Trang thơ Jon Fosse

08:37 25/01/2024


Tác giả Jon Fosse, người Na Uy, 64 tuổi, đạt Giải Nobel Văn học 2023 nhờ “những vở kịch và văn xuôi tân tiến, lên tiếng cho những điều không thể nói”.

Ảnh: tư liệu

Tại buổi lễ - diễn ra lúc 13 giờ ngày 6/10 (giờ Stockholm, tức 18 giờ - giờ Hà Nội), Anders Olsson, Chủ tịch Ủy ban Nobel, vinh danh Jon Fosse. Tác giả sẽ nhận phần thưởng 11 triệu krona Thụy Điển (khoảng 991.000 USD).

Ủy ban nói về Fosse: “Tác phẩm đồ sộ của ông, viết bằng tiếng Na Uy và trải dài trên nhiều thể loại, bao gồm vô số vở kịch, tiểu thuyết, tuyển tập thơ, tiểu luận, sách thiếu nhi và các bản dịch. Ngày nay, ông là một trong những nhà viết kịch có tác phẩm được biểu diễn rộng rãi nhất trên thế giới, ông cũng ngày càng được công nhận trong lĩnh vực văn xuôi”.

Fosse, sinh năm 1959 tại Haugesund, trưởng thành ở miền Tây Na Uy, trong một trang trại nhỏ tại Strandebarm. Ông bắt đầu viết thơ và truyện từ năm 12 tuổi. Ông từng chia sẻ: viết lách là một hình thức giải thoát. “Tôi tạo ra không gian riêng của mình trên thế giới, một nơi mà tôi thấy an toàn” - ông nói với The Guardian năm 2014.

Hồi trẻ muốn trở thành tay guitar chơi rock, ông theo học ngành văn học so sánh ở Đại học Bergen và xuất bản tiểu thuyết đầu tiên Red Black năm 1983, ông viết bằng Nynorsk - ngôn ngữ thiểu số, thay vì tiếng Bokmal - ngôn ngữ Na Uy được sử dụng rộng rãi hơn trong văn học. Fosse cho hay, việc lựa chọn Nynorsk là bởi ông đã trưởng thành với ngôn ngữ này.

Cuốn tiểu thuyết đầu tay “Red, Black” khởi đầu một sự nghiệp lẫy lừng. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông gồm tiểu thuyết “Melancholia”, “Morning and Evening”, “Septology”…

Dù khởi đầu là nhà thơ, tiểu thuyết gia, Fosse vang danh với tư cách là một nhà viết kịch. Ông được công nhận quốc tế vào cuối những năm 1990 với vở kịch đầu tiên tại Paris “Someone Is Going to Come”. Ông viết vở kịch này trong vòng 4 hoặc 5 ngày và không hề sửa lại kịch bản.

Trong 15 năm, ông tập trung vào sân khấu và đi nhiều nơi trên thế giới để quảng bá các tác phẩm của mình. Sau đó, ông ngừng đi khắp nơi, bỏ rượu, cải đạo sang Công giáo và tập trung hẳn vào viết tiểu thuyết.

Fosse chia sẻ, hàng thập kỷ viết lách đã dạy ông khiêm tốn, gạt những kỳ vọng sang một bên. “Khi bắt đầu viết, tôi không bao giờ cảm thấy chắc chắn rằng mình có thể viết được một tác phẩm mới. Tôi không bao giờ lên kế hoạch trước bất cứ điều gì, tôi chỉ ngồi xuống và bắt đầu viết. Và có một thời điểm nào đó, khi tôi cảm giác rằng tác phẩm đã sẵn sàng để viết ra, tôi chỉ cần viết ra trước khi nó biến mất” - ông nói.

Tác phẩm của ông bao gồm khoảng 40 vở kịch, nhiều tác phẩm tiểu thuyết, thơ, sách thiếu nhi và sách dịch.

Dưới đây là một số bài thơ của Jon Fosse trích từ trang Poemhunter.com (Theo bản tiếng Anh của May-Brit-Akerholt).

