Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Văn Vinh - Lê Viết Xuân
Minh họa: Đặng Mậu Tựu
TRIỆU NGUYÊN PHONG
Ký ức xanh*
Có những lần
Con đứng dưới mưa
Đợi chờ cha mây cũng sà xuống thấp
Gió vẫn hát lời ru lắng sâu vào tiềm thức
Ký ức xanh trong muôn thuở vẫn còn.
Có những lần
Ngồi đếm tháng năm qua
Cái nồi nhỏ mẹ hấp toàn khoai sắn
Nhớ vắt cơm mẹ nhường ra mặt trận
Con lần tìm run rẩy mẹ xanh cao
Có những lần
Ngày tháng đạn bom
Gom xót xa rải đầy trong gió
Sợi nắng mưa víu vào hương tóc cỏ
Con cúi mình nhặt nức nở lời thương
Bước bình yên
Đi khắp các nẻo đường
Đếm vòng xoay con chờ cha nơi góc quạnh
Chẳng thấy cha về... chiến trận lùi xa.
NGUYỄN VĂN VINH
Em trước biển**
Em trước biển, anh cầu gió lộng
Vén ngày lên, xanh ngát xuân thì
Em trước biển gió tung tóc rối
Môi em cười cong mướt thời gian
Ta chạm vào tháng tư bốc lửa
Nóng thiên đàng và cõi nhân gian
Em cười vành vạnh như trăng
Vai ngang, tóc biếc, tuổi rằm yêu thương
Em chừ tỏa gió muôn phương
Ai đang lạc giữa vô thường thiên thu.
LÊ VIẾT XUÂN
Làng em**
Làng em tích phước lâu rồi
Từ ngày còn bãi đất bồi cỏ hoang
Ông cha tìm đến lập làng
Làm đường, xây bến, tính toan chọn nghề
Đường làng xanh mát bóng tre
Vườn thơm hoa trái gió hè thoảng hương
Mảnh hồn in dấu nhà rường
Gia đình sum họp, xóm thôn vui vầy
Giữa làng cây thị giấc say
Cuối làng lò gốm đêm ngày lửa reo
Hành trang con cháu mang theo
Vị riêng trái vả… trăng treo bến làng
Ô Lâu con nước dịu dàng
Lời ru của mẹ dâng tràn tin yêu
Ơ hay, điệu lý chiều chiều
Lỡ rơi vướng phải mái chèo người đưa1
Làng em Phước Tích cổ xưa.
---------------
1 Ý thơ Lý Hoài Xuân.
_________________
* Trại sáng tác “Công an Thừa Thiên Huế - Vì bình yên cuộc sống”.
** Trại sáng tác “Thừa Thiên Huế - Hành trình và khát vọng”.
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh