Cuối thế kỉ XIX, khi máy ảnh phương Tây bắt đầu du nhập sang các nước châu Á, ở Nhật Bản có trào lưu chụp ảnh chân dung. Đáng chú ý, bonsai là một trong những nghệ phẩm được các tầng lớp người Nhật chọn lựa để chụp cùng nhiều nhất.
Bức tranh cuộn Genji monogatari quốc bảo của Nhật Bản
Điều này một mặt cho thấy vào thời bấy giờ, bonsai là một nghệ phẩm rất phổ biến, mặt khác gợi một câu hỏi sâu hơn: Vì sao để biểu hiện hình ảnh ngưng đọng thời gian của mình trước ống kính máy ảnh, người Nhật lại chọn bonsai làm vật biểu trưng? Để trả lời câu hỏi này ta phải ngược dòng thời gian để thâu tóm vài nét chính của lịch sử bonsai ở Nhật Bản.
Bonsai cùng với Phật giáo Trung Quốc du nhập sang Nhật Bản từ rất sớm, khoảng đầu thời Kamakura (từ 1185). Bức tranh sớm nhất tìm thấy được có hình bonsai nằm trong bộ tranh cuộn Saigyo monogatari emaki về cuộc đời thiền sư Saigyo, niên đại 1195. Trong bức tranh này, bonsai được biểu hiện ở hai hình thức: trồng thành một nhóm như vườn cảnh và trồng trong chậu dài. Một số nhà chú giải cho rằng hình thức trồng trên chậu biểu hiện cho tầng lớp và đẳng cấp của sư Saigyo, một số khác cho rằng điều này biểu trưng cho ý niệm tìm về với thiên nhiên, một số khác nữa cho rằng vườn cảnh là một văn bản thiền. Nghĩa là khi chiêm ngắm nó, con người buông bỏ được quá khứ, thôi ám ảnh về tương lai, mà an trú trong khoảnh khắc hiện tại, tìm về với bản ngã đích thực.
Bức tranh thứ hai xuất hiện trong cuộn tranh Honen shonin eden (Honen nghiên cứu kinh Pháp hoa tam đại bộ), niên đại 1307. Thiền sư Honen (Pháp Nhiên) là người sáng lập dòng thiền Tịnh Độ Tông của Nhật Bản, dòng thiền quan niệm con người ai cũng có thể đến được cõi giải thoát bằng con đường niệm Phật. Trong bức tranh này vườn cảnh là trung tâm, ta không thấy bonsai trong chậu nào. Vườn cảnh là một nhóm cây vươn lên, thanh thoát, có những cây phong lá đỏ cạnh những cây tùng. Thưởng lãm nó, khoái cảm thẩm mĩ làm lây lan niềm vui sống bất tuyệt của thiên nhiên và đất trời, dẫn đưa tâm thức hành giả thoát ra ngoài cõi tục.
![]() |
| Trình diễn kịch Noh Nhật Bản - Ảnh: TL |
Cũng vào thời kì này trong dân gian lưu truyền vở kịch Noh Hachi-no-ki (Cây trồng trong chậu). Vở kịch kể câu chuyện về vị thiền sư trên đường đi gặp cơn bão tuyết và ngỏ ý muốn trú lại nơi gia đình mà người chồng từng là gia nhân cho gia tộc Tokiyori. Người chồng có ý từ chối, nhưng người vợ nói với anh ta rằng kiếp trước họ sống vô đạo, nên bây giờ gia đình mới tan hoang thế này, nếu giờ họ còn như thế nữa, thì kiếp sau chắc chắn sẽ phải trả giá. Người chồng tỉnh ngộ và mời vị thiền sư ở lại, anh ta sẽ cắt ba bonsai trồng trong chậu của mình để sưởi lửa cho thiền sư. Vị thiền sư cản lại và khuyên anh nên giữ bonsai để có thể tìm niềm vui trong cuộc đời. Dù rất tiếc nuối, nhưng anh biết rằng cuộc đời mình như những bonsai trồng trong chậu này, phải được cắt lìa, giải thoát. Bão tuyết tan, trời bớt khắc nghiệt hơn và vị thiền sư lại lên đường…
Cốt truyện của vở kịch toát lên ý niệm về một bonsai cần được giải phóng khỏi không gian chật hẹp của nó, thể hiện sự khác nhau trong quan niệm về cuộc đời giữa Phật giáo và tầng lớp võ sĩ. Phật giáo chủ trương giải thoát con người khỏi cõi trần bó buộc, khác với tầng lớp võ sĩ phải gắn bó và trung thành với vị tướng quân của mình. Vở kịch kết thúc bằng hình ảnh bonsai cần được cắt bỏ, giải thoát, cho thấy sự thắng thế của quan niệm Phật giáo trong dân gian.
