CAROLYN FORCHÉ
|
Nhà thơ, giáo sư Carolyn Forché là một trong những nữ thi sĩ đương đại hàng đầu của Mỹ và là tác giả của 12 quyển sách. Chồng cũ của bà từng là một cựu binh tham chiến ở Việt Nam. Chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh qua những vết thương tâm lý và thể xác dai dẳng của chồng, bà đã tích cực tham gia phong trào phản chiến. Trong một cuộc biểu tình phản đối việc thả bom và mìn xuống cảng Hải Phòng, bà đã bị cảnh sát đánh dùi cui vào đầu và bị thương. Bà sáng tác bài thơ “Huế: từ quyển sổ tay” khi đến Việt Nam lần đầu tiên. Các tác phẩm thơ của giáo sư Carolyn Forché đã nhận được nhiều giải thưởng danh giá như: giải thưởng thơ Lannan, giải thưởng John Simon Guggenheim, giải thưởng của Quỹ Phát triển nghệ thuật quốc gia, giải thưởng Robert Creeley, giải thưởng Windham-Campbell… Hiện bà là giáo sư của trường đại học Georgetown và là giám đốc trung tâm thơ ca Georgetown Lannan. |
Huế: từ quyển sổ tay
Xuôi trên sông Hương trên chiếc thuyền rồng
Chúng tôi đến ngôi chùa với ba pho tượng Phật vàng trầm mặc
Hãy khẩn cầu ở đây - một cậu bé thầm thì - ông bà có thể xin Phật ban cho hạnh phúc
Chúng tôi thắp hương, thả những chiếc nến trong túi giấy xuống nước
Thân xác chúng tôi rời đi, hồn ở lại trên thuyền
Những người lính bên cạnh tôi đã từ bỏ chiến tranh từ nhiều thế kỷ
Tóc họ bạc màu, những mái tóc pha sương, vầng trăng mắc kẹt giữa bông hoa sứ
Nước mắt họ trôi cùng với sông Hương
Nước mắt họ chảy theo ánh nến chập chờn
Hàng nghìn ngọn nến trôi trên sông, một quyển sổ tay mở ra trong bóng tối
Bầu không khí yên lặng như sự im lặng trước khi mìn nổ tung
Một thời những người lính này đã bắn vào nhau
Bây giờ họ lặng lẽ bên nhau, những bông hoa sứ cạnh những bông hoa sứ
Chợt tiếng những cánh cò xao xác vụt lên, những sợi xích xe đạp lạch cạnh trên phố
Ở đây trên mười ngàn ngôi mộ những bông cúc nằm nghiêng
Chúng ta như những áng mây cứ trôi đi mê mải
Một cựu binh thở dài và nói
Sẽ thế nào khi chúng ta không giống những đám mây?
Chúng ta là những ống sáo trên cánh đồng nằm chờ hơi thở
Khu vườn Shukkei-en, Hiroshima
Bằng con đường của một chiếc cầu đã biến mất chúng tôi vượt qua con sông này như đám mây tuyết dâng trào lên núi
Bà đã luôn sợ hãi việc đến nơi này
Đó là con sông mà bà nhớ nhất, cả người sống và người chết đang khóc than cầu cứu
Một thế giới đã không cho phép những giọt nước mắt và cả sự than van
Những cây tùng vuốt tóc cho bà khi bà đi ngang bên dưới, và những sợi kẽm gai sáng chóe cũng thế
Nơi hiện có chiếc hồ, ở đó đã là một chiếc hồ, nơi những cây thông đen đang mọc, nơi đã mọc những cây thông đen
Nơi hiện không có quán trà, tôi thấy một quán trà bằng gỗ và thi thể của những con người đã ngủ bên trong
Bên kia bờ thành phố Ota, một cây liễu rủ khắc trí nhớ của nó về gương mặt họ thẳm sâu vào nước
Nơi ánh sáng chạm vào khuôn mặt, nét chữ của trái tim đang được viết lên
Bà chạm vào một thân cây cháy đen được rơm bao bọc, rồi nói:
Tôi đã kiệt sức và da của tôi lủng lẳng trên những đầu ngón tay như vải
Cô có nghĩ rằng trong một phút giây chúng tôi đã là con người đối với họ?