                                                              Thân Trọng Sơn dịch và giới thiệu

 

JON FOSSE

Một con người đang ở đây

Một con người đang ở đây
rồi biến mất
trong một trận gió
tan vào
phía bên trong
 gặp những chuyển động
của đá núi
 trở thành ý nghĩa
trong sự hợp nhất luôn mới mẻ
của cái là
 cái không là
trong im lặng
nơi gió
trở thành gió
nơi ý nghĩa
trở thành ý nghĩa
trong sự chuyển động biến thân
của mọi thứ đã có
 lập tức có
từ một cội nguồn
nơi âm thanh mang nghĩa
trước khi ngôn từ tự phản thân
 từ đó chẳng còn gì xa cách con người
Nhưng nó có
trong toàn bộ quá khứ và tương lai
 có
trong cái gì
không tồn tại
trong ranh giới đang biến tan
giữa cái đã có
 cái sẽ tới
 vô cùng và không khoảng cách
trong cùng một chuyển động
 dọn sạch
 biến mất
 vẫn còn đây
trong lúc biến thân
 nó thắp sáng
vùng tối tăm của mình
 chẳng ở đâu
 ở khắp nơi
 ở gần
 ở xa
 thân thể với tâm hồn nhập lại
như là một
 nó nhỏ nhoi
 to lớn
như mọi thứ
nhỏ như không có gì
 ở nơi có tất cả hiển minh
 không gì biết được
trong tự thân sâu nhất bên trong
nơi không gì chia cắt
 mọi thứ lập tức là chính nó và tất cả những gì khác nó
trong cái bị cắt chia
 không bị cắt chia
trong ranh giới vô tận
Cách thức tôi để nó biến đi
trong hiện diện hiển nhiên
trong chuyển động tan đi
 bước đi loanh quanh trong ngày
nơi cây là cây
nơi đá là đá
nơi gió là gió
 nơi ngôn từ toàn bộ không thể hiểu
về mọi thứ đã có
về mọi thứ biến mất
 những gì còn lại
 ngôn từ hòa đàm.


Núi nín thở

Một hơi thở thật sâu
 ngọn núi đứng đó
Rồi ngọn núi vẫn đứng đó
Đấy là cách núi hiện hình

 cúi mình
Cúi xuống
Vào chính mình
 nín thở

Trong khi biển và trời
Vỗ về và đánh đập
Ngọn núi nín thở


Như con thuyền trong cơn gió nhẹ

Bạn và tôi
Bạn và ánh trăng
Bạn và cơn gió
Bạn
 các vì sao
 lẽ
Trước các mùi hôi thối
Của thi thể
Đang bị chôn vùi
Dưới lòng đất
Những người khác, như chính tôi
Hoặc những người đang cháy bỏng
Trong niềm hy vọng tuyệt vọng
Chẳng đau đớn, tất nhiên là phải vậy

Vâng, như con thuyền trong cơn gió nhẹ.


Chỉ biết

ca khúc, ca khúc biển khơi
lướt từ dãy núi xuống đồi dốc xuôi
rồi xuyên ngang khắp bầu trời

trong bay xanh, tỏa chơi vơi mờ mờ
về nơi chúng ta đang cùng hội ngộ
 nơi ta mãi mãi thinh

thôi thì chỉ biết vậy thôi


Thánh vịnh đêm

 trái đất mở toang
đêm vực thẳm đen của nó
 tâm hồn và thân xác sẽ giấu che
cho đến lúc không còn gì thiếu vắng

 một đêm gặp gỡ ta
đón nhận ta êm đềm tử tế
 để ta trân trọng cho ngơi nghỉ
bàn tay, bàn chân và tâm hồn bay trên cao

 Thượng đế ở trong tất cả những gì trên mặt đất
trong đêm trù phú trên kia
hồn ta là hồn Người, ta là thế giá của Người
ta rạng rỡ tình yêu của Người trên thiên giới

