Trò chuyện về "Trăm hoa đua nở" với giáo sư Trần Đình Sử

09:27 19/03/2008
(Trò chuyện trên Sông Hương)

Bìa một cuốn sách của GS Trần Đình Sử


 Nhóm sinh viên:
Chúng em mới lớn lên, nghe các bậc cha chú nhắc tới cụm từ "Trăm hoa đua nở". Vậy "Trăm hoa đua nở là gì?".

Đáp: - "Trăm hoa đua nở" là cụm từ dịch từ thành ngữ Trung Quốc "bách hoa tề phóng", nhằm hình dung cảnh tượng hàng trăm loại hoa cùng nở rộ, muôn hồng nghìn tía thắm tươi, các hoa đua hương, đua sắc, phong phú đa dạng của một mùa xuân mưa thuận gió hòa. Trong Tùy Đường diễn nghĩa có câu: "Bệ hạ muốn không vắng vẻ thì có khó gì! Chúng thiếp đêm nay sẽ lòng thành cầu nguyện thiên cung, để sáng mai có được cảnh "trăm hoa đua nở".

Trong ngôn ngữ hàng ngày cụm từ trên thường được dùng để chỉ cảnh tượng phồn vinh trong đời sống văn nghệ và xã hội. Với ý nghĩa này nó thường đi đôi với thành ngữ "trăm nhà đua tiếng" ("bách gia tranh minh") chỉ cảnh tượng phồn vinh, các trường phái văn học nghệ thuật đua nhau xuất hiện, như cảnh tượng thời Tiên Tần, các phái Nho, Pháp, Đạo, Mặc, Danh, Âm dương, Tung hoành, Tạp gia, Nông gia v.v... đều xuất hiện, viết sách, du thuyết nhộn nhịp một thời.

 Nhóm sinh viên: Diễn biến của "Trăm hoa đua nở" như thế nào?

Đáp: - Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng trở thành phương châm chỉ đạo văn nghệ của Đảng và nhà nước Trung Quốc từ năm 1956. Sau khi hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và tư bản công thương nghiệp, Trung Quốc muốn xúc tiến xây dựng cuộc sống văn hóa phồn vinh. Năm ấy cũng là năm Đảng cộng sản Liên Xô phê phán chủ nghĩa giáo điều  Xtalin và tệ sùng bái cá nhân. Đảng cộng sản Trung Quốc khẳng định công lao Xtalin, nhưng cũng đề ra nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều. Họ lấy khẩu hiệu trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng làm phương châm để thúc đẩy sáng tạo, khắc phục giáo điều. Về mặt triết học, chủ tịch Mao Trạch Đông giải thích như sau: "Về phép biện chứng Lênin đã từng nói": Có thể xem phép biện chứng như là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế thì có thể nắm chắc được hạt nhân của phép biện chứng. Nhưng  điều đó đòi hỏi phải giải thích và phát triển" Công việc của chúng ta là giải thích và phát triển... Lênin còn nói: "Sự thống nhất của các mặt đối lập (thống nhất như là nhất trí, đồng nhất, quân bình) là có điều kiện, nhất thời, tạm thời, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ nhau là tuyệt đối, cũng giống như phát triển, vận động là tuyệt đối vậy . "Xuất phát từ quan điểm đó mà chúng ta đề ra phương châm trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng". (Tuyển tập Mao Trạch Đông, Tập 5). Ngày 2 tháng 5 năm 1956 Chủ tịch Mao nêu ra phương châm trên tại Hội nghị quốc vụ tối cao. Ngày 26 tháng 5 Bộ trưởng tuyên truyền của Đảng là Lục Định Nhất phát biểu bài nói chuyện "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" trước đại biểu các giới học thuật, văn nghệ toàn Trung quốc. Một làn gió xuân giải phóng tư tưởng lan tỏa khắp nước. Cũng theo cánh giải thích của Mao Trạch Đông thì: "Các hình thức và phong cách khác nhau trong nghệ thuật đều có thể tự do phát triển, các trường phái khác nhau trong khoa học được tự do tranh luận... Các vấn đề đúng sai trong văn nghệ và khoa học đều nên thông qua thảo luận tự do trong giới văn nghệ và giới khoa học mà giải quyết, thông qua thực tiễn văn nghệ và khoa học mà giải quyết, chứ không nên giải quyết bằng các phương pháp giản đơn". (Tuyển tập Mao Trạch Đông, tập 5).

