LÊ VĨNH THÁI
Minh họa: Nhím
Khi hoa vàng nở rực triền đồi
em hứa đưa tôi lên ngọn đồi
nơi có căn nhà gỗ và đàn chim từng chiều bay nhảy
có gã di gan bóc từng viên sỏi thả vào ngày
em nói
con sói đã rời bầy đi khỏi ngọn đồi
chiều tiếng hú dội lên vách núi
nó sẽ cô độc
tiếng dội chẳng bao giờ cầm được
khi tôi hỏi em con đường thông còn cây nào rì rào câu chuyện
về khúc cua ngoặt triền dốc chao chát nụ môi hôn gió qua đồi
vi vút
thời của đôi dép làm bằng chứng
đôi dép đã mục nát triền đồi
có con đường nào băng qua ký ức tôi về lại
lối nhỏ nào lắm người đi tôi ngăn lối
buộc lại hơi thở ngày tháng cũ mèm còn đọng đầy trên lá
em vẽ tôi bằng ngọn cỏ lau màu đông trắng lạnh
và nặn khuôn mặt đất
vì như thế tôi sẽ ở đó chẳng như gã cao bồi, đi săn
em nhìn đến khi chán mặt
em hứa sẽ tặng tôi mũi tên vào lồng ngực
khi hoa vàng nở rực triền đồi
và em đã thả tôi
buổi chiều trên cánh đồng tím đầy hoa dại
em chỉ con đường
và đi bằng bước chân chậm chạp
cười theo tiếng lục lạc xe ngựa
thong dong qua dốc
giờ em đã ra khỏi đường đầy xác thông
tôi đứng trên thân cây gãy mục
nghêu ngao
nhà thờ điểm chuông
tôi
vẫn đứng bằng hình hài tượng
mùa hoa vàng vẫn chưa về
thoi thỏi dốc
gió
bầy sói và gã di gan đã đi xa hơn bên kia núi
mùa hoa vàng...
Người đàn bà đốt lửa qua đêm
người đàn bà đốt lửa
đêm nối dài sợi chỉ xoắn nâu màu mắt
loang lỗ tay hoang vừa dừng điểm gắp
ố vàng chân dung người, phố
ngã ba đường cuối ngày mưa lạnh
người đàn bà đốt lửa
qua đêm
người đàn bà đốt lửa
đêm qua
ngựa cuồng chân, điên
cừu nuôi giấc thảo nguyên mưa sâu rừng ướt
lũ cò sục mảnh dưới cội sen tàn
vừa rơi khỏi chiếc bình sứ đỏ
người đàn bà nhúm lửa
tím lên dòng sông ngậm thạch xương bồ
chiều phủ đệ hoang lạnh lãnh cung
bầy tâm thần nghĩ về kiếp trước
vàng son và đêm tối
người đời màng chi cung nữ
lửa luênh loang thếp son vào bóng
người đàn bà trở về
đốt lửa
ngâm ánh mắt trong chiếc bình màu
những dấu hỏi nhảy vọt khỏi bức tường trống trải
nhiều khi muốn tự thú với con sông
từ ngày chưa cạn
trăng đêm hạ huyền
giấc mơ sớm mai vỡ đầy mưa
người đàn bà ủ than
mắt lửa
giấy trần truồng trong chiếc khung vờn những đường gân
úa nhựa trên con mắt gỗ
xoáy tròn mấy mươi vòng quay thân phận
người đàn bà sờ những vì sao lạc
trên chiếc lưng trần
cành sen vừa qua mùa hạ
ngày đi như gió
đêm khắc khoải
dài
người đàn bà
ngồi
đốt lửa
đêm...
(TCSH327/05-2016)
Tải mã QRCode
NGUYỄN KHOA NHƯ ÝĐắm đuối
NGÔ MINHThơ tặng tuổi 50
NHẤT LÂMBên hồ Thanh Thủy
NGUYỄN QUANG HÀTổ Quốc
NGÔ MINHThơ đề trên phiến mai non
ĐỖ VĂN KHOÁILần đầu với Thanh Hóa
Võ Quê - Thanh Tú - Nhật Hoài Phương - Liễu Thượng Văn
NGUYỄN QUANG HÀ Bút ký thơ
Minh ơi Gửi hương hồn em tôi
TRẦN HOÀNG PHỐ ĐÔNG HÀ NGUYỄN THIỀN NGHI
Sinh năm 1973, quê Đại Lộc, Quảng Nam. Hiện là giảng viên Hán Nôm, Khoa văn ĐHSP Huế.Thơ anh giàu cảm xúc, luôn bộc lộ những ưu tư, khao khát. Tất cả những gì anh viết là nỗi niềm chân thực như chính bản thân anh.
