NGUYỄN NHÃ TIÊN
Đường lên núi Quèn tràn ngập sắc hoa đào. Màu hồng phấn trên những cánh rừng đào phai lớp lớp mái xuôi nghiêng xoay tròn hình chóp, đẹp đến nỗi mây trắng dặt dìu bay qua đỉnh núi cũng ửng lên màu ráng hồng hư ảo quang chiếu cả bầu trời Tam Điệp.
Minh họa: Nguyễn Duy Linh
Đào phai trên núi Quèn không giống như các loài hồng đào, bích đào, liễu đào được trồng trọt và chăm sóc kỳ công như ở các làng hoa Nghi Tàm, Quảng Bá, Yên Phụ từng nổi tiếng trên đất Bắc Hà, mà là giống đào hoang dại mọc thành rừng thành núi tự thuở xa xưa cho đến bây giờ... Đấy là những câu chuyện tưởng như bất tận về loài đào phai do các bô lão ở Sơn Thôn dưới chân núi Quèn chuyện trò cùng Tử Văn vào những ngày quân Tây Sơn hội quân ở Tam Điệp.
Lẽ ra sau buổi chiều mùng 5 tết Kỷ Dậu, cái ngày mà quân dân Bắc Hà đã đánh đuổi hoàn toàn giặc xâm lăng, Tử Văn sẽ tâu lại với nhà vua xin được quay về Tam Điệp như đã thầm hứa với lòng mình. Vậy rồi bầu không khí say sưa chiến thắng quét sạch quân nhà Thanh ra khỏi bờ cõi đã níu chân tráng sĩ ở lại. Vả lại, cái tết tưng bừng say khướt khúc khải hoàn ca ở Thăng Long như vua Quang Trung đã hứa với ba quân tướng sĩ trước giờ xuất quân, không thể không làm xao xuyến trái tim tráng sĩ đầy ắp lãng mạn như Tử Văn.
Là bạn đồng môn thân thiết với người anh hùng áo vải, Tử Văn hiểu trái tim lớn của Nguyễn Huệ đến nhường nào. Trong số các môn sinh ngày đêm vừa lo dùi mài kinh sử vừa rèn luyện kiếm cung tại Trương gia trang ở ấp Tây Sơn ngày ấy, thì Nguyễn Huệ và Tử Văn là hai đệ tử ruột rà yêu quý nhất của Trương sư phụ. Cho dù ông có tự nhận mình không sánh nổi với người xưa “thượng thông thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự”, nhưng Trương sư phụ cũng đã sớm đoán định ra bước hoạn lộ thăng trầm mai sau của Tử Văn và Nguyễn Huệ. Vào những lúc thư nhàn thầy trò đàm đạo với nhau, ông thường bảo với hai đệ tử thân yêu của mình: “Hai con là hai nửa yêu thương trong một khối tâm hồn thầy, mỗi người một cung mệnh không phải ai muốn là được. Như thầy đây, mộng đại định như Huệ cũng không xong, mà phiêu bồng hào kiệt như Văn cũng không thành, bởi thế thầy chỉ biết quanh năm quy ẩn trong cái ấp Tây Sơn đìu hiu hút gió này”. Lời thầy linh nghiệm tới đâu mà giờ đây giấc mộng đại định của Nguyễn Huệ đã sở hữu trên đôi tay chinh Nam phạt Bắc của mình. Còn Tử Văn, giá như không vì lòng ngưỡng mộ kẻ anh hùng áo vải mà gia nhập vào đoàn quân Tây Sơn trong cuộc Bắc phạt lần này, thì có lẽ cũng chả biết tâm hồn lang bạt kia đã lưu lạc những đâu cho thỏa giấc mơ phong hoa tuyết nguyệt.
Trong đông đảo hào kiệt quy tụ dưới cờ nghĩa Tây Sơn thì Tử Văn là vị tướng văn võ toàn tài. Vậy mà tên tuổi trong các anh hùng “Tây Sơn thất hổ”, hoặc vang danh trong “Lục kỳ sĩ” không thấy tên tuổi của Tử Văn. Hơn ai hết, Nguyễn Huệ hiểu rõ tâm tính của bạn mình từ những buổi đầu còn chung chăn chiếu văn ôn võ luyện ngày đêm ở ấp Tây Sơn. Với con người trượng nghĩa khinh tài ấy có quàng lên mấy công danh cũng chỉ là chuyện hư huyễn. Cũng chính vì thế mọi cung cách lễ nghi trong đạo vua tôi, Nguyễn Huệ chừng như xem Tử Văn là một trường hợp biệt lệ, gần như xóa nhòa mọi khoảng cách.