Tuy nhiên, như ta sẽ thấy, quan niệm về bonsai trồng trong chậu thu nhỏ dần trở thành chủ đạo trong lịch sử văn hóa Nhật Bản. Vì sao lại như thế?
Điều này trước hết có liên quan trực tiếp đến tầng lớp võ sĩ, sau này gọi là samurai. Tầng lớp võ sĩ là một trong những tầng lớp hùng mạnh và giàu truyền thống của Nhật Bản. Vào thời Tokugawa (1603-1868), tầng lớp võ sĩ trở thành tầng lớp chủ đạo. Trong truyền thống đào tạo võ sĩ, một võ sĩ hằng năm phải lên núi tuyển lựa những cây thông, tùng về trồng trong chậu gọi là yamatori, như là một biểu tượng cho sự kiên trì vượt qua gian khó. Tuy nhiên, điều làm cho việc trồng và chăm sóc bonsai trở thành truyền thống võ sĩ đạo chính là do bản chất của tinh thần kiếm đạo.
Trong kiếm đạo, do ảnh hưởng của tư tưởng thiền, kiếm sĩ phải buông bỏ hoàn toàn bản ngã của mình, không phải là người vung kiếm mà là thanh kiếm tự nó tìm đến nơi nó muốn. Buông bỏ bản ngã trong hành động là việc phải rèn tập vô cùng khó khăn, nghệ thuật bonsai cho người kiếm sĩ khả năng ấy. Người chơi bonsai phải quên thân mình, cảm nhận sự cảm nhận của cây, lắng nghe sự lắng nghe của cây, bonsai với người là một.
Bonsai đến đây mang biểu tượng với ý nghĩa kép: tinh thần nhẫn nại thầm lặng trường tồn như tự nhiên, và sự chuyển hóa bản ngã cá nhân. Hình ảnh biểu tượng kép này dần trở thành phổ biến trong quan niệm chơi bonsai từ thế kỉ XVIII, và định hình cho đến ngày nay.
Đó là lí do người Nhật cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX biểu hiện bản sắc của mình qua hình ảnh của bonsai. Đây có lẽ cũng là cốt tủy của tinh thần Nhật Bản, một tinh thần tự cường mạnh mẽ làm nên công cuộc phục sinh đất nước Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong cuộc ném bom nguyên tử ở Hiroshima, có một cây thông cảnh trắng sống sót trong cảnh đổ nát hoang tàn. Dòng họ Yamaki đã tặng nó cho bảo tàng bonsai quốc gia Mĩ. Bonsai ấy như là biểu tượng cho tinh thần quật cường vượt lên thảm họa của người Nhật.
Ngày nay bonsai Nhật Bản không chỉ là một nghệ thuật, mà còn là một lối sống hội tụ những tinh hoa trong văn hóa Nhật Bản: trở về với thiên nhiên, lắng đọng tâm hồn mình, với một tinh thần nhẫn nại và khiêm nhường để chiêm ngưỡng ý nghĩa đích thực của niềm vui sống.
Nguồn: An Thảo - VNQĐ
Tải mã QRCode
ĐINH CƯỜNG
Còn nhớ, một buổi sáng thật tình cờ, Bạch Thái Quốc, người bạn thời còn làm trưởng ban Việt ngữ đài R.F.I tại Paris gọi qua Virginia hẹn phỏng vấn. Nói là nhân vừa xem triển lãm tranh Modigliani (Triển lãm mang tên Modigliani, L’Ange au visage grave tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Luxembourg từ 23-10-2002 đến 2-3-2003) nhớ đến những tranh thiếu nữ của tôi vẽ ngày trước, cũng hai bàn tay dài, chiếc cổ dài, đôi mắt sương khói.
Năm nay đã 90 tuổi, gần 70 năm lao động nghệ thuật, họa sĩ Huỳnh Phương Đông đã vẽ 20.000 bức tranh, ký họa.
Họa sĩ Duy Ninh, sinh năm 1952, tại Phú Hòa, TP Huế. Hội viên Hội mỹ thuật Việt Nam. Triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1980, 1985, 1990, 1995, 2000 và 2010 tại Hà Nội. Triển lãm cá nhân tại Đà Nẵng (1989), tại TP Hồ Chí Minh (1991). Triển lãm nhóm họa sĩ Việt Nam tại Đan Mạch năm 1995. Có tranh trong Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam. Giải thưởng tranh triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1996…
ĐINH CƯỜNG
Thảng như con ngựa già vô dụng
Chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình
(Tô Thùy Yên)
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
Tôi có một vài kỷ niệm nhỏ với họa sĩ Nguyễn Đại Giang.