Bà đến chỗ tượng thiên thần bằng đá, những con hạc giấy trên tay
Không phải thiên thần, mà là người phụ nữ đã từng tồn tại, người đã đi qua khu vườn Shukkei-en
gọi cá chép nổi lên mặt nước bằng tiếng vỗ tay
Người Mỹ có nghĩ đến chúng tôi không?
Bà bắt đầu nói khi chúng tôi ngồi bệt xuống những bàn cầu:
nếu cô muốn, tôi sẽ kể cô nghe, nhưng tôi sẽ không bao giờ nói hết
Chúng tôi đã cố băng bó những vết bỏng của mình với dầu thực vật
Tóc bà là bọt cơm trắng dâng lên ấm đun nước, cũng như tâm trí của bà
Trong những năm sau chiến tranh bà đã trở trăn về việc sẽ sống thế nào
Lời chào thông thường dozo-yirosghku có nghĩa là làm ơn chăm sóc tôi
Tất cả nạn nhân bom nguyên tử còn sống tới giờ từng là những đứa trẻ
Một nghĩa trang nhìn thấy được từ trên không là thành phố của một đứa trẻ
Tôi không thích bông hoa đỏ này vì nó gợi tôi nhớ đến bộ não của một người phụ nữ bị nghiền nát dưới một mái nhà
Có lẽ ngôn ngữ của tôi chính xác quá, và vì thế khó hiểu?
Biết bao năm rồi, chúng tôi đã không cảm thấy điều mà cô gọi là hạnh phúc
Nhưng thỉnh thoảng, nếu gặp may, chúng tôi trải nghiệm một điều gần như thế
Như cuộc đời chúng tôi đại diện cuộc đời, và khu vườn này, khu vườn
Và trong sự yên lặng bao quanh những gì đã xảy ra với chúng tôi
tiếng chuông đánh thức Thánh thần là điều chúng tôi đã và đang nghe thấy
Hiroshima, 1983
Đại tá(*)
Những gì bạn đã nghe là sự thật. Tôi đã ở trong nhà ông ta. Vợ ông đã mang tới khay cà phê và đường. Con gái của ông ta đã dũa móng tay, con trai ông ra ngoài chơi đêm ấy. Ở đó có những tờ báo ngày, những con chó cưng, một khẩu súng trên chiếc nệm cạnh ông. Bên trên ngôi nhà, vầng trăng đung đưa xao xác trên sợi dây đen của nó. Chương trình truyền hình về cảnh sát đang phát trên tivi. Bằng ngôn ngữ tiếng Anh. Những chiếc chai vỡ ẩn mình trong những bức tường bao quanh nhà để múc đi xương đầu gối trên đôi chân của một người hoặc cắt đôi tay của người ấy thành sợi. Trên cửa sổ những chiếc lưới sắt như lưới trong hàng rượu. Chúng tôi ăn tối, sườn cừu, rượu ngon, một chiếc chuông vàng đặt trên bàn để gọi cô người hầu. Cô người hầu đưa lên những quả xoài xanh, muối, một loại bánh mỳ. Tôi được hỏi tôi có thích đất nước này không. Có một quảng cáo ngắn bằng tiếng Tây Ban Nha. Vợ ông ta dọn đi tất cả. Rồi chúng tôi nói chuyện về việc cầm quyền hiện nay đã trở nên khó khăn đến thế. Con vẹt thốt lên câu chào trên hiên nhà. Đại tá bảo nó câm miệng, và đẩy bàn đứng lên. Bằng ánh mắt, bạn tôi bảo tôi: đừng nói gì cả. Đại tá quay lại bàn với chiếc túi dùng để mang hàng về nhà sau khi đi chợ. Ông đổ tràn ra bàn bao nhiêu những tai người. Chúng như những nửa quả đào khô. Không có cách nào khác để nói về chuyện này. Ông ta cầm một chiếc tai trên tay, lắc mạnh nó vào mặt chúng tôi, thả nó vào cốc nước. Ở đó chiếc tai sống lại. Tao mệt mỏi với việc lãng phí thời gian, ông ta nói. Về quyền con người của bất cứ đứa nào, hãy bảo với người dân của mày tao đéo thèm quan tâm đến họ. Bằng cánh tay ông ta gạt những chiếc tai xuống sàn nhà và nâng cao những giọt rượu cuối cùng lên không trung. Cái này dành cho thơ của cô, đúng không? Ông ta nói. Mảnh vụn giọng ông ta găm vào một số chiếc tai. Một số chiếc tai trên sàn bị dí sát xuống đất.
San Salvador, tháng 5, 1978
............................................................
(*) Bài thơ “Đại tá” viết về nội chiến ở đất nước El Salvador nơi đó có hơn 100.000 thường dân trong tổng
dân số 5,5 triệu người đã bị giết hại. Hằng trăm ngàn người phải bỏ xứ sở ra đi và hàng trăm ngàn người khác
phải sống ở trại tị nạn trên chính đất nước họ.
(TCSH363/05-2019)
Tải mã QRCode
KURT HEYNICKE(Nhà thơ biểu hiện Đức sinh năm 1891)LGT: Kurt Heynicke là nhà thơ biểu hiện nổi tiếng của nước Đức. Ông được giải thưởng thơ “Kleist” vào năm 1913.Bài thơ Vườn thống khổ (Gethsemane), được trích từ Mensch heitsdammerung, do Kurt Pinthus thực hịên, được tái bản nhiều lần. Chúng tôi xin giới thiệu bài thơ đó với bản dịch của dịch giả thơ phương Tây nổi tiếng, Diễm Châu.
ROBERTO JUARROZ(Nhà thơ Achentina 1925 – 1995)LGT: Roberto Juarroz là nhà thơ hiện đại Achentina được thế giới biết đến nhiều hơn cả, có lẽ chỉ sau Jorge – Luis Borges. Ông sinh ngày 5/10/1925 tại Coronel Dorrego thuộc Buenos Aires, và mất ngày 31.3.1995 cũng tại thủ đô Achentina, sau một cuộc đời lưu vong vì chế độ độc tài của quốc gia ông. Ông là tác giả của 15 tập thơ cùng mang tên duy nhất Thơ thẳng đứng (Poesía vertical) chỉ khác nhau ở số thứ tự I đến XV. Ông còn là giáo sự đại học Buenos Aires, chuyên viên truyền thông (thư viện) của Liên Hiệp Quốc đồng giám đốc tạp chí thơ (Poesía), nhà phê bình văn chương ở tạp chí Gaceta (Tucumán), nhà phê bình điện ảnh và kịch ở tạp chí Esto.
TOMAS TRANSTROMER (Thụy Điển)LGT: Tomas Transtromer (1931-) là một trong những nhà thơ hiện đại Thụy Điển nổi tiếng thế giới, từ những năm 50 của thế kỷ XX, ông nhận được các giải thưởng lớn: Pétrarque (Đức) năm 1981, Neustadt Internationl (Hoa Kỳ) năm 1990, giải Bắc Âu (Viện Hàm lâm Thụy Điển) năm 1991, giải Hort Bienek (Đức) 1992. Toàn tập thơ ông được xuất bản năm 1996. Thơ ông được dịch ra 43 thứ tiếng. Ông thường sử dụng thể tự do hoặc thơ văn xuôi với ngôn từ thơ trong sáng nhưng sức mạnh ở chỗ nó hòa quyện được những phúng dụ bác học và những mô tả chính xác về thế giới vũ trụ bật dậy những cảm xúc.
OCTAVIO PAZ (Nobel 1990)Tặng Roman Jakobson LGT: Octavio Paz (1914-1998), nhà thơ Mêhicô nổi tiếng, giải thưởng Miguel de Cervantes 1981, giải T. Eliot 1987, giải Nobel 1990. Tác giả của 5 tập thơ, sau này in lại trong Obra poética (Tác phẩm thơ 1938 - 1988), 23 tập tiểu luận về văn học nghệ thuật. SH xin giới thiệu một bài thơ “tuyên ngôn thơ” của ông, NÓI: LÀM qua bản dịch của dịch giả Dương Tường.