Hoa hồng
Giếng làng
Quê ở Kim Long - Huế, hiện sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.Có nhiều thơ in báo, in tuyển tập, in chung và 2 tập riêng: Lan miền Hương Ngự (năm 2000), Biếc xanh em (năm 2004).Đã là phái đẹp, hơn nữa lại đẹp trên xứ sở “mĩ miều” vốn nổi tiếng đất kinh kì (Kim Luông có gái mĩ miều/Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi) lại còn làm thơ như chính Nàng thơ tuỳ nhiên “hiển thị”.Thơ Võ Ngọc Lan hồn nhiên mà kín đáo, dung dị mà đằm thắm... Sông Hương trân trọng giới thiệu chùm thơ mới của chị.
LTS: Trong những ngày cuối tháng 6, đầu tháng 7. 2009. Trại sáng tác VHNT Quảng Điền 2009 đã được tổ chức bên bờ biển thôn Tân Mỹ ngập tràn nắng gió. Nhiều giai điệu đã được cất lên trong âm vang sóng vỗ. Nhiều dòng thơ đã được khơi nguồn cảm hứng từ trầm tích văn hóa Tam Giang. Sông Hương xin giới thiệu một số tác phẩm đó do các văn nghệ sĩ vừa mới chuyển về.
Tên thật là Nguyễn Minh Châu, sinh năm 1947 tại Diễn Thành, Diễn Châu, Nghệ An. Hiện sống và viết tại Hà Nội.Là thương binh 2/4, từng đánh giặc và làm thơ ở các mặt trận Trị Thiên, Tây Nguyên, Nam Bộ từ năm 1966 cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.Thơ Châu Nho xuất hiện lần đầu trên văn đàn cùng thời với Hữu Thỉnh, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật v.v...Sau một thời gian khá dài phải vừa chạy chữa vết thương ở chiến trường tái phát, vừa lo ngăn chặn “vết thương” ở thương trường có thể xảy ra, anh lại tự “cân bằng” mình với thơ.Sông Hương trân trọng giới thiệu chùm thơ của anh viết về Huế và về đời thường người thương binh trong công cuộc đổi mới.
Sinh năm: 1949Quê quán: Lệ Thuỷ, Quảng BìnhTốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du (Khoá 1)Hội viên Hội Nhà văn Việt NamUỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà Văn Việt Nam
LTS: Xưa nay, trong đời thường, vẫn có những người làm thơ một cách lặng lẽ rồi lại đem cất giấu đi cũng rất lặng lẽ. Về phương diện này, họ sống như những người mai danh ẩn tích. Hẳn bạn đọc còn nhớ, hơn chục năm trước, một cán bộ văn phòng Hội Nhà văn đã gây ngạc nhiên trên văn đàn với hiện tượng thơ Phùng Khắc Bắc từ hiệu ứng lặng lẽ ấy. Đó là khi qua đời, người ta đã phát hiện ra di cảo thơ của ông, rồi đem in, rồi được giải thưởng, rồi nó mang tên tuổi ông vào chễm chệ trong Từ điển tác gia văn học Việt Nam thế kỷ XX.Chúng tôi có ý định dành cho bạn đọc một sự ngạc nhiên mới nhưng rất đáng tiếc là người thơ lặng lẽ ở đây vẫn muốn được “bình an” và chỉ đồng ý công bố tác phẩm với bút danh Trà Mi.Cái tên rất mới với Sông Hương và cũng sẽ rất lạ với bạn đọc, nhưng thơ Trà Mi đã có giọng riêng ở đẳng cấp chuyên nghiệp tự bao giờ. Xin mời bạn đọc thử xem có đúng vậy không?
VĨNH NGUYÊNTên thật: Nguyễn Quang VinhSinh ngày 3-11-1943Quê quán: Quảng BìnhHội viên Hội Nhà văn Việt Nam
BỬU NAMINhiều khi tham thiền ta nhìn bóng ta trên váchChín con mắt linh hồn mở chín cõi xa xămLòng vọng tưởng ta thường mường tượng tới Gió xuân thì thổi rợn những đêm xanh