Cảm phục tài ba và khí khái của người bạn đồng môn, trong những ngày luyện quân dưới chân núi Nghĩa Liệt, nhà vua nhân cơ hội này đã phong cho Tử Văn chức Đại Đô đốc để cùng mang quân đi định Bắc. Chỉ có điều, đối với Tử Văn chức gì thì chức, người ta vẫn cứ nghe thấy hầu như tất cả quan quân tướng sĩ Tây Sơn khi nói đến Tử Văn đều gọi cái tên gần gũi thân mật “Tử Văn tráng sĩ” trong mọi cuộc giao tiếp gặp gỡ hàng ngày. Mà thực ra Tử Văn cũng chẳng lưu ý gì đến các danh xưng. Gia nhập đứng vào đội ngũ đoàn quân Tây Sơn giữa lúc thế nước đang dầu sôi lửa bỏng là vì lòng yêu nước, là trả nợ non sông, một thứ tình yêu thiêng liêng gắn bó máu thịt giống như “ơn cha nghĩa mẹ công thầy”, chứ nào phải ham hố danh vọng tranh quyền đoạt lợi gì đâu.
*
Núi Quèn nằm một bên con đường thiên lý cổ, cũng trong hệ thống phòng tuyến Tam Điệp, do tướng Ngô Văn Sở cho lui binh từ Thăng Long về lập nên, giữ thế trận cầm cự với giặc chờ đại quân Tây Sơn từ Phú Xuân kéo ra hợp sức đại phá quân Thanh. Trong khi chờ đợi xuất quân, Tử Văn được nhà vua giao phó nhiệm vụ dẫn đầu đội quân tiên phong thần tốc ngày đêm tới đèo Tam Điệp, vừa lo hợp sức giữ vững phòng tuyến vừa quan sát thám báo tình hình Thăng Long.
Những cánh rừng đào phai trên núi Quèn nở sớm hơn mọi năm như chào đón những người anh hùng. Nở sớm không phải chỉ lưa thưa cành nọ cành kia dăm ba đóa hàm tiếu dự báo mùa xuân đang tới gần, mà là nở đều khắp cả núi rừng. Từ suối khe thung sâu cho đến đỉnh núi hoa đào đua nhau khoe sắc xua đi cái giá rét thường khi trên đất Bắc, như báo hiệu tin vui đến mọi nhà.
Tử Văn còn nhớ những năm tháng phiêu bạt giang hồ, hoa đào từng là bạn đường sưởi ấm tâm hồn mình vào những mùa xuân tha phương. Ngồi giữa lòng Sơn Thôn bên con đường thiên lý cổ uống chén trà nhạt cùng các bô lão, nghe các cụ bàn về thuật phong thủy xưa nay. Hóa ra thiên nhiên vốn đầy bí ẩn nhưng thiên nhiên cũng hé mở cho con người đọc được những tín hiệu để nuôi dưỡng niềm tin. Một đào hoa khá tốt tươi/ Cách xuân mơn mởn thấy xuân cười/ Đông phong ắt có tình hay nữa/ Kín tiễn mùi hương dễ động người... Cụ Khán Thủ - một chức sắc trông coi công việc dân phòng quanh năm của làng Sơn Thôn, cụ nhìn Tử Văn với ánh nhìn đầy thiện ý. Vừa rót chén trà thơm bốc khói mời Tử Văn, cụ vừa ngâm nga mấy câu “Hoa đào thi” của Ức Trai. Theo cụ Khán Thủ thì hoa đào là tinh túy tinh hoa trong Ngũ Hành. Cây hoa đào có thể khắc trị được bách quỷ. Bởi vậy trên khắp đất Bắc Hà nơi đâu cũng thấy người ta chưng cây hoa đào trước nhà vào mỗi dịp đón năm mới. Mà trên khắp đất Bắc, không ở đâu như vùng núi Quèn này, đào hoang mọc đầy cả một vùng núi non, lại là giống đào phai cho màu hoa hồng phấn hương tỏa bát ngát khắp cả vùng. Trước khi chào các bô lão trở về trại quân, Tử Văn còn được cụ Khán Thủ hứa nay mai sẽ cho người mang lên núi tặng thanh kiếm được làm từ loại gỗ đào cả trăm năm tuổi. Cụ Khán Thủ thân mật khẽ nói với Tử Văn: “Cây đào núi trăm tuổi là cây có thần tráng sĩ ạ, bởi thế thanh kiếm gỗ ấy là linh vật, chúng tôi còn phải làm lễ tạ linh sơn trước khi tặng kiếm cho người anh hùng”.
Lòng nhẹ tênh phơi phới trên đường về trại quân, Tử Văn vừa bước đi vừa lầm thầm: “Dân như vậy thì lo gì không phá được giặc”.
