TRẦN VÀNG SAO
Nhà thơ Trần Vàng Sao - Ảnh: internet
Buổi trưa giữa đường tôi ngồi núp mưa
Rồi tôi chỉ còn lại có một mình em
Như thằng điên tự vẽ mặt mình hề ngồi núp mưa trong góc phố
Buổi trưa không có người đi qua đi lại tôi ngó cho đỡ buồn
Tôi sẽ đi hết cơn mưa này tối tăm mặt mũi
Em sẽ là người cuối cùng tôi còn nhớ lại
Da tóc và lông lá
Những giọt nước mưa chảy trong kẽ ngón chân
Tôi rùng mình
Trời mưa lâu quá
Em không đi qua ngả này cho tôi thấy em ướt hết
Tôi không còn tham lam gì nữa
Tôi muốn ngồi ở đây rồi ngủ quên
Một người
Hai người
Mưa như to thêm
Một ngàn một vạn muôn vạn ức triệu người chết
Hôm qua
Hôm nay
Mai mốt nữa
Timishoara Budapest Praha Berlin Bucarest Sofia Siberia Thiên An Môn
Súng máy súng trường dao găm lựu đạn
Xe tăng thiết giáp
Thuốc độc thuốc mê
Chết đứt đầu chết mất xác
Chết bị moi óc
Chết bị móc mắt
Chết như kiến chết
Chết ruồi bu kiến đậu
Chết không kịp ngáp
Chết buổi sáng
Chết buổi trưa
Chết buổi chiều
Chết lúc nửa đêm
Chết oan ức
Chết tức tối
Chết nghiến răng
Chết trợn mắt
Chết trong tù
Chết ngoài đồng
Chết giữa đường phố
Chết trong hầm mỏ
Chết một mình
Chết tập thể
Chết không có giấy đắp mặt
Chết không ai chôn
Chết hết đường chết
Chết trần truồng như cha mẹ sinh ra
Lúc đó
Kẻ giết người không đeo mặt nạ
Kẻ giết người không làm dấu thánh
Kẻ giết người không lần tràng hạt nam mô
Kẻ giết người đứng đọc diễn văn
Kẻ giết người hô nhân dân muôn năm
Kẻ giết người cười
Kẻ giết người sửa lại cổ áo
Và
Súng máy xả vào đám đông
Nhân dân tôi muôn năm
Lúc đó
Không còn tiếng người la hét nữa
Trời mưa to thêm
Một người đàn ông bên kia đường chạy qua đứng chen chân vào chỗ tôi ngồi
Người đàn ông nhìn tôi
Tôi không nghe tiếng người đàn ông nói
Tôi đứng dậy hút thuốc bước ra ngoài
Người đàn ông ngồi vào chỗ tôi
Tấm băng khẩu hiệu giăng giữa hai cột điện nước trôi còn hai chữ muôn năm không có N
Không biết ở nhà mấy đứa con có lấy áo quần phơi ngoài dây thép vào không.