Phương châm này đã có tác động rất lớn trong việc giải phương tư tưởng, thúc đẩy sáng tác. Các nhà văn có ý thức khắc phục giáo điều, liên hệ thực tế, đột phá một số vùng cấm trong lý luận và sáng tác. Chẳng hạn khẳng định văn học là nhân học, nêu lại vấn đề nhân tính, nhân tình, vấn đề biểu hiện chân thực, phê phán tệ quan liêu, thoát li quần chúng v.v...

 Nhóm sinh viên: Nên hiểu "Trăm hoa đua nở" như thế nào cho đúng đắn?

Đáp: - Phương châm "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" của Trung Quốc trong quá trình thực hiện gặp hai trở ngại. Một là, một số cán bộ có xu hướng "tả" khuynh, giáo điều lấy làm khó chịu, cho rằng "trăm hoa đua nở" làm cho bộ mặt thời đại mơ hồ. Họ thổi phồng một số hiện tượng không thích đáng, kích động Đảng rút lại phương châm trên. Hai là, một số người mang tư tưởng hữu khuynh cũng gây nhiễu. Một số tác phẩm xấu, tình cảm thiếu lành mạnh cũng ra đời. Do tình cảm chán ghét chủ nghĩa giáo điều thường là mãnh liệt, cho nên nhiều chỗ phê phán tràn lan, thiếu công bằng, gây rối loạn, làm dấy lên phong trào chống phái hữu sau đó, làm tổn thương cục diện phát triển của văn nghệ. Tính ra phong trào "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" thực hiện sôi  nổi được gần hai năm. Mặc dù phong trào trăm hoa đua nở bị nhấn chìm trong phong trào "Đấu tranh chống phái hữu", một cuộc đấu tranh chủ yếu dựa trên các khuyết điểm bị thổi phồng, nhưng phương châm trăm hoa đua nở vẫn được khẳng định.

Năm 1979, Đặng Tiểu Bình vẫn khẳng định "trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" là một phương châm mác xít (Đặng Tiểu Bình văn tuyển, bản năm 1983).

 Nhóm sinh viên: Văn học Việt có ảnh hưởng gì của "Trăm hoa đua nở" không?

Đáp: - "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" là phương châm của văn học Trung Quốc. Đảng ta không đề xướng phương châm đó, mà đề xướng phương châm khác, chẳng hạn, "Tự do sáng tác, mở rộng phê bình". Tuy nhiên khẩu hiệu của văn nghệ Trung Quốc đã dội vào ta, gây nên những cuộc thảo luận trong giới văn nghệ sĩ. Đảng ta không ai phủ nhận chính sách "trăm hoa đua nở" mà chỉ bình luận về cách hiểu nó mà thôi. Trong một bản báo cáo năm 1957 đồng chí Trường Chinh nói khi đề cập tới cuộc thảo luận ấy: "Những ý kiến đúng cho rằng tinh thần của chính sách "trăm hoa đua nở" là tự do sáng tác..."

"Trăm hoa đua nở" là một phương châm tốt đẹp có căn cứ trong triết học Mác, Lênin. Nhưng phương châm đó có thể bị lợi dụng để biểu hiện khuynh hướng tự do vô chính phủ. Rồi từ thực tế bị lợi dụng ấy mà có nơi có lúc lại xem đó là một phương châm xấu, có hại, cảnh giác với nó. Cả hai khuynh hướng ấy đều không đúng. Thực chất của phương châm đó, như đồng chí Trường Chinh chỉ ra là tự do sáng tác. Tự do tìm tòi chủ đề phong cách, hình thức nghệ thuật, tự do phát triển trường phái, tự do tranh luận để xử lý đúng sai. Còn nếu hoa độc cũng nở thì đó là việc xử lí của pháp luật và công luận. Mà pháp luật và công luận xử lí thỏa đáng hay không lại là một việc khác nữa.