J.F
Nguồn: Poemhunter.com
(TCSH418/12-2023)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • KURT HEYNICKE(Nhà thơ biểu hiện Đức sinh năm 1891)LGT: Kurt Heynicke là nhà thơ biểu hiện nổi tiếng của nước Đức. Ông được giải thưởng thơ “Kleist” vào năm 1913.Bài thơ Vườn thống khổ (Gethsemane), được trích từ Mensch heitsdammerung, do Kurt Pinthus thực hịên, được tái bản nhiều lần. Chúng tôi xin giới thiệu bài thơ đó với bản dịch của dịch giả thơ phương Tây nổi tiếng, Diễm Châu.

  • ROBERTO JUARROZ(Nhà thơ Achentina 1925 – 1995)LGT: Roberto Juarroz là nhà thơ hiện đại Achentina được thế giới biết đến nhiều hơn cả, có lẽ chỉ sau Jorge – Luis Borges. Ông sinh ngày 5/10/1925 tại Coronel Dorrego thuộc Buenos Aires, và mất ngày 31.3.1995 cũng tại thủ đô Achentina, sau một cuộc đời lưu vong vì chế độ độc tài của quốc gia ông. Ông là tác giả của 15 tập thơ cùng mang tên duy nhất Thơ thẳng đứng (Poesía vertical) chỉ khác nhau ở số thứ tự I đến XV. Ông còn là giáo sự đại học Buenos Aires, chuyên viên truyền thông (thư viện) của Liên Hiệp Quốc đồng giám đốc tạp chí thơ (Poesía), nhà phê bình văn chương ở tạp chí Gaceta (Tucumán), nhà phê bình điện ảnh và kịch ở tạp chí Esto.

  • TOMAS TRANSTROMER (Thụy Điển)LGT: Tomas Transtromer (1931-) là một trong những nhà thơ hiện đại Thụy Điển nổi tiếng thế giới, từ những năm 50 của thế kỷ XX, ông nhận được các giải thưởng lớn: Pétrarque (Đức) năm 1981, Neustadt Internationl (Hoa Kỳ) năm 1990, giải Bắc Âu (Viện Hàm lâm Thụy Điển) năm 1991, giải Hort Bienek (Đức) 1992. Toàn tập thơ ông được xuất bản năm 1996. Thơ ông được dịch ra 43 thứ tiếng. Ông thường sử dụng thể tự do hoặc thơ văn xuôi với ngôn từ thơ trong sáng nhưng sức mạnh ở chỗ nó hòa quyện được những phúng dụ bác học và những mô tả chính xác về thế giới vũ trụ bật dậy những cảm xúc.

  • OCTAVIO PAZ  (Nobel 1990)Tặng Roman Jakobson      LGT: Octavio Paz (1914-1998), nhà thơ Mêhicô nổi tiếng, giải thưởng Miguel de Cervantes 1981, giải T. Eliot 1987, giải Nobel 1990. Tác giả của 5 tập thơ, sau này in lại trong Obra poética (Tác phẩm thơ 1938 - 1988), 23 tập tiểu luận về văn học nghệ thuật. SH xin giới thiệu một bài thơ “tuyên ngôn thơ” của ông, NÓI: LÀM qua bản dịch của dịch giả Dương Tường.

  • HAROLD PINTER (Nobel 2005)LGT: Harold Pinter, nhà văn Anh, giải thưởng Nobel 2005, được vinh danh với những vở kịch, những kịch bản phim, ông còn là nhà thơ nổi tiếng. Bài diễn văn đọc trong buổi lễ nhận giải Nobel của ông, quyết liệt trong sự chống Mỹ làm Tổng thống Bush rầu lòng. Bài thơ “Thói đồi bại” được giới thiệu dưới đây, vừa mới công bố cách đây ít lâu trên The Guardian ngày 26 - 01 - 2006.

