân trọng và nhớ thương trong tác phẩm “Nghiêng trong bóng chiều” rồi đây sẽ tồn tại bất chấp thời gian trong ký ức của nhiều người.
_______
(*) “Hà Nội một mảnh hồn xưa”, sách Thời gian không đổi sắc màu, Nxb. Văn học 2017.
Tải mã QRCode
Hội Nhà văn Việt Nam được chính thức thành lập từ năm 1957, sau Hội nghị thành lập Hội diễn ra tại trụ sở Câu lạc bộ Đoàn Kết, từ 1/4 đến 4/4/1957. Trong lịch sử văn học Việt Nam thời hiện đại đây là lần đầu tiên có một tổ chức của những người lao động văn học trên toàn quốc.
Tái hiện bức tranh Hà Nội thời bao cấp, rồi từ đó đi tìm cái chất nhân văn thuần nhất trong đời sống con người, “Chuyện ngõ nghèo” là cuốn tiểu thuyết đánh dấu sự trở lại của Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh năm 2017 sau một loạt các tiểu thuyết đình đám như: Mẫu Thượng Ngàn, Hồ Quý Ly, Đội gạo lên chùa…
1. “Thiện, Ác và Smartphone” là tập tiểu luận thứ hai của Đặng Hoàng Giang, sau “Bức xúc không làm ta vô can” - cuốn sách ra mắt năm 2015 và gây được tiếng vang rộng rãi.
Nhân chuyến trở lại Việt Nam truyền giảng phật pháp, ngày 4-4, Tiến sĩ Phật học Khangser Rinpoche đến từ Ấn Độ đã dành nhiều thời gian giao lưu cùng bạn đọc tại TPHCM.
Nguyễn Trí được biết đến vào năm 2013 khi tác phẩm Bãi vàng, đá quý trầm hương (NXB Trẻ) đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. “Sự nghiệp” cầm bút của Nguyễn Trí đến nay mới chỉ 5 năm nhưng ông đã có 9 cuốn sách truyện dài, truyện ngắn ra đời.
Phan Việt vừa có buổi giao lưu về tác phẩm mới nhất, cũng là tác phẩm chị cho là quan trọng nhất trong bộ ba "Bất hạnh là một tài sản" của mình.
Sáng 21-3, tại trụ sở Hội Nhà văn TPHCM, đã diễn ra buổi ra mắt tập tiểu luận, phê bình Nhà văn Lê Văn Thảo trong lòng đồng nghiệp do Hội Nhà văn TP thực hiện (NXB Hội Nhà văn xuất bản).
Nhà sách Trí Việt cho biết sau gần 3 năm thực hiện với 6 lần chỉnh sửa, Hội đồng thẩm định cuốn sách “Gạc Ma - Vòng tròn bất tử” do Ban Tuyên giáo TƯ thành lập đã đồng ý cho phép xuất bản cuốn sách này.
Lịch sử phát triển của hệ thống thể loại báo chí cho thấy Bút ký chính luận giữ một vai trò quan trọng trong việc định hướng xã hội. Nó là thể loại không thể thiếu trong việc giáo dục tư tưởng, chính trị cho quần chúng. Trong một thế giới đương đại, trong một xã hội bùng nổ thông tin với nhiều biến động, Bút ký chính luận càng trở nên quan trọng và cần thiết cho đời sống.
Ngày 4 và 5/1, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam tiến hành họp để bình chọn bảy tác phẩm xuất sắc của làng viết năm qua. Kết quả được công bố hôm 10/1.
Nghiên cứu công phu, tư liệu chính xác, văn phong mạch lạc và giàu cảm xúc, tác phẩm Văn chương phương Nam - một vài bổ khuyết của hai tác giả Võ Văn Nhơn và Nguyễn Thị Phương Thúy không chỉ khiêm tốn “bổ khuyết” mà là công trình giàu tâm huyết với những khám phá ngạc nhiên mới lạ rất hữu ích.
Nói về cuốn sách phê bình văn học Giăng lưới bắt chim của mình, Nguyễn Huy Thiệp hay nhắc lại điều thoạt tiên tưởng rằng ông "lấp lửng": tôi viết có đúng có sai, có chính xác có nhầm lẫn, viết khi mình "đang còn nửa mê nửa tỉnh".
Có một thực tế là rất nhiều người song hành giữa việc viết văn và viết báo. Xét về góc độ thể loại thì văn học và báo chí là hai thể loại khác nhau nhưng giữa chúng lại có sự tương đồng với nhau về nhiều khía cạnh. Vì thế việc song hành giữa văn chương và báo chí là điểu dễ hiểu.
hông biết đã đến đáy chưa thảm trạng tác giả (khoa học và nghệ thuật) bị xâm hại trắng trợn về bản quyền như hai công trình về dân tộc học của GS.Từ Chi, và về sử học của GS.Trần Quốc Vượng. Hai tác giả có tên tuổi đã quá cố, và những nhà xuất bản gây nên sự cố, làm méo mó, biến dạng đứa con tinh thần của họ lại là những nhà xuất bản có những cái tên rất sang, là cơ quan ngôn luận của những cái hội nghề nghiệp lẽ ra phải rất nghiêm chỉnh, đứng đắn trước công luận. Các cơ quan truyền thông đã lên tiếng. Không biết gia đình, thân nhân của hai tác giả có ý kiến gì không? Ta đã có lệ luật gì về những vụ việc như vậy, để đưa ra tòa án dư luận?
Chiều 7.10, Hội đồng giám khảo giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội gồm các nhà văn, nhà thơ: Bằng Việt, Nguyễn Việt Chiến, Phạm Xuân Nguyên, Bùi Việt Mỹ, Nguyễn Sĩ Đại, Lê Minh Khuê, Đoàn Tử Huyến, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Thành Phong đã họp phiên chung khảo.
Ngày 4/10, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến dự và phát biểu tại Hội thảo khoa học toàn quốc “Văn học, nghệ thuật với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam” do Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tác phẩm văn xuôi, trong đó có truyện ngắn xuất hiện trên báo chí đã trở thành món ăn tinh thần nhiều năm nay cho độc giả. Tuy nhiên, dường như món ăn tinh thần này đang ngày càng có xu hướng bị co lại, bị thay thế.
Sáng tạo văn học nghệ thuật về đề tài chiến tranh, cách mạng thời gian qua đã có nhiều đổi mới và được giới chuyên môn ghi nhận.
Viết về cuộc Cách mạng mùa Thu 70 năm về trước, nhà văn Nguyễn Đình Thi - người can dự, đồng thời là chứng nhân của cuộc cách mạng vĩ đại đó (Năm1945 ông dự Hội nghị Quốc dân Tân Trào và được cử vào Ủy ban Giải phóng dân tộc; sau đó được bầu làm Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I là Ủy viên thường trực) đã ví nó giống như “một cuộc lột vỏ”, “rũ bùn” đứng lên của con người, của dân tộc Việt Nam: Súng nổ rung trời giận dữ/ Người lên như nước vỡ bờ/ Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa (Đất nước).
Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới về văn hóa văn nghệ được đề ra trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12/1986), văn học Việt Nam đã có nhiều bước chuyển sâu sắc, đạt nhiều thành tựu đáng kể trên tất cả các thể loại, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền tảng văn hóa, tinh thần của con người và xã hội.