Vỹ Giạ ngày 17 tháng 1 năm 1990
Những điều có khi hôm nay bỏ qua không nhớ
Như ăn miếng cơm có hột sạn nhả ra trên bàn tay nhìn một lúc hắt xuống đất
Rồi và miếng khác
Như mặc trái cái quần cột dây lưng
Sáng sớm đi ra vườn con sâu rớt trên áo
Nắng buổi trưa một nửa trên tàu lá chuối
Cái đuôi con thằn lằn rớt giữa nhà
Đầu hôm chó sủa lãng ngoài cửa ngõ
Những mảnh chai mảnh chén trên vạt đất mới cuốc lật
Con mèo ngồi trên cái ghế đẩu dưới tấm cửa chống
Tiếng chuột đuổi nhau nửa đêm trên mái nhà
Có ai ở nhà bên cạnh kêu tên
Cây cỏ lùng mọc dưới nước chết khô
Những cọng rơm rớt vãi giữa đường
Hai con trâu nằm nhai cỏ đầu ngã ba sợi dây dắt mũi chảy nước
Con nhện sa trước mặt
Tiếng trẻ con ru em buổi trưa trời nắng
Những điều đó bỏ đi có khi tình cờ thấy lại
Không kể năm
Không kể tháng
Không kể ngày
Những bãi phân trâu trời mưa nước đọng vũng ở giữa
Chiếc chiếu rách phơi ngoài hàng rào
Cái lưng ướt mồ hôi của đứa con gái đi qua trước mặt
Tôi đứng yên một lúc
Những miếng vá làm cho hai ống quần của tôi dày thêm và cứng lại
Có chín mười giờ rồi
Đèn hết dầu
Tôi lấy chai ra đường kêu cửa mua chịu
Người bán hàng dim mắt ngó tôi đứng ngoài tối
Mấy đứa bán bánh về gặp tôi giữa đường hỏi tôi đi chơi
Trời mưa chưa to
Đường đi có tiếng người
Không biết ở nhà người khác về tôi có bỏ quên gì không
Tôi cứ nhìn phía trước
Gặp người quen chào đi khỏi một lúc lâu mới nhớ
Tôi bỏ tay vào túi quần xóc xóc hai đồng bạc kêng
Không biết mua cái gì cho con
Con chuồn chuồn hết đạp nước rồi đậu trên dây thép gai
Con bò kéo xe chở gạch bước lách cách
Người đánh xe đội chụp cái mũ levis ngồi dựa ngửa hút thuốc
Buổi chiều nước sông không có mặt trời
Tôi xoa hai đồng bạc kêng trên đầu mấy ngón tay
Năm năm
Mười năm
Hai ba mươi năm
Những nồi canh chuối cau trộn bột sắn khi đang nóng húp vội vàng
Chảy mồ hôi nước mắt
Ăn rồi ra đứng dựa cửa nhìn người đi qua đi lại
Bạn bè gặp nhau cứ nói chuyện trên trời
Miếng vá nơi quần lâu ngày chỉ đứt không biết
Tôi tưởng tôi dại và quá tội
Những điều bỏ qua khi không nhớ lại
Con kiến cắn ở sau lưng
Tay không với tới được
Cuộc đời kể cũng vui
Vỹ Giạ ngày 20 tháng 3 năm 1985
Lúc đó thế này em ơi
Em ơi
Thế này em ơi
Tôi đã hôn em như một kẻ bị ma ám
Dữ tợn và mệt mỏi
Sau đó tôi buồn quá sức
Em ơi là em
Tôi ngồi lại một mình dựa cột đình giữa chợ
Mở to hai mắt nhìn những nuột lạt trên mái tranh
Một hai ba bốn
Mười lăm mười sáu
Những nuột lạt đứt những sợi tranh mốc
Tôi đã thấy hết da thịt em
Thơm tho và mặn
Em mở miệng cười
Những sợi tóc ngắn những sợi tóc dài
Những sợi tóc đứt trong miệng tôi
Tôi có nghe em nói
Tôi có thấy cổ em dài
Tôi có thấy ngực em thở
Miệng tôi chảy máu
Em ơi là em
Tôi đã hôn em cực khổ như thế
Em có nhớ gì lúc đó
Buổi trưa mùa đông trời không mưa
Tôi không nghe tiếng nước giọt
Hai bàn chân em cong
Bây giờ tôi ngồi không một mình
Lúc đó tôi muốn chết
Cho em thấy không còn ai trên cuộc đời này
Và em sẽ lang thang như một mụ điên
Ăn hết quần áo
Cuối cùng đứng ở một góc chợ
Chờ trời mưa thật to
Vỹ Giạ ngày 20 tháng 6 năm 1989
(TCSH42/04&05-1990)
Tải mã QRCode
vốc chút tàn tro trong lò gạch lạnhngọn lửa xa xăm bỏng rát giữa lòng tayngày bất chợt trổ ngọn gió âm uký âm điệu kèn Saranai trên tàn câygià hơn ngàn tuổi...