Hiểu như vậy ta thấy tinh thần "trăm hoa đua nở", tức là "tự do sáng tác" phải là tinh thần căn bản của văn nghệ ta dưới lá cờ vì Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội. Nghệ sĩ phải tự do sáng tác mới làm giàu cho văn nghệ dân tộc, mới mở rộng bản thân quan niệm về văn nghệ. So với văn nghệ những năm 50, 60, 70, văn nghệ ta nay đã khác biệt, phong phú lên nhiều. Chỉ xin nêu một ví dụ, năm 1957, trong bản báo cáo nói trên, khi nêu vấn đề tự do tìm tòi trong văn nghệ, đồng chí Trường Chinh dặn dò: "Nhưng đừng vin vào khẩu hiệu "tìm cái mới" mà vẽ người không ra người, tạo ra những hình thù quái gở để nát người ta, thơ không ra thơ, làm chối tai bạn đọc". Thực tiễn sáng tác ngày nay đã khác so với quan niệm đó. Hội họa trừu tượng đã được thừa nhận phổ biến, và những sáng tác thơ lạ lẫm cũng đang được quen dần. Có tác phẩm thơ "như thơ dịch" cũng được giải thưởng Hội Nhà văn. Do thực tế đó ta có thể nghĩ rằng, trong tình hình đất nước đổi mới hôm nay, pháp luật ngày càng hoàn bị, dân chủ càng được phát huy thì sáng tác phải được tự do mới tự khẳng định được chính mình. Hiểu trăm hoa đua nở là tự do sáng tác thì trăm hoa đua nở vẫn là một cách nói hay.

Ngày đầu năm, 1- 1999
T.Đ.S
(121/03-99)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP1. Khi chạm vào cơn lốc và những điệu rock thơ mang tên Vi Thuỳ Linh, bất chợt tôi nhớ đến câu thơ dịu dàng và sâu thẳm của Paul Eluard: Trái đất màu xanh như một quả cam. Với P. Eluard, tình yêu là một thế giới tinh khiết, rạng rỡ và ngọt ngào: Đến mức tưởng em khỏa thân trước mặt. Còn Vi Thuỳ Linh, nếu ai hỏi thế giới màu gì, tôi đồ rằng nàng Vi sẽ trả lời tắp lự: Màu yêu.

  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Xô Viết là một bản anh hùng ca bất tử của dân tộc Nga trong thế kỷ XX (1941-1945). Nó mãi mãi đi vào lịch sử vẻ vang và oanh liệt, không chỉ của đất nước Xô Viết mà còn cả với nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới, khẳng định bản chất tốt đẹp và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con ngưòi Xô Viết.

  • LƯƠNG THỰC THULTS: Lương Thực Thu, sinh năm 1903 tại Bắc Kinh, thời nhỏ học ở trường Thanh Hoa. Năm 1923 du học tại Mỹ. Năm 1926 về nước, lần lượt dạy học ở trường Đại học Đông Nam, Đại học Thanh Đảo, Đại học Bắc Kinh, và Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Năm 1949 sang ở Đài Loan, chủ yếu giảng dạy ở Đại học Sư phạm Đài Loan. Năm 1966 nghỉ hưu, năm 1987 ốm chết tại Đài Bắc.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG   (Đọc “Lý luận và văn học”, NXB Trẻ 2005 của GS.TS Lê Ngọc Trà)Ra mắt bạn đọc năm 1990, năm 1991, cuốn sách “Lý luận và văn học” của Giáo sư - Tiến sĩ Lê Ngọc Trà được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. 15 năm qua, những tưởng một số vấn đề về lý luận văn học mà cuốn sách đề cập đã không còn mới, đã “lạc hậu” so với tiến trình phát triển của văn học. Nhưng không, khi đọc lại cuốn sách được nhà xuất bản Trẻ tái bản lần thứ nhất năm 2005, những vấn đề mà GS.TS Lê Ngọc Trà đề cập vẫn còn nóng hổi và giữ nguyên tính thời sự của nó.

