MUIN BRIXU (Palestine)
Gửi Palextin
Đất của tôi, vị thần đầy thương tích của tôi
Tổ quốc khát khao ánh sáng
Tôi nghe rõ tiếng chim đại bàng kêu đứt quãng
"Người vội đi đâu, kẻ lạ lùng, người chỉ tìm cái chết vì sao?"
Tôi chết. Rượu uống không còn sót giọt nào
Kiếm đã gẫy. Câu chuyện cổ không còn vang vọng
Tôi không bú hai dòng sữa. Tôi không biết trò mơn trớn
Từ trong nôi tôi chưa học điều ấy cho tôi
Cây ô- liu không sống hai mặt trong đời
Dòng sông không chảy trong dối trá
Người ngoan đạo không thờ hai chúa
Trước tất cả hay trong lặng lẽ âm thầm
Tôi nghe rõ tiếng kêu đứt quãng của đại bàng
"Người vội đi đâu, kẻ lạ lùng, sao cứ tìm cái chết?"
Và tiếng khẩn thiết của vị thần đầy thương tích
Tổ quốc khát khao ánh sáng của tôi.
Trích nhật ký đêm
Trên bức tường đen trắng của tôi
Tôi đã vạch lên giọng nói tôi yêu dấu
Cả dáng hình diện mạo
Tất cả rõ như từ mặt biển khơi
Trên bãi bờ rối bời cơn mất ngủ của tôi
Một vầng trăng không ngừng ám ảnh
Tôi vạch lên giọng nói tôi yêu mến
Và gọi lên tha thiết thì thầm
Hình như gió ánh lên với những đóa hoa hồng
Là dành cho tôi - kẻ lưu đày biệt xứ
Sự đơn độc những đêm mất ngủ.
THANH HIỀN dịch
RA-XUN GAM-DA-TỐP (Liên Xô cũ)
Hội thoại
- Người ta không mua sách của anh
Chúng nằm tất cả nguyên một chỗ...
- Chúng nằm ư? Xin mặc, chớ động vào!
Không ai đánh những người đang nằm cả.
- Thơ của anh họ chuyển vào kho
Không ai mua anh nữa!
- Mặc cho họ gìn giữ
Như vàng dự trữ trong kho.
- Rõ chưa nào, những bài hát của anh
Không hợp mốt hôm nay được nữa.
- Nhưng chả nhẽ sơn ca, họa mi?...
Cũng không còn hợp mốt?..
- Tất cả những tuyển tập thơ của anh
Lũ chuột cống bẩn thế kia, cũng lạy!
- Cũng giống như đối với lũ chuột kia
Thị hiếu chúng cũng khá là tinh tế.
***
Bài hát nguyện cầu - thanh âm thuở xa xăm
Trong giây phút hồn hài nhi được rửa...
Buồn của nỗi buồn.
Nếu có gì buồn đau hơn nữa:
Mẹ mất rồi. Và hoang vắng nôi ru.
Ngọn lửa trong lò chiếu sáng lung linh
Cha đã chôn rồi. Người sống trong bóng tối...
Chẳng có nỗi mồ côi nào sánh nổi
Cha mất rồi. Lò sẽ trở lạnh hơn.
ĐOÀN MINH TUẤN dịch
(TCSH59/01-1994)
Tải mã QRCode
Yevgeny Yevtushenko - Odysseas Elytis
Maiakôpxki là nhà thơ lớn của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và là nhà thơ lớn của nhân loại thế kỷ XX.Thơ của ông biểu hiện nhiệt tình công dân mãnh liệt, là tiếng hát của tương lai, của chủ nghĩa Cộng sản, và tiếng thét căm giận đả phá những mặt tiêu cực trong cuộc sống Xô Viết lúc bấy giờ. Nhà thơ của quãng trường, nhà thơ hùng biện, đó là những từ để mệnh danh người nghệ sĩ kiểu mới này. Ông rất ít viết về thơ tình. Trong dịp kỷ niệm 30 năm sinh của nhà thơ. Tạp chí Văn học Xô Viết ngoài việc giới thiệu những bài thơ chủ đề công dân và xã hội nổi tiếng, còn giới thiệu 2 bài thơ tình của ông. Tâm hồn nồng nhiệt, đẩy đến tận cùng mọi sự, ngay cả lý tưởng hay tình yêu đó là bản chất của thơ Maia.
Hải Kỳ - Đỗ Hoàng - Nguyễn Khắc Thạch
Pimen Pan-tren-cô _ Xéc-gây Da-côn-ni-cốp _ Anatôn Grêtanikốp
Mắc-xim Tăng-kơ (tên thật là Ép-ghê-ni Skuốc-kô) là nhà thơ của đồng ruộng, đất đai, đường sá, khắp các vùng của lãnh thổ Liên bang Xô-viết và rất nhiều nước khác.
XERGÂY ÊXÊNHIN(Trích từ “Những khúc bi ca” và tuyển tập thơ Xergây Êxênhin)
Ngày 22 tháng 10 năm 1987 Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố tên người được tặng giải thưởng Nôben văn học - nhà thơ Nga sống ở Mỹ Iosif Brodsky. I.Brodsky là nhà văn Nga thứ năm được nhận giải thưởng cao quý này. Sau I.Bunhin (1933), B.Pastemnac (1958), M. Solokhov (1965), A.Xongienhixun (1970).
