Khi Bống - tên cúng cơm của Hồng Nhung - còn quá bé bỏng (sinh năm 1970 ở Hà Nội, dòng họ nội, ngoại không một ai theo nghiệp hát. Duy từ ông nội Lê Văn Ngoạn tỏa một ảnh hưởng mỹ thuật, bởi ông là sinh viên khóa sớm trường Mỹ thuật Đông Dương - cùng thời với mấy cây cọ danh tiếng: Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Văn Cẩn... và ông là bạn thân nhất của Hoàng Lập Ngôn - họa sĩ vẽ chân dung cự phách lối "tinh tướng họa" với lại Nguyễn Đình Hàm - người họa sĩ tiền phong đã trao tặng chèo một dung dáng mỹ thuật mới, khi chèo giã từ vĩnh viễn chiếc chiếu sân đình trống trơn ra tỉnh, bước hẳn vào sân khấu hộp) - thì chính vào thời điểm năm 1970, Trịnh Công Sơn đã huy hoàng lên ngôi thần tượng âm nhạc ở Miền Nam, và rực rỡ qua sức chiếu tỏa đặc biệt của giọng hát Khánh Ly. Một giọng hát nghiêng hẳn về ánh sáng trầm antô - hơi khê khàn chút xíu, đủ để tạo một váng vất Liêu Trai chập chờn mê hoặc người nghe không hiểu sao chỉ riêng có ở Khánh Ly hát tình khúc Trịnh Công Sơn.
Trong muôn giọng ca sĩ đã và có thể hát Trịnh Công Sơn, duy nhất một mình Khánh Ly đi hết đường biên vùng âm nhạc rộng lớn của Trịnh Công Sơn - vừa chứng tỏ một quyền năng tối hậu, lại vừa biểu lộ sự tự nguyện đóng đinh, câu rút mình trên cây thập giá Trịnh Công Sơn, không nhận chịu một cứu rỗi nào khác - ngoài sự hiện hữu âm thanh độc trọi của mình với chỉ một nhạc sĩ.
Giống như cách lưu lại kỷ niệm đẹp nhất đã qua bằng những tấm hình dán ở album, người ta tự nhiên không ưng một khuôn mặt ca sĩ nào khác ngoài khuôn mặt khả ái của Khánh Ly. Tôi cũng là một kẻ thủ cựu trong số những người trọng thị những giá trị đã vang bóng một thời, không chịu đổi thói quen cố hữu về một vùng giai điệu âm nhạc không thể nào quên ấy, trong đó gắn chặt một trùng phùng: nhạc phẩm Trịnh Công Sơn và chất giọng liêu trai quyến rũ của Khánh Ly.
Những thói quen ấy đã chớm những vết rạn đầu trong một cuối chiều rớt bão, không khí Sài Gòn se nhẹ dịu dàng sau mưa tháng 10 âm lịch, nghe cô ca sĩ bé bỏng Hồng Nhung hát gọi nắng ở quán Nhạc Sĩ và thấy Trịnh Công Sơn ngồi đợi nắng về qua giọng hát Hồng Nhung, với đôi mắt mờ lệ sau cặp kính trắng, trong chỗ thường quen của anh, bên trái sân khấu, quây quần bên Sơn những khuôn mặt và ly rượu bạn bè: Thanh Tùng, Tôn Thất Lập,Từ Huy, Trần Long Ẩn và... hai nhạc sĩ ưa xê dịch: Hồng Đăng, Đàm Linh mới từ Hà Nội bay vào...
Chính Trịnh Công Sơn chứ không phải ai khác - là người đầu tiên phát hiện ra khuôn mặt âm nhạc của mình có thể được phản chiếu đầy đặn một lần khác qua giọng hát Hồng Nhung - như qua một mặt hồ trong.
Một cảm giác lạ lùng chợt đến, Sơn như thấy mình xanh trở lại, lòng mềm dịu hẳn trước giọng hát chín sớm này, cũng có lẽ vì phải chín quá sớm, vượt trước thời gian, mà nó vừa mong manh, vừa mạnh mẽ, vừa dại khờ, vừa khôn ngoan, vừa khỏe khoắn, cứng cỏi lại vừa tinh tế trầm ngâm, trong một phong thái biểu diễn cũng vừa trẻ trung hồn nhiên vừa già dặn kỹ thuật âm thanh sân khấu. Trịnh Công Sơn chủ ý viết ca khúc Bống Bồng ơi, riêng tặng cho tính cách âm nhạc và chất giọng riêng của Hồng Nhung, như một lời ru êm đềm của tình mẹ và như một thảng thốt ngạc nhiên trước sự trẻ lại của chính mình trong giai điệu âu yếm thiết tha, láy đi láy lại, vẫy gọi một tia nắng: “Nắng vàng, Em đi đâu mà vội? Nắng vàng, nắng vàng ơi! Em đi đâu mà vội! Lay nhẹ đóa Hồng Nhung, gió vàng gió vàng bay...”
Dường như có một trùng phùng kỳ lạ đã xảy ra giữa Trịnh Công Sơn nhạc sĩ với Hồng Nhung ca sĩ, như một tái sinh lần nữa - một lần khác hẳn cuộc hạnh ngộ với Khánh Ly mà Trịnh Công Sơn đã tưởng không thể hồi âm.