  • TRẦN ĐÌNH SỬLí luận văn học Việt Nam thế kỉ XX đã trải qua ba lần thay đổi hệ hình tư duy. Lần thứ nhất diễn ra vào những năm 1932 đến 1945 với việc hình thành quan niệm văn học biểu hiện con người, xã hội, lấy thẩm mĩ làm nguyên tắc, chống lại quan niệm văn học thời trung đại lấy tải đạo, giáo huấn, học thuật làm chính tông, mở ra một thời đại mới trong văn học dân tộc.

  • HỒ THẾ HÀĐà Linh - Cây bút truyện ngắn quen thuộc của bạn đọc cả nước, đặc biệt, của Đà Nẵng với các tác phẩm Giấc mơ của dòng sông (1998), Nàng Kim Chi sáu ngón (1992),Truyện của Người (1992) và gần đây nhất là Vĩnh biệt cây Vông Đồng (1997). Bên cạnh ấy, Đà Linh còn viết biên khảo văn hoá, địa chí và biên dịch.

  • NGÔ MINHBữa nay, người làm thơ đông không nhớ hết. Cả nước ta mỗi năm có tới gần ngàn tập thơ được xuất bản. Mỗi ngày trên hàng trăm tờ báo Trung ương, địa phương đều có in thơ. Nhưng, tôi đọc thấy đa phần thơ ta cứ na ná giống nhau, vần vè dễ dãi, rậm lời mà thiếu ý.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ     Ba công trình dày dặn nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của cùng một tác giả, cùng được xuất bản trong năm 2005 kể cũng đáng gọi là "hiện tượng" trong ngành xuất bản. Ba công trình đó là "Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa" (NXB Văn hóa Thông tin, 315 trang), "Hồ Chí Minh - một nhân cách lớn" (NXB Văn hóa thông tin, 510 trang) và "Đạo Khổng trong văn Bác Hồ" (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).

  • PHAN CÔNG TUYÊNLTS: Cuộc thi tìm hiểu “60 năm Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do Ban Tư tưởng - Văn hoá trung ương, website Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát động trong cả nước. Tại Thừa Thiên Huế, cuộc thi được phát động từ ngày 7/5/2005 đến ngày 10/7/2005; Ban tổ chức cuộc thi đã nhận được 160.840 bài dự thi của rất nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều thành phần trong xã hội tham gia. Điều này chứng tỏ cuộc thi mang nhiều sức hấp dẫn. Sông Hương xin trích đăng báo cáo tổng kết cuộc thi của đồng chí Phan Công Tuyên, UVTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Trưởng Ban tổ chức cuộc thi tại Thừa Thiên Huế.

  • TRẦN THỊ THANHTừ Hán Việt là một lớp từ khá quan trọng trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Việt Nam. Với con số 60% - 70% từ Hán Việt có trong tiếng Việt, nó đã và đang đặt ra một nhiệm vụ cấp thiết làm thế nào để cho mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên viết và nói đúng tiếng Việt trong đó có từ Hán Việt.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN LTS: Bài dưới đây là tham luận của nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đọc trong Hội nghị Lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương, tháng 12-2008. Tác giả có những nhận định khá mới mẻ, những đề xuất khá hợp lý và khá mạnh dạn, tất nhiên bài viết sẽ không tránh phần chủ quan trong góc nhìn và quan điểm riêng của tác giả. Chúng tôi đăng tải gần như nguyên văn và rất mong nhận được những ý kiến phản hồi, trao đổi, thạm chí tranh luận của bạn đọc để rộng đường dư luận.S.H

  • MAI HOÀNGCẩm cù không nổi tiếng bằng một số truyện ngắn khác của Y Ban như Thư gửi mẹ Âu cơ, I am đàn bà, Đàn bà xấu thì không có quà… Không có những vấn đề hot như sex, nạo phá thai, ngoại tình… tóm lại là những sự vụ liên quan đến “chị em nhà Eva”.