Ludmila TatianitchevaTuổi tôi
OCTAVIO PAZ Tặng các nhà thơ André Breton và Benjamin Perêt
J.W.GOETHECa khúc thiêng liêng
LTS: Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười (7 - 11) Sông Hương trân trọng giới thiệu chùm thơ của I.Bunhin, tác giả được giải Nobel 1933.
LTS: TOMMY OLOFSSON (1950) là một trong những nhà thơ "sung mãn" nhất Thụy-Điển hiện nay, tác giả bảy tập thơ (tính đến 1991). Ông còn là một chuyên gia về James Joyce, có bằng tiến sĩ văn chương của đại học Lund, tác giả hoặc người biên tập nhiều công trình biên khảo, và nhà phê bình văn nghệ nổi tiếng của nhật báo Thụy Điển Svenska Dagbladet. Bản dịch Thơ nguyên sơ dưới đây dựa theo bản Anh văn của Jean Pearson: Elemental Poems (White Pine Press, N.Y. 1991)
WISLAWA SZYMBORSKA (Nữ nhà thơ Ba Lan. Giải Nobel văn học 1996)
FRED MARCHANT (Mỹ) Tặng Diệu LinhTựa đề của bài thơ là viết sau ba mươi năm Mậu Thân. Ba mươi cái cúi đầu bắt buộc về những mất mát, những nỗi đau do chiến tranh gây ra.
Thi sĩ viết về những điều vi tế của cuộc sống, từ chối nói về mình và cả những người nổi tiếng. Cả cuộc đời, thi sĩ chỉ nhắc đến Thomas Mann một lần trong thơ như sự thiếu vắng con người - sự lưu lạc trên chính quê hương, tâm hồn mình. Và Brodsky, một tâm hồn bị lệch kênh, bị trục xuất… trong diễn văn Nobel. Và cả dòng sông tư nghị: Heraclite.Szymborska, nữ sĩ Ba Lan, là một bậc thầy về thơ nghị luận, viết thơ cũng như cả tiểu luận là để trả lời cảm xúc và câu hỏi: tôi không biết. Sinh 1923 tại Kornik, hiện sống tại Krakow. Viết khoảng 210 bài thơ và một ít tiểu luận từ 1952 đến nay. Nobel văn chương 1996 và nhiều giải thưởng danh dự khác.
PAVIL BUKHARAEP - IVAN SIÔLÔCỐP - IURI SMELIÔP
LTS: Là nhà thơ, tác giả của ba cuốn sách về thi ca. Cùng với Nguyễn Bá Chung ông đã cùng dịch tập thơ “Từ góc sân nhà em” của Trần Đăng Khoa. Ông là giáo sư Anh ngữ, Giám đốc chương trình sáng tạo viết văn của Đại học Suffolk. Ông còn là người thẩm định tác phẩm bậc thầy của Trung tâm William Joiner nghiên cứu về chiến tranh và hệ quả xã hội tại Umass Boston.Ông cũng là người giới thiệu hai cuốn sách Núi Bà Đen của Larry Heinemann và Cốm non (Green Rece) của Lâm Thị Mỹ Dạ đã được dịch ở Mỹ.
Baolin Cheng (Trương Bảo Lâm) là một nhà thơ thành công của “thế hệ thứ ba” các nhà thơ hiện đại Trung Quốc (thế hệ thứ nhất thuộc thời “ngũ tứ” 1919, thế hệ thứ hai được gọi là thế hệ “thơ mông lung” sau cải cách mở cửa). Hiện định cư tại San Françisco (Hoa Kỳ) với tư cách một nhà thơ song ngữ Hoa - Mỹ. Theo Paul Hoover, chủ biên cuốn “Thơ Hậu hiện đại Mỹ”, thơ Baolin Cheng sử dụng những cách thức của thơ siêu hình học- những chuyện kể nén chặt và những cấu trúc ý niệm - phục vụ cho các mục tiêu hiện thực chủ nghĩa. Những bài thơ sau đây của Baolin Cheng đã xuất bản ở Mỹ và Trung Quốc dưới hình thức song ngữ.
RUDYARD KIPLINGRUDYARD KIPLING (1865 Bombay - 1936 Londres) sống trong môi trường Anh-Ấn văn hóa rất cao, là một nhà văn nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết Le Livre de la Jungle (Cuốn sách của rừng xanh), Kim và là một nhà thơ . Thơ ông tập trung vào chủ đề giáo dục nhân cách và đạo đức. Bài thơ NẾU (IF) dưới đây là một bài thơ nổi tiếng của ông.
ALLEN GINSBERG(Tôn vinh Kenneth Koch) (1)LGT: Allen Ginsberg (1926 - 1997): là một nhà thơ hậu hiện đại Mỹ nổi tiếng trong trào lưu Beat cùng với Jack Kerowack và Williams S. Burroughs. Tốt nghiệp đại học năm 1948, làm đủ thứ nghề: thủy thủ, thợ nhà in, rửa bát, điểm sách, nhân viên tiếp thị.