  • LGT: Harold Pinter, sinh năm 1930 tại London , Anh quốc. Ông là một kịch tác gia, nhưng cũng là nhà thơ, đạo diễn, diễn viên, nhà hoạt động chính trị (ông đặc biệt chống lại sự lạm dụng quyền lực trong quan hệ quốc tế, như chống lại việc NATO đánh bom , Mỹ tấn công ).

  • SAM HAMIL LGT: Sam Hamil, nhà thơ Mỹ, nổi tiếng với website chống chiến tranh của Mĩ ở , tập hợp 13.000 bài thơ của 12.000 nhà thơ Mỹ và thế giới, đồng thời chủ biên tập thơ “Những nhà thơ chống chiến tranh” (Poets against The War, NXB Nation Books, 2003), thuộc loại best-seller (bán chạy nhất) ở Mỹ.

  • Nhà thơ, dịch giả Diễm Châu, sinh năm 1937 tại Hải Phòng. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gòn, sau đó tu nghiệp tại Hoa Kỳ về truyền thông. Trước 1975, ông làm Tổng thư ký Tạp chí Trình Bầy. Định cư tại Strasbourg, Pháp từ 1983 cho đến ngày tạ thế. Ông đã vĩnh viễn ra đi vào sáng ngày 28 tháng 12 năm 2006.

  • SEAN LUNDELGT: Sean Lunde là một nhân viên của Trung tâm William Joiner. Hiện anh là sinh viên của Đại học Massachusetts Boston, Hoa Kỳ. Đã từng là cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh tại , do vậy Sean Lunde hiểu rõ được thế nào là một cuộc chiến tranh phi nghĩa và các hậu quả xã hội của nó.

  • ANNE-MARIE LÉVYAnne-Marie Lévy là người Pháp gốc Na-Uy, hiện giảng dạy tiếng Phạn và văn hoá Ấn Độ ở Đại học Bordeaux III. Sau Hiệp định Genève năm 1954, bà cùng chồng làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội trong nhiều năm. Trở về Pháp bà theo dõi cuộc chiến ở Việt và viết sách bằng tiếng Na-Uy để giới thiệu Việt cho độc giả Bắc Âu.Bài thơ này được làm theo thể haiku của Nhật Bản. Thể haiku gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn có ba câu lần lượt 5 âm tiết, 7 âm tiết rồi lại 5 âm tiết (5-7-5). Bài dịch ra tiếng Việt tuân thủ qui tắc của haiku.

  • EILEEN HEANEYLGT: Eileen Heaney là một họa sĩ sống ở Boston, Mỹ. Năm 1997 bà cùng với chồng là ông James Hullett – Triết gia, giáo sư đại học và là giám đốc một nhà xuất bản sách triết - về Việt Nam để nhận bé Frankie từ trại trẻ mồ côi Hội An, Đà Nẵng làm con nuôi.

  • MYLÈNE CATELLGT: Mylène Catel sinh năm 1966, tại Normandie (Pháp).Thạc sỹ Anh văn và Tiến sỹ Pháp văn.Hiện sống ở Hoa Kỳ - nơi bà giảng dạy văn chương tại Đại học Michigan.Bà đã xuất bản hai tập thơ: "Le Jongleur Fou" (1995), Paris, Editions Caractères; "JC" (1996), Paris, ditions Caractères.

  • YVES BONNEFOYYves Bonnefoy sinh năm 1923, tại Tours (Pháp).Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật và là nhà biên khảo, phê bình văn học nghệ thuật nổi tiếng của nước Pháp, với gần 50 tác phẩm có giá trị về đủ thể loại. Nghĩ về văn học, nghệ thuật, ông quan niệm “đó là cuộc chiến đấu không ngừng để chống lại sự cám dỗ mang tính giáo điều và tư tưởng duy khái niệm”. Vì vậy, thơ Yves Bonnefoy là tiếng nói đa thanh, luôn va đập và sinh thành, luôn giao động giữa hiện thực và siêu thực, giữa vô lý và hợp lý để nói lên mối liên hệ giữa con người và thế giới đang vận động, bất ổn. Như cách thể, để chống lại sự sáo mòn, bảo thủ do  sự già nua, hoài nghi và vô cảm của con người.                                                                                        HỒ THẾ HÀ

