Triết lý nhân sinh qua chùm thơ của Trương Đăng Dung đăng trên Tạp chí Sông Hương

10:41 27/11/2008
TRẦN THANH HÀTrong giới học thuật, Trương Đăng Dung được biết đến như một người làm lý luận thuần tuý. Bằng lao động âm thầm, cần mẫn Trương Đăng Dung đã đóng góp cho nền lý luận văn học hiện đại Việt đổi mới và bắt kịp nền lý luận văn học trên thế giới.

Đọc chùm thơ của anh mà Tạp chí Sông Hương đăng trên các số 11/2002; 6/2004... chúng ta bất ngờ khi gặp một khía cạnh khác của một nhà lý luận. Đó là ta bắt gặp một tâm hồn mẫn cảm, một trái tim nhân hậu, một tấm lòng biết chia sẻ và giàu tình yêu thương. Dù số lượng bài không nhiều, nhưng những vần thơ của anh đã gợi cho người đọc bao suy nghĩ về kiếp nhân sinh. Không phải ngẫu nhiên mà trong sáu bài thơ, điệp khúc “Kiếp người ngắn ngủi” cứ vang lên như một nỗi ám ảnh khôn nguôi.
Thân phận con người - niềm trăn trở của bao thế hệ thi nhân, nhưng tác giả Trương Đăng Dung lại có một cái nhìn khác. Đó không hẳn chỉ là nỗi xót xa cho kiếp đời ngắn ngủi, cho cuộc đời “không số phận”. Dẫu biết rằng đời người chỉ là một sátna thì đớn đau, xót xa cũng phải lẽ. Nhà thơ đặt ra một vấn đề cao hơn nỗi ngậm ngùi về thân phận là trong cuộc sống ngắn ngủi ấy, con người phải sống như thế nào? Câu hỏi cuối cùng trong bài thơ “Có một thời” viết: “Có một thời ta đã sống thật sao?” như một nhát cứa vào lòng. Người đọc tự tìm câu trả lời trong từng câu chữ khi nhà thơ đặt ra những nghịch lý. Từng vế câu thơ đối nhau chan chát:
                         - Đến bữa cơm mẹ ngồi đợi vét nồi
                            Răng mẹ rụng lúc nào không biết nữa
                         - Trẻ con sợ búp bê và không thích sữa
- Anh đi bên tôi mà sao cách trở.
- Nghe hát dân ca lòng ta mệt mỏi
- Em rực rỡ mà hồn tôi sa mạc...

Điệp khúc “Có một thời” vang lên suốt bài thơ khắc khoải như nhát dao xoáy vào tâm linh. Nỗi đau cứ dồn mãi đến tận cùng của cảm giác trước sự tê liệt của lòng người, của hồn người. Không, không còn hình bóng của con người mà chỉ còn gỗ đá, bởi lẽ khi con người không biết đến tình yêu thương, không biết trân trọng cái đẹp, không còn biết sẻ chia thì đâu gọi là sống nữa. Đó không chỉ là câu hỏi dành riêng cho một thời mà cho mọi thời, cho những con người đánh mất mình, đánh mất tình người. Con người rơi vào bi kịch vì chính sự vô tâm của mình. Đằng sau những nghịch lý là một niềm tiếc nuối của tác giả. Tiếc nuối vì đời người ngắn ngủi đến là vậy mà ta không biết nâng niu quý trọng nó. Bởi vì, tự thân mỗi con người sống trong đời sống này không thoát khỏi đau khổ. Đọc chùm thơ của anh, ta cảm nhận nỗi đau làm người thấm thía và sâu sắc. Mỗi bài thơ là một góc cạnh mà nhà thơ xuyên thấu vào từng mảnh đời, số phận và trạng huống con người phải trải qua.
Bài thơ “Những kỷ niệm tưởng tượng” là một hành trình khổ nạn của kiếp sống. Từ lúc sinh ra đối diện với cuộc đời cũng là lúc nhà thơ cảm nhận hết cái đói nghèo, kham khổ, thiếu thốn. Và chính trong cái gian khó ấy, con người u mê, tha hoá...
            “Ngày ta sinh ra là ngày đầu tiên ta nằm bệnh viện
            Các bác sĩ hân hoan khi có đứa trẻ ra đời.
            Họ lấy nhau của mẹ chia nhau làm đồ nhắm rượu
            Các nữ y tá nhìn ta.
            Kinh nguyệt chảy màu máu còn tươi rói.
            Không có bông, họ lấy tấm áo choàng lau vội...
            Đêm đầu tiên ta nghe những tiếng động đầu tiên.
            Những chú chuột ăn cắp tã vá của ta làm áo choàng vào bệnh viện.
            Chúng sờ lên mặt ta tìm môi ta liếm liếm...”

