Triển lãm điêu khắc Thừa Thiên Huế còn đó những nghĩ suy...

15:54 28/01/2010
PHAN THANH BÌNH - ĐÌNH KHÁNHTriển lãm Điêu khắc Thừa Thiên Huế Lần thứ nhất đến nay đã kết thúc, những gì mà các tác giả trưng bày, thể hiện trước công chúng chắc sẽ còn đọng lại lâu dài trong tình cảm người xem, với những ấn tượng, cảm nhận toàn cảnh hoạt động sáng tạo điêu khắc của tỉnh nhà qua gần 60 tác phẩm của 29 tác giả, bao gồm tượng tròn phù điêu trang trí, tượng chân dung, phác thảo tượng đài... với các chất liệu đá, ciment, gỗ, thạch cao, đồng, chất liệu tổng hợp...

Để có được một triển lãm có tính qui mô về không gian- thời gian và kết cấu của tác phẩm, ban tổ chức với thành viên là Sở Văn hóa Thông tin, Hội VHNT, Ban Văn hóa Thành phố và Trường Đại học Nghệ thuật đã phối hợp chặt chẽ, linh hoạt trong tổ chức, trưng bày và góp kinh phí cho triển lãm. Giờ đây khi các tác phẩm đã được trở về với chủ thể sáng tạo, giữa sự bình yên nội tại nhưng vẫn không thiếu những suy tưởng ở mỗi tác giả và ở những người xem thật lòng đam mê và có trách nhiệm. Như một sự thôi thúc nội tâm, mọi người cũng cần nhìn lại về những cái hay, cái được của triển lãm và những điều cần phải đánh giá, suy nghĩ chín chắn về sáng tạo nghệ thuật, và thật đáng tiếc khi phải nói rằng bằng sự nhạy cảm của mình, chúng ta cũng thấy còn đó những điều băn khoăn, đôi chút chạnh lòng và cả một số nuối tiếc...

Công bằng mà nói triển lãm đã quy tụ được một số lượng lớn tác giả, tác phẩm tham gia triển lãm, đối với điêu khắc đó là những con số đáng kể, ngay cả hai trung tâm văn hóa lớn như Hà Nội- TP Hồ Chí Minh cũng luôn tồn tại sự chênh lệch khá xa giữa họa sĩ và điêu khắc gia. Nếu "quan liêu" một chút thì dường như cũng để thỏa mãn với những đóng góp về số lượng tác giả, tác phẩm, không gian trưng bày... Nhìn vào các con số người ngoài cuộc thấy cũng "nể" khi Huế có được một đội ngũ điêu khắc như vậy. Tuy nhiên nhìn thẳng vào hiện thực thì có những con số cũng phản ánh rõ hiện trạng hoạt động sáng tác điêu khắc là đáng lo ngại, bởi lẽ số tác giả tham dự đang sống làm việc ở Huế, làm nghề điêu khắc hoạt động trên bình điện điêu khắc thực sự là rất ít.

Ở Huế có không ít tác giả vừa là họa sĩ vừa là nhà điêu khắc, thông thường trở thành họa sĩ đã khó nhưng cũng có vài người tự học rồi vươn lên được, nhưng trong điêu khắc làm được điều đó là rất hiếm hoi và cũng khó mà theo kịp những người được đào tạo ở trường lớp.

Trước đây trong thời Nguyễn (giai đoạn TK XX) có Nguyễn Khoa Toàn vẽ chân dung, phong cách rất cổ điển và làm tượng Phật cũng rất đúng quy thức và có tính nghệ thuật cao, nay thì có Vĩnh Phối, Tuấn Dương, Phan Thế Bính... Hẳn nhiên không phải ai cũng "đều tay", tỏ ra rất bản lĩnh như họa sĩ Vĩnh Phối. Một mặt điều đó phản ánh năng lực, sở trường và đặc tính sáng tạo của các tác giả, mặt khác ít nhiều phản ánh cơ chế thị trường, nhu cầu xã hội đã thôi thúc nhiều họa sĩ làm tượng, nhà điêu khắc vẽ tranh, người lí luận cũng yêu thích sáng tác... Thỉnh thoảng ta vẫn nghe nói họa sĩ nào đó vừa có một "commang" điêu khắc vài trăm triệu, một nhà điêu khắc mới bán được tranh vài ngàn đô thì cũng là điều thường tình, nhất là ở Hà Nội- Nha Trang và TP Hồ Chí Minh.