...sông vẫn xanh màu xanh thuở ấykhác là bây giờ bên sông nhà chọc trời soi bóngô tô đan kín đại lộ lấp loáng nắng trưahình như gió xưa đang háthoa bằng lăng tím lối qua cầu...
LƯU LYTên thật: Trần Thị Vân Dung, sinh ngày 28.8.1978 tại Thanh Chương, Nghệ An.Thơ Lưu Ly là sự giãi bày nỗi niềm của một tâm hồn đa cảm mà đơn phương... Sự chân thành mộc mạc của tác giả sẽ mang lại cho người đọc chút “hương đồng gió nội” thật hiếm hoi trong dòng thơ hiện đại.
...Có nơi nào như đất nước tôitiếng trống tràng thành cũng lung lay bóng nguyệtthiếu phụ tiễn chồng ra trậnđêm trở về nằm gối nửa vầng trăng...
Trà Mi vốn là bí danh có từ thời hoạt động nội thành của Nguyễn Xuân Hoa được anh “nối mạng” vào “thương hiệu” thơ khi cái đẹp bừng nở trong tuệ giác.Dù không lấy thơ làm cứu cánh nhưng nó vẫn là một hằng số tâm linh đối với bất cứ ai trong mỗi một chúng ta. Sự tung hứng giữa cảm xúc và trí tuệ, sự cộng hưởng giữa truyền thống và hiện đại, sự bức xạ giữa ý tưởng và ngôn ngữ được coi như một nguyên tắc đồng đẳng trong thi pháp thơ Nguyễn Xuân Hoa.Nguyễn Xuân Hoa sinh năm 1947 tại Quảng Điền, TTHuế. Hiện là tỉnh uỷ viên, giám đốc Sở Văn hoá Thông tin TTHuế.Sông Hương trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc chùm thơ mới của anh.
...Em đã lấy những gìmà Chúa không cần nữaNgười đã ban tặng emMột tình yêu đau khổ...
Cách đây 700 năm, vào năm 1306, vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Champa, bờ cõi Đại Việt được mở rộng. Hai châu Ô, Lý được vua Chế Mân cắt để làm sính lễ dâng vua Đại Việt. Sau đó, hai châu này được đổi thành châu Thuận và châu Hóa. Thuận Hóa được hình thành từ cơ sở đó.Những bài thơ chữ Hán viết về vùng đất này sớm nhất có thể kể đến như Hóa Châu tác (Làm ở Hóa Châu) vào khoảng năm 1354 của Trương Hán Siêu (?-1354); Hóa Thành thần chung (Chuông sớm ở Hóa Thành) của Nguyễn Phi Khanh (1355-1428); Tư Dung hải môn lữ thứ (Nghỉ chân ở cửa biển Tư Dung) của Lê Tư Thành (vua Lê Thánh Tông 1442 - 1497)... Nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế (1306 - 2006) TCSH trân trọng giới thiệu cùng độc giả ba bài thơ này.HẢI TRUNG giới thiệu
Đá Hạ Long đa tình hóm hỉnhNên mái cong đuôi trống xoè lôngTrời và nước hồng hoang kết dínhSóng nôn nao như tiếng vợ gọi chồng...
...đêm bình yên linh hồn nương náusao ta một mình thao thứcsao ta một mình lay gọilối nào tới ban mai?...
...khoảng vườn xanh xưatrồng toàn cây cẩm túnở một bông thôi cũng đủ nhớ thương người...
...từng hàng cỏ mọc bon chencôn trùng nương náu cũng quen lâu rồi...