Cùng với năm tháng lớn lên của tuổi cũng là lúc nỗi đau đớn lớn dần cùng với sự trưởng thành trong nhận thức. Vượt qua hình ảnh nhỏ bé của mảnh tã vá là hình ảnh của xã hội và của cái chết. Những chuyến tàu chở đầy vũ khí, những cô gái điếm tả tơi dọc bờ sông, những em bé và những người già thất thểu... tạo dấu ấn trong hồn nhà thơ một vùng ký ức buồn, thật buồn. Và, kết thúc dòng hồi tưởng là những hình ảnh thảm khốc:
            “... Những đám tang không có hòm
            Chân người chết thò ra khỏi chiếu.
            ... Những người mẹ bị thương ruột lòi ra vẫn ôm con nhảy xuống hầm, tranh nhau chỗ ngồi với rắn.
            Và những cánh tay trẻ thơ bom hắt lên cành cây vắt vẻo...”
Đọc những dòng thơ trên ta như nhận ra họa phẩm nổi tiếng về chiến tranh của Picassô. Những cánh tay lủng lẳng, những đoạn ruột lòng thòng, những ống xương người phơi bày... tự nó đã có sức tố cáo mạnh mẽ về sự huỷ diệt của chiến tranh.           

Những dòng thơ chỉ có thể chắt lọc từ một trái tim nhức buốt, tái tê. Hành trình nhận thức của nhà thơ là hành trình đi từ mình đến mọi người, từ quê hương đến dân tộc. Đó là hành trình của mỗi người dân đất Việt. Số phận con người gắn với định mệnh đau thương của dân tộc. Cái nhìn của nhà thơ là cái nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử, xót thương cho một dân tộc oằn mình gánh nặng mất mát, hy sinh. Đó là hành trình tuẫn nạn vác cây thập tự định mệnh. Song, ngoài nỗi bi thương của dân tộc, định mệnh của dân tộc thì mỗi người còn phải đối mặt với định mệnh của chính mình. Muôn đời, suốt kiếp những trái tim nhân hậu luôn đau đáu về thân phận. Trương Đăng Dung hiểu rằng cuộc sống chỉ là “nơi bình minh tạm trú trước hoàng hôn”, vậy nên thời gian được anh đong bằng từng giọt nước mắt “của ngày xưa còn lại đến hôm nay”. Nước mắt của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... và của bao tiền nhân đã nhỏ xuống vì thân phận con người. Bài thơ “Anh không thấy thời gian trôi” chỉ là một cách nói để trốn chạy thời gian tiền định.