Trước triển lãm có một số ý kiến về nét Huế, chất Huế làm sao phải được thể hiện qua triển lãm cho tốt. Điều đó là cần thiết nhưng cường điệu hóa đến mức cực đoan thì không nên. Còn nhớ trong một phản biện khoa học, một họa sĩ lão thành Huế đã lớn tiếng khẳng định rằng muốn nghiên cứu được Huế thì chỉ có những ai sinh ra lớn lên ở Huế thì mới làm tốt được. Điều này không chỉ không đúng khi nói đến văn học, hội họa mà lại càng sai hơn khi bước vào phòng trưng bày điêu khắc tại số 4- Hoàng Hoa Thám. Nhiều tác phẩm của tác giả không phải là người Huế trưng bày ở đây cho thấy tinh thần, cốt cách, diện mạo tâm hồn xứ Huế được thể hiện khá rõ qua hình khối, bố cục, cách xử lý, biểu hiện tác phẩm, sự lắng đọng, gửi gắm tình cảm, bày tỏ rất Huế thể hiện qua những tác phẩm mà nhiều khi không phải là đề tài Huế như các bức tượng của Võ Tấn Tánh, Nguyễn Mạnh Quân, Nguyễn Thành Vinh... vậy thì không hẳn người Huế mới làm tượng, vẽ tranh phản ánh sâu sắc Huế, và cũng chưa phải phẩm chất, chiều sâu Huế là cái gì đó kỳ bí, xa vời khó cảm nhận đối với các nghệ sĩ khác. Chắc những dịp sống ở Huế, tiếp cận Huế đã làm cho nhiều tác giả có những cảm nhận sâu sắc và thể hiện được điều đó trong tác phẩm của mình, cho dù có lúc chỉ là sự phảng phất, gợi tưởng hay chỉ là sự ám ảnh riêng tư về Huế mà thôi. Những năm gần đây, thể loại tượng chân dung chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong các triển lãm mỹ thuật nói chung và điêu khắc nói riêng. Khuynh hướng tả thực lại càng ít hơn trước thủ pháp ẩn dụ, tượng trưng hay biểu hiện, ước lệ hóa. Tại triển lãm điêu khắc Thừa Thiên Huế lần thứ nhất có hai bức chân dung được công chúng yêu thích, đánh giá cao về mặt biểu hiện nghệ thuật. Trước hết là tượng "Chân dung nhà điêu khắc" của Vĩnh Phối (thạch cao cao 55cm), được thể hiện với tính đặc tả cao (sở trường của tác giả từ trường phái ý), khuôn mặt nhà điêu khắc (trong giới đều biết đó là nhà điêu khắc lão thành- giáo sư Phạm Gia Giang) được thể hiện sống động qua từng nét mặt, ánh mắt và dấu ấn tạo hình rung cảm của tác giả, người xem thấy rõ nét nhấn đến từng ngón tay sáng tạo của nghệ sĩ trên khuôn mặt nhân vật, tác giả truyền đến cho người xem cả sự ưu ái tình cảm của mình đối với nhân vật. Còn với tác giả trẻ Nguyễn Thanh Bình, bức "Chân dung Văn Cao" (thạch cao phủ sơn- cao 40 cm) lại là một tác phẩm vừa "giống" vừa phóng khoáng, trữ tình bởi sự chuyển đổi nhịp điệu hình khối, chất bề mặt, rất có tay nghề, tự tin và bài bản. Nhà điêu khắc chắc phải rất hiểu nhân vật của mình mới biểu hiện được thần sắc tinh tế, vừa suy tưởng sâu kín vừa thật gần gủi, dễ gần của nhân vật. Nguyễn Thanh Bình không câu nệ vào quy tắc hàn lâm, anh vượt lên, tự giới thiệu và khẳng định những khả năng sáng tạo của mình bằng lối bố cục "lạ mắt" mà rất phóng khoáng nghệ thuật.