LTS: Nguyễn Xuân Hoàng viết nhiều, viết đủ các thể loại nhưng tác phẩm đã công bố phần lớn là truyện ngắn, bút ký, tản văn, tiểu luận v.v... còn thơ thì ít khi xuất hiện. Song, có lẽ thơ mới là “ngọc châu” trong văn nghiệp của anh. Những bài thơ gần đây được Hoàng viết ra như một sự dự phóng điềm gở của định mệnh.Khắc khoải yêu thương, khắc khoải đợi chờ là tâm trạng của Hoàng được “mã hoá” trong chùm thơ mà Sông Hương vừa tìm thấy trong di cảo của anh.
...Xin hãy để ta mơ về Hợp NhấtLòng bản thể thẳm sâu hòa điệu giữa lòng ta...
LÊ HUỲNH LÂMSinh năm 1967, tại Phú Vang - Thừa Thiên Huế; Kỹ sư tin học (ĐH Bách Khoa Hà Nội). Tác phẩm đã in: Sông hoa (tùy bút)....ấy là một khuôn mặt trầm tư? U uất? Khuôn mặt với đầy đủ đặc tính của một “triết gia bi đát”. Bây giờ, những ngôn từ mà anh dày công nhào nặn đã ý thức hơn về vị thế của mình trong đoản - khúc - người, và chúng không còn cưỡng bức xác thân anh đi ngược chiều nhân loại nữa. Những ngôn từ (bị dòng đời ám ảnh) đã tự sắp đặt thơ. Bây giờ, thơ trở thành tính từ của thân phận mỗi khi cõi lòng anh lên tiếng...Sông Hương xin chuyển tới bạn đọc ba “cột thơ” rút từ ngôi nhà của anh.
...Không còn ở trong vòm cửa hẹpCả khoảng không bừng sáng quanh ta...
...Tiếng aiTrong gióHú dài…
LGT: Như một chuyến hành hương về nguồn cội, với nghĩa cử cao đẹp, Công ty Văn hoá Trí tuệ Việt đã cho ra đời tập sách HUYỀN THOẠI TRƯỜNG SƠN, gồm nhiều thể loại như bút ký, hồi ký, thơ, nhạc,... Đặc biệt hơn hết là danh sách đầy đủ, chính xác của 10.263 anh hùng liệt sĩ yên nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn.
Sông Hương xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc những dòng thơ được thắp lên từ HUYỀN THOẠI TRƯỜNG SƠN - như một nén nhang gọi hồn những người đã ngã xuống!
LGT: Trong cuộc đi tìm mình khắc khoải ở trời , Nguyên Quân mang theo những u uẩn của quá nửa phần đời để mỗi buồn ngồi gặm nhấm. Chắc hẳn cũng nhờ vậy, anh đã làm được một điều không dễ - ấy là gọi tên đúng nỗi buồn giữa mênh mang thi phú...Sông Hương xin giới thiệu chùm thơ của Nguyên Quân mà hai trong số đấy sẽ được tuyển vào 700 năm thơ Huế.
Hơn một năm trước, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giương cao Lá cờ trắng. Nhưng dường như đấy chỉ là hình thức “trá hàng” của một nàng thơ giữa độ hồi xuân.Không hiểu tự bao giờ, loài cúc dại đã cắm rễ vào cõi hồn đa mang của chị hút đến cả nỗi đau dung dưỡng xác thân trong kiếp luân hồi đầy khổ nạn. Tập thơ mới nhất của chị, là sự bung nở của vô vàn cúc dại, để trí nhớ đất này thêm những phút thăng hoa...
HẠ NGUYÊN* Sinh năm 1966 tại Hương Cần - Hương Trà - TT. Huế* Hội viên Hội Nhà báo Việt , Ủy viên BCH Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế khóa IV (2007 - 2012).* Hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế* Có nhiều tác phẩm in chung trong các tuyển tập: “20 truyện ngắn và ký 1975 - 1995”, “25 truyện ngắn và ký 1975 - 2000”, “Thời gian và nỗi nhớ”, “Trịnh Công Sơn - cát bụi lộng lẫy”, “Thừa Thiên Huế trong cơn đại hồng thủy (2000)” v.v.