Nhà thơ không nhìn bước đi của thời gian bằng kim đồng hồ vạch sẵn mà nhìn thời gian bằng trái tim thảng thốt thương người. Nhà thơ muốn nói với bạn đọc rằng, thời gian không phải là giây phút là giờ là ngày hay là tháng là năm.. thời gian chỉ có nghĩa khi nó hiện hữu ở tất cả. Thời gian hằn vết lên kỷ niệm, thời gian in dấu ấn ở nét mặt và thời gian ngậm ngùi lên tiếng khi ta nâng trên tay những sợi tóc rụng dần... Thời gian khắc chạm, ẩn hiện và ngự trị trong mỗi người. Thời gian định mệnh mà con người không thể vượt qua bởi sự vô tình, tàn nhẫn của nó. Cảm thức về thời gian làm nhà thơ càng thấy “lòng tha thiết với trời xanh” để rồi “mỗi ban mai khắc khoải việc chưa thành”. Phải chăng anh khao khát đẩy rộng, đẩy mãi quỹ thời gian cuộc đời để được yêu thương nhiều hơn và cống hiến nhiều hơn? Đọc những vần thơ này của anh chắc hẳn mỗi người sẽ biết thiết tha với đời sống, với con người và mong sống có nghĩa. Lời thơ tự nói với mình mà sao có sức gợi mở đến là vậy.

Chiếc lá vàng sẽ rơi vào cuối thu mà còn tiếc nuối cành cây trong cái chơi vơi ngơ ngẩn, huống chi con người? Sao không tiếc nuối, buồn thương khi nhận ra “kiếp người ngắn ngủi”. Phải biết yêu cuộc đời mới có được nỗi buồn đẹp đến thế. Đối diện và cô đơn trước thời gian là suy ngẫm của Trương Đăng Dung về thân phận. Vậy nên, tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc, vụt hiện, vụt mất như ảo ảnh mà thôi. Thương làm sao một tình yêu chưa đến mà đã mất, chưa hạnh phúc đã thấm đầy đau đơn, chưa gặp nhau mà đã chia xa. Cuộc kiếm tìm tình yêu và hạnh phúc mịt mờ thăm thẳm như bình minh không có mặt trời, như lâu đài chỉ có cánh dơi, ... những tâm hồn tìm đến nhau lẽ nào cũng lại là một hành trình khổ nạn. Hạnh phúc đời người trở thành bẽ bàng trước sự sinh sôi của côn trùng trong cát bụi và hiếm hoi truyền hơi ấm tình người qua bàn tay tìm nhau run rẩy. Tình yêu như giấc mơ không đầu không cuối mà tương lai là thời gian sẽ cướp đi. Tất cả những gì chợt hiện của hôm nay chỉ là ảo giác. Chiếc ghế bên góc vườn trơ trọi vì không còn tình nhân và em trẻ trung, duyên dáng, yêu kiều của hôm nay được cuộc đời biến thành cụ bà với mái tóc bạc xoá.

Đời người đã mong manh, chóng tàn rồi mà tuổi trẻ, tình yêu còn mong manh hơn thế nữa. Phải chăng vì lẽ đó nhà thơ “sợ hãi trước chân trời”? Chân trời là tương lai, nhà thơ từng khao khát mong chờ được cùng người yêu bước đến. Sẽ hạnh phúc biết bao khi ta chạm vào được tương lai bằng tình yêu nồng cháy, ngọt ngào. Song, ai biết trước được tương lai? Khao khát đến thế, mong chờ đến thế nhưng đến với chân trời lại là một cảm giác sợ hãi. Liệu có mâu thuẫn không? Không, bởi nhà thơ đã thấy trên đường tới chân trời không chỉ có tình yêu mà còn những bóng hình dị dạng, những đội quân tay súng, tay đao, những nhà thơ vô cảm... tình yêu làm sao sống chung với sự huỷ diệt? Ngày mai là bom đạn, chết chóc hay yêu thương? Anh đã ném câu hỏi cho mọi người trước sự biến động của nhân loại. Giây phút bên nhau trở thành nỗi thấp thỏm vì một tương lai không xác định. Nỗi đau nhân sinh là thế!.