Khuynh hướng tượng trưng, khám phá những góc cạnh khác nhau, những cảm nhận đa chiều về nhân vật cũng được nhiều tác giả bày tỏ. Tiêu biểu trong số này là tác phẩm "Ấn tượng Hàn Mạc Tử" của Nguyễn Mạnh Quân (gỗ- cao 120 cm) qua những khối bố cục đơn lặng, hình quằn quại với đặc trưng khối âm đầy ẩn dụ- liên tưởng thị giác như hé mở những tưởng tượng thi vị về ánh trăng, nỗi cô đơn, xót xa của nhân vật. Ngoài ra còn có thể kể thêm về các tác phẩm "Bà Huyện Thanh Quan" của Mai Văn (bê tông- cao 100 cm), "Nhà thơ Nguyễn Khuyến" của Đào Ngọc Phú (bê tông- cao 130 cm), "Người đàn bà qua chiến tranh" của Trần Anh (gỗ - cao 100cm), "Hai Bà Trưng" của Nguyễn Tuấn Dương (xi măng - cao 170 cm), "Em là du kích" của Lê Minh Kai (Thạch cao 100 cm), "Sức sống sông Đà" của Kim Liên (gỗ đồng 100x 120 cm)... cũng đạt được chiều sâu thẩm mỹ.

Sau những "choáng ngợp" về một không gian triển lãm điêu khắc, cũng có một số tác phẩm có phần còn đơn điệu, chơi vơi, có tìm tòi nhưng chưa đạt đến độ chín và tính thuyết phục, những khiếm khuyết về biểu đạt bố cục, biểu cảm của khối, tư tưởng, tình cảm của tác giả, nội dung phản ánh... Bức phù điêu "Tấm Cám" của Mai Văn quá là "chân phương" như một minh họa chuyện cổ tích, sự tham lam chi tiết của anh thể hiện rất rõ trong bố cục sắp xếp đầy tính tả kể, làm hạn chế đến "độ rung", tính biểu cảm nghệ thuật. Bức tượng chân dung của Phan Xuân Hòa vẫn còn vẻ "hồn nhiên", nặng về kĩ thuật chất liệu hơn là sự tập trung vào kết cấu khối và quan hệ không gian- bố cục. Một số tượng khắc rơi vào sự dễ dãi, dù thực lòng của tác giả có tìm đến cái mới, nhưng người ta vẫn nhận thấy sự thiếu hụt trong các tác phẩm "Vũ điệu", "Màu đen" của Nguyễn Tài Bửu Đường, "Chất độc màu da cam" của Đỗ Minh Tuấn. "Hai người" của Đàm Đăng Lại... Nhà điêu khắc Nguyễn Hiền khá ý tứ, khúc chiết, mở rộng ngôn ngữ điêu khắc trong kết cấu tương phản của tượng "ám ảnh của vỏ đạn" nhưng anh lại có vẻ đánh đố và khó hiểu khi treo một bức ảnh chụp bức tượng "Cái tổ" được sáng tác tại Hà Nội cùng với chân dung của mình được lồng kính; lẽ ra đây là điều " kiêng kỵ" khi mà duy nhất trong triển lãm có một bức ảnh tác giả như vậy, hơn nữa anh lại là một thành viên của BTC. Một số tác phẩm khác do cách trưng bày nhiều khi còn tủn mủn, chật chội nên cũng hạn chế đến tính biểu hiện của tác phẩm và sự cảm nhận của người xem.