HAROLD PINTER (Nobel 2005)LGT: Harold Pinter, nhà văn Anh, giải thưởng Nobel 2005, được vinh danh với những vở kịch, những kịch bản phim, ông còn là nhà thơ nổi tiếng. Bài diễn văn đọc trong buổi lễ nhận giải Nobel của ông, quyết liệt trong sự chống Mỹ làm Tổng thống Bush rầu lòng. Bài thơ “Thói đồi bại” được giới thiệu dưới đây, vừa mới công bố cách đây ít lâu trên The Guardian ngày 26 - 01 - 2006.
LGT: Harold Pinter, sinh năm 1930 tại London , Anh quốc. Ông là một kịch tác gia, nhưng cũng là nhà thơ, đạo diễn, diễn viên, nhà hoạt động chính trị (ông đặc biệt chống lại sự lạm dụng quyền lực trong quan hệ quốc tế, như chống lại việc NATO đánh bom , Mỹ tấn công ).
SAM HAMIL LGT: Sam Hamil, nhà thơ Mỹ, nổi tiếng với website chống chiến tranh của Mĩ ở , tập hợp 13.000 bài thơ của 12.000 nhà thơ Mỹ và thế giới, đồng thời chủ biên tập thơ “Những nhà thơ chống chiến tranh” (Poets against The War, NXB Nation Books, 2003), thuộc loại best-seller (bán chạy nhất) ở Mỹ.
Nhà thơ, dịch giả Diễm Châu, sinh năm 1937 tại Hải Phòng. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gòn, sau đó tu nghiệp tại Hoa Kỳ về truyền thông. Trước 1975, ông làm Tổng thư ký Tạp chí Trình Bầy. Định cư tại Strasbourg, Pháp từ 1983 cho đến ngày tạ thế. Ông đã vĩnh viễn ra đi vào sáng ngày 28 tháng 12 năm 2006.
SEAN LUNDELGT: Sean Lunde là một nhân viên của Trung tâm William Joiner. Hiện anh là sinh viên của Đại học Massachusetts Boston, Hoa Kỳ. Đã từng là cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh tại , do vậy Sean Lunde hiểu rõ được thế nào là một cuộc chiến tranh phi nghĩa và các hậu quả xã hội của nó.
ANNE-MARIE LÉVYAnne-Marie Lévy là người Pháp gốc Na-Uy, hiện giảng dạy tiếng Phạn và văn hoá Ấn Độ ở Đại học Bordeaux III. Sau Hiệp định Genève năm 1954, bà cùng chồng làm việc ở Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội trong nhiều năm. Trở về Pháp bà theo dõi cuộc chiến ở Việt và viết sách bằng tiếng Na-Uy để giới thiệu Việt cho độc giả Bắc Âu.Bài thơ này được làm theo thể haiku của Nhật Bản. Thể haiku gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn có ba câu lần lượt 5 âm tiết, 7 âm tiết rồi lại 5 âm tiết (5-7-5). Bài dịch ra tiếng Việt tuân thủ qui tắc của haiku.
EILEEN HEANEYLGT: Eileen Heaney là một họa sĩ sống ở Boston, Mỹ. Năm 1997 bà cùng với chồng là ông James Hullett – Triết gia, giáo sư đại học và là giám đốc một nhà xuất bản sách triết - về Việt Nam để nhận bé Frankie từ trại trẻ mồ côi Hội An, Đà Nẵng làm con nuôi.
MYLÈNE CATELLGT: Mylène Catel sinh năm 1966, tại Normandie (Pháp).Thạc sỹ Anh văn và Tiến sỹ Pháp văn.Hiện sống ở Hoa Kỳ - nơi bà giảng dạy văn chương tại Đại học Michigan.Bà đã xuất bản hai tập thơ: "Le Jongleur Fou" (1995), Paris, Editions Caractères; "JC" (1996), Paris, ditions Caractères.