  • TANG HẰNG XƯƠNG (Trung Quốc)LTS: Sinh năm 1941. Đã xuất bản 6 tập thơ. Thơ Tang Hằng Xương có những từ ngữ, hình ảnh, ý tưởng... rất kỳ lạ và táo bạo; đã được dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hàn và gần đây là tiếng Việt (báo Văn nghệ, Tạp chí Văn học nước ngoài - H.D.dịch và giới thiệu). Những bài thơ dưới đây lấy từ tập thơ Nhớ cha mẹ (Tang Hằng Xương - Hoài thân thi tập) in lần thứ nhất 1999, in lần thứ hai 2001. (Tang Hằng Xương mồ côi mẹ năm mười hai tuổi).

  • LTS: Vlađimir Maiakôvxki là “lá cờ đầu của thơ ca Tháng Mười Nga”. Nhân kỷ niệm 85 năm Cách mạng tháng Mười Nga, chúng tôi mời nhà phê bình - giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, một chuyên gia về Maiakôvxki, viết bài về tiếng thơ của Maia trong cuộc sống và thế giới ngày hôm nay. Nhà phê bình đã gửi cho chúng tôi bản dịch một bài thơ của Maia và trình bày mấy ý kiến hết sức ngắn gọn.

  • Margaret Atwoods là một trong số nhà thơ viết bằng tiếng Anh hàng đầu ở . Sinh năm 1939. Bà đã xuất bản trên 10 tập thơ, trên 10 tiểu thuyết, một số sách phê bình và sách cho trẻ em, đã nhận nhiều giải thưởng và bằng cấp danh dự. Gần nhất là Giải Pulitzer 2001 về tiểu thuyết. Thơ M.Atwoods đầy tinh thần phản kháng, trầAn trụi và khốc liệt khi cần vạch trần sự thật về thân phận người đàn bà ở khắp nơi trên thế giới, một mặt lại vỗ về nâng giấc che chở đối với người mình yêu. Quả là một nữ tính của thế kỷ. HOÀNG HƯNG chuyển ngữ từ nguyên bản.

  • LANGSTON HUGHESLGT: Langston Hughes (1902-1967) là một trong những cây viết chủ lực của  phong trào văn học nghệ thuật của người Mỹ gốc Phi - châu trong thập niên 1920, mệnh danh là phong trào Phục Hưng Harlem (Harlem Renaissance)- một nỗ lực nhằm cổ động lòng tự hào về màu da và văn hóa da đen.

  • LTS: Robert Creeley sinh năm 1926, có một cuộc đời nhiều biến động. Hai lần bỏ học đại học giữa chừng, hai lần ly hôn, hai lần sang làm việc ở các nước thế giới thứ ba (năm 1944 lái xe cứu thương trong lực lượng American Field Service ở Ấn Độ và Miến Điện.

  • ...Thế nhưng trên đôi tai hoá đáSự im lặng vẫn thét gàoVang dội trong năm tháng với những thanh âm thịnh nộ...

  • LTS: Werner Lambersy thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ đương đại của Pháp. Thơ ông là sự kết hợp thần tình giữa lối tư duy luận lý sắc sảo cùng khả năng trực cảm cực kỳ tinh tế. Điều đó khiến cho thơ W.Lambersy làm hiện hình được bản chất đời sống ở những nơi chốn mong manh nhất. Dưới con mắt nhà thơ, cái đẹp luôn biến ảo, không dừng lại, lần theo dấu vết của chúng, bạn sẽ khám phá thấy những chân lý hoàn toàn bất ngờ. Những bài thơ dưới đây, chúng tôi rút ra từ một tập thơ xuất bản năm 1998 của W.Lambersy do trung tâm sách quốc gia của Pháp đỡ đầu và ấn hành.