Giữa bề bộn việc quân, một chiều trên đường quan sát những thành lũy vừa được quân sĩ dựng lên trên núi. Chợt từ cánh rừng hoa đào bên triền con suối vắng xuất hiện một thiếu nữ bước nhẹ nhàng thanh thoát đi về phía Tử Văn. Sững sờ trước thiếu nữ đẹp như từ cõi trời giáng xuống, trong lúc Tử Văn còn ngơ ngác chưa kịp lên tiếng chào thì thiếu nữ đã cất tiếng trong như ngọc: “Thưa tráng sĩ, em theo lệnh cha mang tới dâng lên người linh vật này”. Nói rồi thiếu nữ lấy từ trong bọc vải đỏ đeo trên lưng ra một thanh kiếm gỗ, hai tay cầm lễ phép trao cho Tử Văn. Đã từng dạn dày trước hòn tên mũi đạn, đã dọc ngang cuối bể đầu nguồn, vậy mà đứng trước một thiếu nữ đẹp như nàng tiên giữa rừng hoa đào, Tử Văn bối rối nói không nên lời. Cầm thanh kiếm gỗ trong tay, Tử Văn nhớ lại ý cụ Khán Thủ đã tâm sự với mình dưới chân núi: “Cây trăm tuổi có thần, nên thanh kiếm này là một linh vật”. Chính lúc đó thiếu nữ nhẹ nhàng nói: “Biết tráng sĩ sắp bước vào trận chiến, nên cha em tặng báu vật gia truyền này góp sức cùng tráng sĩ trừ tà ma yêu quái của giặc”. Nói rồi thiếu nữ cúi đầu chào Tử Văn quay quả xuống núi. Tử Văn cũng cúi đầu tạ ơn đáp lại, lúc vừa ngẩng mặt lên thì cô gái tưởng như đã tan biến vào cánh rừng đào mất dạng. Trong màu khói chiều ửng sắc đào phai lõa xõa bay trên triền núi, từ rừng mây khói huyền hoặc kia, Tử Văn mơ hồ nhìn thấy thấp thoáng khói mây lượn lờ theo gió như có bàn tay vô hình khắc họa hình ảnh giai nhân vào núi non này. Bước về doanh trại, Tử Văn bỗng nhớ lại câu thơ cụ Khán Thủ ngâm tràn bên chén trà bốc khói sao nghe giống như một lời hẹn ước... Đông phong ắt có tình hay nữa/ Kín tiễn mùi hương dễ động người!
*
Lời vua Quang Trung trong buổi tiệc linh đình mở ra chiêu đãi tướng sĩ vào ngày 29 tháng chạp tại rừng hoa đào trên núi Quèn, quả là tiên liệu như thần: “Bữa nay ta ăn tết Kỷ Dậu trước, sang xuân vào Thăng Long ngày mùng bảy ta sẽ mở tiệc ăn tết khai hạ”.
Đi trong cánh Trung quân do nhà vua trực tiếp thống lĩnh xuất trận; Đồn Ngọc Hồi vừa hạ xong, đoàn quân Tây Sơn thừa thắng tiến thẳng vào giải phóng Thăng Long. Tử Văn ngước trông lên đỉnh kỳ đài, lá cờ mặt trời vàng trên nền đỏ thắm tung bay phất phới trong gió. Vậy là thời gian xung trận thần tốc đánh tan giặc xâm lăng sớm hơn kỳ hẹn nhà vua nói trước ba quân đến hai ngày. Nhìn chiến bào nhà vua thuốc súng nhuộm đen, cả Tử Văn áo trận cũng khói lửa loang lổ sém cháy. Tất cả vua tôi đi giữa tiếng hò reo tưng bừng của dân chúng cùng ba quân tướng sĩ vang dội cả kinh thành. Giữa khoảnh khắc mà hào khí chiến thắng giặc xâm lăng như một thứ men say làm ngây ngất vạn tâm hồn, Tử Văn rút thanh kiếm gỗ đào đeo trên lưng ra múa theo nhịp bước của đoàn quân. Lạ lùng sao, màu gỗ hồng đào trăm năm bỗng ánh lên ửng hồng thành muôn ánh hào quang. Bất giác từ thanh kiếm gỗ lướt trong gió bay phát ra vô vàn âm thanh như tiếng reo vui thanh bình. Nghe thanh kiếm gỗ phát ra âm thanh ngân dài êm ái trong gió, Tử Văn ngộ ra một ẩn lực diệu kỳ huyền nhiệm, đó là những thanh âm báo hiệu cho hòa bình. Giữa phút giây niềm xao xuyến tràn dâng ấy, Tử Văn nhìn về phía dân chúng cố gắng tìm cho ra hình ảnh của cụ Khán Thủ và của nàng thiếu nữ xinh đẹp như tiên trao kiếm cho Tử Văn trên cánh rừng hoa đào. Thế nhưng giữa muôn lớp người như sóng dâng trào lên thế kia, làm sao Tử Văn tìm cho thấy được. Nhưng mà thôi, binh lửa đã yên rồi, Tử Văn sẽ về lại núi Quèn như đã nguyện với lòng mình. Nơi những cánh rừng đào phai ấy là căn nhà vĩnh cửu cho Tử Văn khuya sớm gieo những giấc mơ cùng phong hoa tuyết nguyệt.
N.N.T
(TCSH360/02-2019)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.