YVES BONNEFOYYves Bonnefoy sinh năm 1923, tại Tours (Pháp).Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà dịch thuật và là nhà biên khảo, phê bình văn học nghệ thuật nổi tiếng của nước Pháp, với gần 50 tác phẩm có giá trị về đủ thể loại. Nghĩ về văn học, nghệ thuật, ông quan niệm “đó là cuộc chiến đấu không ngừng để chống lại sự cám dỗ mang tính giáo điều và tư tưởng duy khái niệm”. Vì vậy, thơ Yves Bonnefoy là tiếng nói đa thanh, luôn va đập và sinh thành, luôn giao động giữa hiện thực và siêu thực, giữa vô lý và hợp lý để nói lên mối liên hệ giữa con người và thế giới đang vận động, bất ổn. Như cách thể, để chống lại sự sáo mòn, bảo thủ do sự già nua, hoài nghi và vô cảm của con người. HỒ THẾ HÀ
TANG HẰNG XƯƠNG (Trung Quốc)LTS: Sinh năm 1941. Đã xuất bản 6 tập thơ. Thơ Tang Hằng Xương có những từ ngữ, hình ảnh, ý tưởng... rất kỳ lạ và táo bạo; đã được dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hàn và gần đây là tiếng Việt (báo Văn nghệ, Tạp chí Văn học nước ngoài - H.D.dịch và giới thiệu). Những bài thơ dưới đây lấy từ tập thơ Nhớ cha mẹ (Tang Hằng Xương - Hoài thân thi tập) in lần thứ nhất 1999, in lần thứ hai 2001. (Tang Hằng Xương mồ côi mẹ năm mười hai tuổi).
LTS: Vlađimir Maiakôvxki là “lá cờ đầu của thơ ca Tháng Mười Nga”. Nhân kỷ niệm 85 năm Cách mạng tháng Mười Nga, chúng tôi mời nhà phê bình - giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, một chuyên gia về Maiakôvxki, viết bài về tiếng thơ của Maia trong cuộc sống và thế giới ngày hôm nay. Nhà phê bình đã gửi cho chúng tôi bản dịch một bài thơ của Maia và trình bày mấy ý kiến hết sức ngắn gọn.
Margaret Atwoods là một trong số nhà thơ viết bằng tiếng Anh hàng đầu ở . Sinh năm 1939. Bà đã xuất bản trên 10 tập thơ, trên 10 tiểu thuyết, một số sách phê bình và sách cho trẻ em, đã nhận nhiều giải thưởng và bằng cấp danh dự. Gần nhất là Giải Pulitzer 2001 về tiểu thuyết. Thơ M.Atwoods đầy tinh thần phản kháng, trầAn trụi và khốc liệt khi cần vạch trần sự thật về thân phận người đàn bà ở khắp nơi trên thế giới, một mặt lại vỗ về nâng giấc che chở đối với người mình yêu. Quả là một nữ tính của thế kỷ. HOÀNG HƯNG chuyển ngữ từ nguyên bản.
LANGSTON HUGHESLGT: Langston Hughes (1902-1967) là một trong những cây viết chủ lực của phong trào văn học nghệ thuật của người Mỹ gốc Phi - châu trong thập niên 1920, mệnh danh là phong trào Phục Hưng Harlem (Harlem Renaissance)- một nỗ lực nhằm cổ động lòng tự hào về màu da và văn hóa da đen.
LTS: Robert Creeley sinh năm 1926, có một cuộc đời nhiều biến động. Hai lần bỏ học đại học giữa chừng, hai lần ly hôn, hai lần sang làm việc ở các nước thế giới thứ ba (năm 1944 lái xe cứu thương trong lực lượng American Field Service ở Ấn Độ và Miến Điện.
...Thế nhưng trên đôi tai hoá đáSự im lặng vẫn thét gàoVang dội trong năm tháng với những thanh âm thịnh nộ...
LTS: Werner Lambersy thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ đương đại của Pháp. Thơ ông là sự kết hợp thần tình giữa lối tư duy luận lý sắc sảo cùng khả năng trực cảm cực kỳ tinh tế. Điều đó khiến cho thơ W.Lambersy làm hiện hình được bản chất đời sống ở những nơi chốn mong manh nhất. Dưới con mắt nhà thơ, cái đẹp luôn biến ảo, không dừng lại, lần theo dấu vết của chúng, bạn sẽ khám phá thấy những chân lý hoàn toàn bất ngờ. Những bài thơ dưới đây, chúng tôi rút ra từ một tập thơ xuất bản năm 1998 của W.Lambersy do trung tâm sách quốc gia của Pháp đỡ đầu và ấn hành.