Trong khi nghe những ca khúc mới có thể là dành riêng giọng hát Hồng Nhung, rất hạp với tính cách âm nhạc của Hồng Nhung: Bống bồng ơi, Đường xa vạn dặm, Còn ai có ai, Tôi ơi đừng tuyệt vọng, Em hãy ngủ đi... Người ta nhận ra một nguồn cảm mới trào dâng trong sóng nhạc Trịnh Công Sơn - không vỗ về những buồn đau quá khứ, mà rộn ràng niềm an nhiên với hiện tại, không chỉ ngoảnh mặt đau đáu vào nội tâm, mà đã hướng ra ngoài đời sống - những phẩm chất âm nhạc tất yếu của một tài năng nhạc sĩ, sau cuộc nghiệm sinh mọi cung bậc vui buồn sướng khổ ở đời, đang thanh thản trở về nơi bản thể âm nhạc của chính mình, với cái nhìn thơ trẻ.
Chính lúc đó, dường như Hồng Nhung đã đủ chín và đã lớn để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ phải đến này. Một xanh một chín, một sớm một muộn đã kết hợp lại trong một cuộc tri ngộ âm nhạc hồn nhiên - vượt qua cả sự cách trở về thế hệ và sự trải nghiệm cuộc đời...
Những tình khúc đẹp nhất của một nghệ sĩ tài hoa nhất, cũng vẫn chỉ có đời sống câm lặng của ca từ trên dòng nhạc - hệt như cô Hằng Nga ngủ giấc ngàn năm trong rừng, chưa đến lúc vị hoàng tử đẹp đến đánh thức. Cô công chúa Hằng Nga cần một cuộc hạnh ngộ để lay tỉnh. Tình khúc cần phải được sống một thân phận âm nhạc của nhiều giọng hát, và đặc biệt, qua một vài giọng hát của riêng nó.
Ta thấy giọng hát vừa đam mê, bạo liệt vừa trong sáng, đẫm tình với những xử lý âm thanh điệu nghệ của ca sĩ Hồng Nhung đã "lạ hóa" những giai điệu buồn buồn quen lối đi về trong vùng miền âm nhạc riêng của Trịnh Công Sơn, và cả tính cách âm nhạc tự do phóng khoáng, bay bổng, không bị gò trong khuôn khổ kỹ thuật cứng nhắc của Hồng Nhung, đã lôi kéo những ưu tư, trễ nải của những nỗi niềm âm tính: “như loài sâu ngủ quên trong tóc chiều”, sang một khu vườn cây xanh cỏ lạ, tươi tốt dưới trận mưa hồng của những niềm vui dương tính.
Chắc chắn, ta có thể thấy Trịnh Công Sơn thật sự trẻ lại trong một tinh thần âm nhạc mới qua giọng hát mang vẻ đẹp duy lý, cứng cỏi và mãnh liệt của Hồng Nhung, cùng một chất giọng riêng Hà Nội sâu lắng, tình cảm và phong nhã chỉ có ở một giọng hát đã được sinh ra và lớn lên trong vòng tay đầy tình thương mến của Hà Nội. Và thêm một định cư Sài Gòn nắng gió, giọng hát này đã chín muồi, và ta có thể nghe, dù không nhiều, có khi chỉ một ca khúc Tôi ơi, đừng tuyệt vọng, trong băng nhạc Bống Bồng ơi (xuất bản 11- 1993 - Trung tâm băng nhạc trẻ TP.Hồ Chí Minh) hoặc trong quán Nhạc Sĩ vào một đêm Sài Gòn đẹp trời, gió hây hây như chớm thu Hà Nội, thì ta sẽ thấy, sẽ cảm được đầy đủ cái tinh thần của hy vọng, hoặc ít nhất, ta biết rằng, tuyệt vọng lại chính là cái tên gọi khác đi của hy vọng. Bống bé bỏng đã làm được điều đó cho Trịnh Công Sơn, và hình như tuyệt vọng lần đầu tiên đã được chuyển hóa hồn nhiên thành hy vọng sáng tươi.
Trong trường hợp này Trịnh Công Sơn là người hạnh phúc nhất - bởi những ca khúc của anh, thân phận âm nhạc của anh, đã được tái sinh và phát sáng ở một thế hệ khác.
12-1993
N.T.M.T
(TCSH61/03-1994)
Tải mã QRCode
Tháng Bảy âm. Tháng cô hồn. Mồng một âm đã rả rích mưa báo hiệu cho một tháng âm u của Tiết Ngâu. Sắp rằm, tâm trí chợt như hửng ấm khi tiếp được cái giấy Hà Nội mời dự lễ khánh thành nhà bia và Khu tưởng niệm đồng bào ta bị chết đói năm 1945. Chợt nhớ, công việc này đã manh nha từ hơn mười năm trước…
LTS: Nguyễn Hưu, bút danh Thanh Minh, sinh năm 1914, quê huyện Can Lộc, hoạt động báo chí và văn học từ những năm 1934 - 1935. Ông là nhà báo, nhà thơ, dịch giả Hán - Nôm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà quản lý văn hóa văn nghệ có nhiều thành tựu và cống hiến. Ông là Hội trưởng Hội văn nghệ Hà Tĩnh đầu tiên. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông [21.8], VHNA sẽ lần lượt đăng một số bài viết về ông.
Vùng quê nghèo chúng tôi nằm sát chân núi Hồng Lĩnh có Hàm Anh (nay là xóm 1 xã Tân Lộc) từng sản sinh ra một Tiến sĩ xuất thân Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) (1499) đời Lê Hiến tông tên là Phan Đình Tá (1468-?)
HỒ DZẾNH
Hồi ký
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
NGUYỄN DU
LÝ HOÀI THU
Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.
PHẠM THỊ CÚC
(Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)
Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.
CAO THỊ QUẾ HƯƠNG
Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.
THÁI KIM LAN
Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.
Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?
Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.
Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.
DƯƠNG PHƯỚC THU
LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.
NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN
(Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)
BÙI KIM CHI
Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…
LÊ MINH
Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)
… Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.
NGUYỄN KHOA BỘI LAN
Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.
(SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.
NGUYỄN CƯƠNG
Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.