Dẫu còn đó đôi chút suy tư, nhưng người nghệ sĩ cũng dễ bỏ qua tất cả để hướng đến những cái cao đẹp của sáng tạo nghệ thuật, vấn đề còn lại là cần phải quan tâm đến việc xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ những nhà điêu khắc của tỉnh nhà, tạo điều kiện cho họ hoạt động, sáng tác, có như vậy những gì họ làm được trong triển lãm điêu khắc lần thứ nhất mới được phát huy, có ý nghĩa đối với đời sống thẩm mỹ của nhân dân. Mặt khác, môi trường không gian thẩm mỹ đô thị Huế vẫn đang đặt ra những yêu cầu về xây dựng tượng đài, tượng trang trí công viên và nhiều khả năng khác trong tạo dựng cảnh quan, vẻ đẹp của một thành phố du lịch văn hóa. Và thời gian sẽ trả lời cho câu hỏi giới sáng tác điêu khắc Thừa Thiên Huế sẽ có những đóng góp như thế nào để xây dựng quê hương giàu đẹp.

P.T.B - D.K
(120/02-99)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN HÀNG TÌNH 

    Cho dù không đến Tây Nguyên ta cũng thấy hoặc “cảm” về miền Thượng phương nam sống động nhiều rồi qua báo chí, truyền hình, văn chương. Nhạc về xứ này cũng thế, qua Y Phôn, Y Moan, Nguyễn Cường. Với nhiếp ảnh, thì càng bạt ngàn hơn tác phẩm và tác giả, không chỉ người đang sinh sống tại xứ này. Thế còn hội họa? Cần một sự tĩnh lặng của hội họa để nhìn thấu vào bên trong miền đất ấy, bởi đây vốn không phải vùng đất của sự ồn ào, lắm lời. Cây cọ nào đầy đủ nội lực cùng sự yêu thương chân thành cho một vùng đất để kể câu chuyện của nó qua sắc màu?

  • ĐINH CƯỜNG

    Còn nhớ, một buổi sáng thật tình cờ, Bạch Thái Quốc, người bạn thời còn làm trưởng ban Việt ngữ đài R.F.I tại Paris gọi qua Virginia hẹn phỏng vấn. Nói là nhân vừa xem triển lãm tranh Modigliani (Triển lãm mang tên Modigliani, L’Ange au visage grave tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Luxembourg từ 23-10-2002 đến 2-3-2003) nhớ đến những tranh thiếu nữ của tôi vẽ ngày trước, cũng hai bàn tay dài, chiếc cổ dài, đôi mắt sương khói.

  • Năm nay đã 90 tuổi, gần 70 năm lao động nghệ thuật, họa sĩ Huỳnh Phương Đông đã vẽ 20.000 bức tranh, ký họa.

  • Họa sĩ Duy Ninh, sinh năm 1952, tại Phú Hòa, TP Huế. Hội viên Hội mỹ thuật Việt Nam. Triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1980, 1985, 1990, 1995, 2000 và 2010 tại Hà Nội. Triển lãm cá nhân tại Đà Nẵng (1989), tại TP Hồ Chí Minh (1991). Triển lãm nhóm họa sĩ Việt Nam tại Đan Mạch năm 1995. Có tranh trong Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam. Giải thưởng tranh triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1996…

  • ĐINH CƯỜNG

    Thảng như con ngựa già vô dụng
    Chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình

                         (Tô Thùy Yên)

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌC

    Tôi có một vài kỷ niệm nhỏ với họa sĩ Nguyễn Đại Giang.
    Năm 2009, trong những ngày làm mới thơ mình một cách đầy hứng thú, tôi viết bài thơ “Lộn ngược” ngồ ngộ:

  • LÊ HUỲNH LÂM

    Chúng ta đều biết rằng nước vốn vô hình vô ảnh, tùy nhân duyên để biến hiện. Nước có quyền năng dung hòa mọi sự vật và quyền năng hóa thân biến hiện theo sự vật. Trong ý nghĩa đó, thủy mặc là loại mực mà người cầm bút phải có nội lực mới hóa thân vào ngòi bút để truyền cảm xúc tan chảy theo vết loang của mực.