Cả sáu bài thơ của Trương Đăng Dung mà Sông Hương chọn đăng đều được viết theo thể tự do với số câu chữ không hạn định. Điều đó khiến bài thơ như một sự suy tưởng. Đó là trăn trở của anh về thân phận con người. Đặt ra những vấn đề lớn lao là chiến tranh, thân phận hay các vấn đề xã hội nhưng âm hưởng của từng câu không khoa trương, ồn ào. Ngược lại, những câu thơ mang một giai điệu buồn da diết. Đau cho mình và đau cho đời. Những bài thơ không phải là đặc sắc, nổi bật của thơ Việt hiện đại nhưng nó ra đời như một lời nhắc nhở đến mỗi tâm hồn. Trong cuộc sống hiện đại, xuất hiện nhiều tư tưởng cá nhân và sự chai mòn cảm xúc thì những vần thơ của anh là điểm đến của những tâm hồn biết thao thức với thân phận và biết chia sẻ với những nỗi đau. Mỗi người đọc thơ anh như thấy mình được an ủi và che chở vì chúng ta bắt gặp nhau trong cùng thân phận.Tình yêu thương của nhà thơ sẽ không “tan trong sương khói, những kiếp người”.
            T.T.H

(nguồn: TCSH số 205 - 03 - 2006)

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN THẾ - PHAN ANH DŨNGCầm trên tay cuốn Truyện Kiều tập chú (TKTC), NXB Đà Nẵng, 1999, dày hơn 1000 trang của các tác giả Trần Văn Chánh, Trần Phước Thuận, Phạm Văn Hòa, chúng tôi thấy đây là một công trình nghiên cứu công phu, tập hợp và chọn lọc được một số chú giải của các học giả nổi tiếng.

  • FRANCOIS JULLIEN (Trích dịch ch. IV cuốn Đối thoại của Mạnh Tử với một triết gia Khai sáng)

  • HOÀNG NGỌC HIẾNTôi hào hứng đi vào đề tài này sau khi đọc bài tiểu luận của Tỳ kheo Giới Đức “Phật giáo có thể đóng góp gì cho minh triết Việt?”(1)

  • ĐÔNG LACon đường đến thành công thường rất khó khăn, với Nguyễn Quang Thiều ngược lại, dường như anh đã đạt được khá dễ dàng kết quả ở hầu hết các lĩnh vực sáng tạo văn chương.

  • TRẦN HUYỀN SÂMMỗi thời đại đều mang lại một quan niệm văn chương khác nhau. Đối với cha ông xưa, họ không hề có ý định lập ngôn, lại càng không chủ trương xây dựng cho mình một học thuyết có tính hệ thống.

  • CAO HUY HÙNGChủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam mà cả bạn bè trên khắp thế giới đều giành tình cảm trân trọng đặc biệt đối với Người. J.Stésron là nhà sử học người Mỹ một trong số những người đã dày công tìm hiểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

  • NGÔ THỜI ĐÔN        (Phiếm luận)Đọc Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, đến đoạn kết thúc phiên tòa báo ân, báo oán, người hay trắc ẩn thì thấy nhẹ nhõm, người cả nghĩ thì thấy vợ chồng Thúc Sinh- Hoạn Thư thoát nạn mà thán phục sự tế nhị của Nguyễn Du.

  • TRẦN ĐÌNH SỬTrong sách Phê bình văn học thế kỷ XX tác giả Giăng Ivơ Tađiê có nói tới ba bộ phận phê bình. Phê bình văn học ta hiện nay chủ yếu cũng có ba bộ phận ấy họp thành: phê bình báo chí, phê bình của các nhà văn nhà thơ và phê bình của các nhà phê bình chuyên nghiệp.

  • ĐÀO THÁI TÔNTrong bài Mê tín dị đoan trên chuyên mục Tiếng nói nhà văn (Văn Nghệ số 52 (2032), ngày 26 - 12 - 1988), nhà văn Thạch Quỳ thấy cần phải "phân định cho được văn hóa tâm linh, văn hóa nhân bản, văn hóa tín ngưỡng để phân biệt nó với mê tín dị đoan".

