Sáng 16/11, Hội Di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội đã tổ chức Hội thảo khoa học “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội - nhận diện, bảo tồn và phát triển” tại đình Hào Nam. Hội thảo đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa - xã hội, các nghệ nhân dân, đồng đền, thủ nhang, thanh đồng…
Trình diễn nghi thức thờ Mẫu, hát chầu văn
Nhiều giá trị đặc sắc
Theo TS Lưu Minh Trị- chủ tịch Hội Di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội, hội thảo đã nhận được gần 30 tham luận, trong đó có nhiều tham luận cùng nhận diện khái quát, hoặc làm rõ hơn, đi sâu hơn về tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, về mối quan hệ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt; nhiều tham luận cùng trao đổi về những giá trị cốt lõi của các nghi lễ trong tín ngưỡng thờ Mẫu cũng như sự “biến tướng” hầu đồng và các dạng “lệch chuẩn” khác trong thực hành; về việc đưa nghi lễ hầu đồng lên sân khấu và các hình thức trình diễn khác.
Nhìn lại lịch sử hình thành, biến đổi và những giá trị cơ bản của tín ngưỡng thờ mẫu Việt Nam, GS.TS Ngô Đức Thịnh- giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam khẳng định, thờ Mẫu là tín ngưỡng bản địa phát triển rộng khắp cả đồng bằng, đô thị và miền núi; có nguồn gốc từ lâu đời, trải qua từ thời nguyên thủy sang thời phong kiến và đến hôm nay vẫn tiềm ẩn chiều hướng phát triển đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế thị trường và đô thị hóa, hiện đại hóa của Việt Nam.
Tục thờ Mẫu mang nhiều giá trị như giá trị nhận thức thế giới, giá trị nhân sinh và khi tín ngưỡng thờ Mẫu gắn bó với dân tộc, chủ nghĩa yêu nước đã được tâm linh hóa.
Đặc biệt, tục thờ Mẫu - hầu đồng - chầu văn là một di sản văn hóa nghệ thuật độc đáo và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2016.
Đi sâu vào nghiên cứu về mối quan hệ của tín ngưỡng thờ Mẫu với các tín ngưỡng, tôn giáo khác ở Việt Nam, PGS TS Từ Thị Loan- nguyên viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật đã chỉ ra sự thâm nhập của của tín ngưỡng thờ Mẫu vào Phật giáo cũng như mối quan hệ với Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian khác như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thành hoàng làng, cầu mùa, thờ các hiện tượng tự nhiên… bởi sự lan tỏa và tiếp thu độc đáo.
Thanh đồng Lưu Ngọc Đức- chủ nhiệm CLB Văn hóa thờ Mẫu và hát văn Hà Nội lại giới thiệu khá chi tiết về một số nghi lễ trong tín ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ như đàn tam phủ thục mệnh, đàn lễ điền hoàn tứ phủ, đàn mừng đồng, đàn lễ thoải đồng, đàn tạ tam nhật… và đặc biệt giới thiệu sâu về nghi lễ hầu đồng.
Nghiên cứu chuyên sâu về cung văn và nhạc cung văn, PGS.TS Đặng Hoành Loan- nguyên viện trưởng Viện Âm nhạc nhấn mạnh, cung văn là người nghệ sĩ tài danh, vừa sáng tác nhạc và lời của tín ngưỡng tứ phủ và cũng là ca sĩ kiêm nhạc công.
Ông đề nghị: “Tới đây, cần có những công trình điền dã nghiên cứu kỹ lưỡng về giới nghệ sĩ cung văn – một mảng khoa học còn bị bỏ ngỏ”.
Ở vấn đề đưa nghi lễ hầu đồng lên sân khấu, nhà văn Vũ Hùng khẳng định thêm về sức hấp dẫn của nghi lễ này: “Mỗi khi có trình diễn hầu đồng ở rạp hát như rạp Kim Mã, rạp Khăn Quàng Đỏ, rạp Công Nhân hay chợ đêm Đồng Xuân, rất đông khán giả chen nhau vào xem. Dường như đây là món ăn tinh thần rất mới lạ và hấp dẫn công chúng, không chỉ có người già mà cả thanh niên, cả thiếu nhi và nhất là người nước ngoài, họ vô cùng thích thú và biểu lộ những phấn khích khi xem trình diễn…”
Còn nhiều tồn tại trong thực hành
Tuy nhiên, hội thảo cũng “nóng” lên với những tồn tại về thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu hiện nay. GS TS Ngô Đức Thịnh nêu rõ: “Nhận thức về tục thờ Mẫu của các ông đồng, bà đồng, cung văn và đông đảo quần chúng nhân dân còn mang tính tự nhiên, tự suy luận và có nhiều điều cần điều chỉnh. Tình trạng thương mại hóa tín ngưỡng thờ Mẫu đang là một thực tế nặng nề và nhức nhối, khiến cho tín ngưỡng này ngày càng bị xói mòn. Tình trạng phân tán, tản mạn, bị buông lỏng, thiếu sự quản lý cũng tạo nên bộ mặt xô bồ, thậm chí là hỗn loạn của sinh hoạt tín ngưỡng ở các đền phủ, gây mất trật tự công cộng, tạo điều kiện cho các sinh hoạt mê tín, đi ngược lại các giá trị thuần phong mỹ tục dân tộc”.
Trong khi đó, thanh đồng Lưu Ngọc Đức bày tỏ bức xúc trước những vấn đề như: Tứ phủ hóa tất cả các đền phủ; trang phục hầu thánh bị biến dạng, mai một.