Năm 2009, trong những ngày làm mới thơ mình một cách đầy hứng thú, tôi viết bài thơ “Lộn ngược” ngồ ngộ:
LÊ HUỲNH LÂM
Chúng ta đều biết rằng nước vốn vô hình vô ảnh, tùy nhân duyên để biến hiện. Nước có quyền năng dung hòa mọi sự vật và quyền năng hóa thân biến hiện theo sự vật. Trong ý nghĩa đó, thủy mặc là loại mực mà người cầm bút phải có nội lực mới hóa thân vào ngòi bút để truyền cảm xúc tan chảy theo vết loang của mực.
HUỆ VIÊN
Đạo Đức Kinh là tác phẩm do Lão Tử, khai tổ của Đạo giáo, viết ra khoảng thế kỷ VI trước CN, là một kinh điển trong triết học phương Đông, có ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử, văn hóa, xã hội, lối sống, nghệ thuật... ở những nước Á Đông.
VIỄN PHƯƠNG
Vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, đã có một không khí lạ xuất hiện trong không gian hội họa xứ Huế. Sự gặp gỡ của 55 nghệ sỹ trẻ đến từ 17 tỉnh thành cả nước trong cuộc triển lãm mang tên Năng lượng cố đô đã báo hiệu cho một sự đột phá thực sự trong tư duy sáng tạo của lớp họa sỹ trẻ hiện nay.
Họa sĩ Phan Ngọc Minh, hiện đang sống và làm việc tại Đà Nẵng, đã có gần mười cuộc triển lãm cá nhân trong và ngoài nước như Pháp, Ireland...
TRỊNH HOÀNG TÂN
Đến với các tác phẩm mỹ thuật khu vực IV năm 2012 được trưng bày tại thành phố Hà Tĩnh, thấy gì qua những tìm tòi khác nhau, trở lại những khuynh hướng đã qua hay xuất phát từ những điểm mới?
MỘT DANNA
Những ý tưởng về hội họa dưới đây của tôi được khơi gợi từ sự nghiên cứu về Thiền và triết học Hủy cấu trúc (deconstruction).
VI KÝ
Vào đời nhà Tống ở Trung Hoa có danh họa Ngọc Phủ nổi tiếng là người vẽ tranh giỏi, khắp Trung Nguyên, ai ai cũng đều biết tiếng.
UYÊN HUY
Họa sĩ, Nhà giáo Nhân dân;
Chủ tịch Hội Mỹ Thuật TP Hồ Chí Minh
Từ ngày 28/6 đến ngày 05/7/2012, tại số 09 Phạm Hồng Thái - Huế, Chương trình Phát triển Không gian Văn hóa và Chương trình Tình Sông Hương của Tạp chí Sông Hương sẽ tổ chức triển lãm tranh của các họa sĩ khuyết tật mang tên KHÁT VỌNG.
ĐINH CƯỜNG
(Nhân 100 năm ngày sinh Nguyễn Đỗ Cung 1912-2012)
BỬU CHỈ (Xê-nhét 17/5 - 26/6/1985)
LGT: Foujita tên đầy đủ là Tsuguharu Foujita, thời gian sau thêm tên Thánh Léonard Tsuguharu Foujita. Sinh ngày 27 tháng 11 năm 1886 tại Tokyo, trong một thành phố nhỏ tên Omagari, cạnh bờ sông Edogawa. Cha là Tsuguakira Foujita, sĩ quan cấp tướng thuộc quân đội Hoàng Gia Nhật. Mẹ là Masa, mất năm 1891 lúc Foujita mới 5 tuổi. Foujita là con trai út, còn hai người chị và người anh trai.
ĐIỀN THANH(sưu tầm và giới thiệu theo bài viết nhan đề “Agony and Ecstasy” đăng trên tạp chí The Nation, Hoa Kỳ, ngày 1. 12. 2008 của Barry Schwabsky)
PHAN THANH BÌNH - ĐÌNH KHÁNHTriển lãm Điêu khắc Thừa Thiên Huế Lần thứ nhất đến nay đã kết thúc, những gì mà các tác giả trưng bày, thể hiện trước công chúng chắc sẽ còn đọng lại lâu dài trong tình cảm người xem, với những ấn tượng, cảm nhận toàn cảnh hoạt động sáng tạo điêu khắc của tỉnh nhà qua gần 60 tác phẩm của 29 tác giả, bao gồm tượng tròn phù điêu trang trí, tượng chân dung, phác thảo tượng đài... với các chất liệu đá, ciment, gỗ, thạch cao, đồng, chất liệu tổng hợp...
ĐẶNG TRƯỜNG LƯUTrong giới văn hóa - văn nghệ cả nước; cũng như làng văn nghệ sĩ của riêng Hà Nội; người ta biết nhiều đến họa sĩ, nghệ sĩ Nhân dân Lê Huy Quang qua hội họa, qua thiết kế trang trí sân khấu, qua minh họa hay bìa sách; phần lớn là bạn hữu, qua thơ ca và các bài báo trong suốt mấy chục năm qua.