  • HUỆ VIÊN

    Đạo Đức Kinh là tác phẩm do Lão Tử, khai tổ của Đạo giáo, viết ra khoảng thế kỷ VI trước CN, là một kinh điển trong triết học phương Đông, có ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử, văn hóa, xã hội, lối sống, nghệ thuật... ở những nước Á Đông.

  • VIỄN PHƯƠNG

    Vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, đã có một không khí lạ xuất hiện trong không gian hội họa xứ Huế. Sự gặp gỡ của 55 nghệ sỹ trẻ đến từ 17 tỉnh thành cả nước trong cuộc triển lãm mang tên Năng lượng cố đô đã báo hiệu cho một sự đột phá thực sự trong tư duy sáng tạo của lớp họa sỹ trẻ hiện nay.

  • Họa sĩ Phan Ngọc Minh, hiện đang sống và làm việc tại Đà Nẵng, đã có gần mười cuộc triển lãm cá nhân trong và ngoài nước như Pháp, Ireland...

  • TRỊNH HOÀNG TÂN

    Đến với các tác phẩm mỹ thuật khu vực IV năm 2012 được trưng bày tại thành phố Hà Tĩnh, thấy gì qua những tìm tòi khác nhau, trở lại những khuynh hướng đã qua hay xuất phát từ những điểm mới?

  • MỘT DANNA

    Những ý tưởng về hội họa dưới đây của tôi được khơi gợi từ sự nghiên cứu về Thiền và triết học Hủy cấu trúc (deconstruction).

  • VI KÝ

    Vào đời nhà Tống ở Trung Hoa có danh họa Ngọc Phủ nổi tiếng là người vẽ tranh giỏi, khắp Trung Nguyên, ai ai cũng đều biết tiếng.

  • UYÊN HUY

    Họa sĩ, Nhà giáo Nhân dân;
    Chủ tịch Hội Mỹ Thuật TP Hồ Chí Minh

  • Từ ngày 28/6 đến ngày 05/7/2012, tại số 09 Phạm Hồng Thái - Huế, Chương trình Phát triển Không gian Văn hóa và Chương trình Tình Sông Hương của Tạp chí Sông Hương sẽ tổ chức triển lãm tranh của các họa sĩ khuyết tật mang tên KHÁT VỌNG.

  • ĐINH CƯỜNG

    (Nhân 100 năm ngày sinh Nguyễn Đỗ Cung 1912-2012)

  • BỬU CHỈ (Xê-nhét 17/5 - 26/6/1985)

  • LGT: Foujita tên đầy đủ là Tsuguharu Foujita, thời gian sau thêm tên Thánh Léonard Tsuguharu Foujita. Sinh ngày 27 tháng 11 năm 1886 tại Tokyo, trong một thành phố nhỏ tên Omagari, cạnh bờ sông Edogawa. Cha là Tsuguakira Foujita, sĩ quan cấp tướng thuộc quân đội Hoàng Gia Nhật. Mẹ là Masa, mất năm 1891 lúc Foujita mới 5 tuổi. Foujita là con trai út, còn hai người chị và người anh trai.

  • ĐIỀN THANH(sưu tầm và giới thiệu theo bài viết nhan đề “Agony and Ecstasy” đăng trên tạp chí The Nation, Hoa Kỳ, ngày 1. 12. 2008 của Barry Schwabsky)

  • ĐẶNG TRƯỜNG LƯUTrong giới văn hóa - văn nghệ cả nước; cũng như làng văn nghệ sĩ của riêng Hà Nội; người ta biết nhiều đến họa sĩ, nghệ sĩ Nhân dân Lê Huy Quang qua hội họa, qua thiết kế trang trí sân khấu, qua minh họa hay bìa sách; phần lớn là bạn hữu, qua thơ ca và các bài báo trong suốt mấy chục năm qua.