  • NGUYỄN THỊ XUÂN YẾNLà một nội dung mở, tín hiệu thẩm mỹ (THTM) đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan tâm, đặc biệt là các nhà nghiên cứu văn học đã bàn luận khá rộng.

  • ĐẶNG VIỆT BÍCHTrong mười hai con giáp, từ lâu, người ta đã nhận thấy chỉ có mười một con là động vật có thật, được nuôi trong gia đình, là gia cầm (như gà - dậu), là gia súc (trâu - ngưu) hoặc động vật hoang dã (như hổ - dần)... Còn con Rồng - Thìn thì hoàn toàn là động vật thần thoại.

  • Vừa qua tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị Dịch thuật Giới thiệu Văn học Việt Nam ra thế giới, quy tụ trên một trăm dịch giả trong và ngoài nước đến từ hàng chục quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau như Pháp, Mỹ, Đông Âu, Trung Quốc... Đây được xem là bước khởi đầu cho việc quảng bá tốt nhất văn học Việt ra thế giới.

  • NGUYỄN THANH HÙNGTiếp nhận văn học thực sự diễn ra dưới ảnh hưởng của đặc điểm cuộc sống trong cộng đồng lý giải tác phẩm. Có được ý nghĩa phong phú của văn bản nghệ thuật là nhờ sự tiếp nhận của các thành viên độc giả tạo ra. Chính những ý nghĩa ấy chứ không phải bản thân văn bản, thậm chí không phải cả dụng ý của tác giả là điểm khởi đầu cho "chiều dài thương lượng" về giá trị của tác phẩm văn học trong lịch sử.

  • HỮU ĐẠTKhi giảng dạy thơ ca của bất cứ nhà thơ nào, ngoài những bài được đưa vào sách giáo khoa việc giới thiệu thêm những bài thơ khác trong sự nghiệp sáng tác của tác giả là rất cần thiết. Tuy nhiên, khi giới thiệu cần có những cách phân tích và đánh giá đúng đắn mới phát huy được việc mở rộng kiến thức cho học trò. Nếu không sẽ gây ra những tác dụng ngược lại.

  • HOÀNG TẤT THẮNG         (Vì sự trong sáng tiếng Việt)

  • ĐẶNG MẬU TỰU- PHAN THANH BÌNH5 năm hoạt động mỹ thuật sôi nổi, đầy trăn trở và suy nghĩ đã trôi qua, Phân- Chi hội mỹ thuật Thừa Thiên Huế đã có nhiều cơ hội để nhìn lại đánh giá những gì mà mình đã làm được.

  • VŨ ĐỨC PHÚCChữ Hán trong hàng chục thế kỷ là chữ dùng chính thức của quốc gia Việt . Trong các thế kỷ ấy văn thơ chữ Hán khi thì là văn thơ duy nhất, khi thì là bộ phận chủ yếu hoặc quan trọng, không thể thiếu, của lịch sử văn học Việt bên cạnh văn thơ chữ Nôm.

  • PHẠM QUANG TRUNGHội Nhà văn Việt Nam, bên cạnh tính chính trị- xã hội, trước hết là một tổ chức nghề nghiệp. Muốn có sức mạnh, cơ cấu và hoạt động của Hội phải tương thích với đặc thù nghề viết văn.

  • NGUYỄN VĂN HOASuốt những năm phổ thông, do phải kiểm tra hoặc phải thi cử nên bắt buộc tôi phải thuộc các bài thơ có vần trong sách giáo khoa. Trên ba mươi năm rồi tôi vẫn thuộc những bài thơ đó. Mặt khác thời tôi học phổ thông ở vùng Kinh Bắc hiệu sách có rất ít sách thơ bán và lúc đó cũng không có tiền để mua. Nguồn duy nhất là sách giáo khoa.