  • INRASARATham luận tại Hội thảo “Nhà văn với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”, Hội Nhà văn Việt Nam, Đồng Nai, 8-1-2009.

  • HOÀNG NGỌC HIẾNWallace Stevens ví hành trình của những nghệ sĩ Tiên phong (hoặc Tiền vệ) của chủ nghĩa hiện đại những thập kỷ đầu thế kỷ XX như những cuộc phiêu lưu của những nhà thám hiểm núi lửa, họ đã đến núi lửa, “đã gửi về tấm bưu ảnh cuối cùng” và lúc này không có ước vọng gì hơn là trở về nhà.

  • TRẦN HOÀI ANH1. Nhà thơ - Người đọc: Niềm khắc khoải tri âmKhi nói về mối quan hệ giữa nhà thơ và độc giả, Edward Hirsch đã viết: “Nhiều nhà thơ đã nắm lấy ý Kinh Thánh Tân Ước “Khởi thuỷ là lời”, nhưng tôi thích ý kiến của Martin Buber trong “Tôi và bạn” hơn rằng: “Khởi thuỷ là những mối quan hệ” (1).

  • VIỆT HÙNGCông tác lý luận phê bình văn học nghệ thuật đang là mối quan tâm lo lắng của giới chuyên môn, cũng như của đại đa số công chúng, những người yêu văn học nghệ thuật. Tình trạng phê bình chưa theo kịp sáng tạo, chưa gây được kích thích cho sáng tạo vẫn còn là phổ biến; thậm chí nhiều khi hoặc làm nhụt ý chí của người sáng tạo, hoặc đề cao thái quá những tác phẩm nghệ thuật rất ư bình thường, gây sự hiểu nhầm cho công chúng.

  • HẢI TRUNGVũ Duy Thanh (1811 - 1863) quê ở xã Kim Bồng, huyện An Khánh, tỉnh Ninh Bình là bảng nhãn đỗ đầu trong khoa thi Chế khoa Bác học Hoành tài năm Tự Đức thứ tư (1851). Người đương thời thường gọi ông là Bảng Bồng, hay là Trạng Bồng.

  • NGUYỄN SƠNTrên tuần báo Người Hà Nội số 35, ra ngày 01-9-2001, bạn viết Lê Quý Kỳ tỏ ý khiêm nhường khi lạm bàn một vấn đề lý luận cực khó Thử bàn về cái tôi trong văn học. Anh mới chỉ "thử bàn" thôi chứ chưa bàn thật, thảo nào!... Sau khi suy đi tính lại, anh chỉnh lý tí tẹo tiêu đề bài báo thành Bàn về "cái tôi"trong văn học và thêm phần "lạc khoản": Vinh 12-2001, rồi chuyển in trên Tạp chí Văn (Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh), số 4 (Bộ mới, tháng 3-4)-2002. Trong bài trao đổi này chúng tôi trích dẫn căn cứ theo nguyên văn bài báo đã in lần đầu (và về cơ bản không khác với khi đưa in lại).

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNGCùng với sự phát triển của một thế kỉ văn học dân tộc, lí luận văn học ở Việt Nam cũng đã có những thành tựu, khẳng định sự trưởng thành của tư duy lí luận văn học hiện đại.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNTrong vài ba thập niên đầu thế kỷ XX, trung xu thế tìm đường hiện đại hóa văn xuôi chữ quốc ngữ, các thể tài tiểu thuyết, phóng sự được một số nhà văn dụng bút thể nghiệm.