Bên cạnh đó, vũ đạo hầu thánh bị nặng về biểu diễn làm mất đi sự nghiêm trang; lời tuyên phán nặng về dọa nạt, mang tính trần tục quá nhiều, nhất là nhiều lời hát văn bị cụ thể hóa trong khi phải có tính ước lệ, hư cấu, trừu tượng…
Nhà văn Vũ Hùng cũng chỉ rõ: “Đâu đó người ta còn lạm dụng hầu đồng làm cho nghi thức bị méo mó, có khi ô tạp. Nguyên nhân đáng buồn đó là do chúng ta chưa có một tổ chức chính thống, có đủ pháp nhân để quản lý vấn đề này. Đó là hậu quả của sự thả nổi đã kéo dài hàng trăm năm qua”.
Hay cung văn trưởng Hồng Tỉnh Chén - đền Cây Quế, Cầu Giấy, Hà Nội trăn trở: “Việc bảo vệ và giữ gìn các làn điệu hát văn là một việc làm cấp bách. Bởi vì, bao nhiêu tâm huyết cũng như tinh hoa của cha ông tích hợp từ những vùng miền để tạo nên nét đặc trưng riêng của hát văn sơ với hát chèo, tuồng, cải lương. Hát văn trong lịch sử có lúc thăng, lúc trầm nhưng chưa bao giờ có tình trạng lai căng, biến hóa một cách tùy tiện như bây giờ. Giới trẻ chưa thực sự nghiêm túc trong vấn đề tìm tòi, nghiên cứu để làm sao đem tinh hoa nghề ra với công chúng”.
Theo Thái Anh - ĐĐK
Tải mã QRCode
Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "
Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.
Thư Sông Hương Vậy là năm đầu của thế kỷ XXI, của thiên niên kỷ III Công lịch đã qua. Mới ngày nào đó, khắp hành tinh này còn rộ lên niềm hoang mang và hoang tưởng về một ngày tận thế ở năm 2000 bởi sự “cứu rỗi” của Thiên Chúa hoặc bởi sự “mù loà” của máy tính. Mới một năm thôi mà thế giới loài người đã qua biết bao bất trắc, xung đột, khủng bố... và máu và nước mắt! May mà đất nước chúng ta vẫn được bình yên, ổn định, phát triển theo Đường lối Đại hội IX của Đảng. May mà dân ta vẫn còn nhu cầu Văn hoá tâm linh. Văn hoá tâm linh cũng là thuộc tính của văn học nghệ thuật. Các tờ báo văn nghệ tồn tại được chính nhờ nhu cầu đó. Qua một năm nhìn lại, Tạp chí Sông Hương chúng tôi ngày một được bạn đọc tin cậy hơn, cộng tác càng nhiều hơn, thật là điều vinh hạnh. Song, ngược lại, chúng tôi cũng lấy làm áy náy vì bài vở thì nhiều mà trang báo lại có hạn, không thể đăng tải hết được, nhất là số Tết này. Ở đây, nó mang một nghịch lý chua chát, bi hài như một nhà viết kịch đã nói: “Số ghế bao giờ cũng ít hơn số người muốn ngồi vào ghế”. Ngoài sự bất cập ấy, hẳn còn có những điều khiếm nhã khác mà chúng tôi không biết làm gì hơn ngoài lời xin lỗi, lời cảm ơn và mong được thể tất. Chúng tôi xin cố gắng chăm lo tờ Sông Hương luôn giữ được sắc thái riêng, có chất lượng để khỏi phụ lòng các bạn. Dù thế giới có biến đổi thế nào đi nữa thì Sông Hương vẫn mãi mãi muốn được thuỷ chung với bạn đọc, bạn viết của mình. Nhân dịp tết Nhâm Ngọ, Sông Hương trân trọng chúc Tết các bạn sang năm mới thêm dồi dào sức khoẻ, thành đạt và hạnh phúc. S.H
Các bạn đang cầm trên tay số kỷ niệm 25 năm thành lập Tạp chí Sông Hương. Mới ngày nào đó, một ngày hè tháng 6 năm 1983, trong niềm khao khát của không khí đổi mới trong văn học nghệ thuật, Tạp chí Sông Hương số 01 ra mắt và đón nhận sự hưởng ứng của công chúng. Đó là một sự khởi đầu được mong đợi từ hai phía: người viết và bạn đọc.
Gần đây đọc các bài của Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Hùng Vĩ bàn về ba bài thơ Thu của Nguyễn Khuyến trên Văn nghệ (1), tôi thấy câu "Nước biếc trông như tầng khói phủ" trong bài Thu vịnh là câu thơ sáng rõ, không có gì khó hiểu mà lại được bàn nhiều. Mỗi người hiểu mỗi cách mà đều hiểu không đúng, chỉ vì không để ý rằng câu thơ này được viết theo lối "đảo trang".
(Nhân đọc: "Truyện Mã Phụng - Xuân Hương") * Truyện "Mã Phụng - Xuân Hương" trước đây còn được quen gọi dưới nhiều tên khác nhau, lúc là Vè Bà Phó, Vè Mã Phụng - Mã Long, khi là Thơ Mụ Đội, khi lại là Truyện Mã Ô - Mã Phụng v.v... là một tác phẩm văn học dân gian vốn được nhân dân Bình - Trị - Thiên rất yêu thích, phạm vi phổ biến trước Cách mạng Tháng Tám 1945 khá rộng.
Trên Tạp chí Sông Hương số tháng 3, nhân sự kiện Trần Hạ Tháp dành được giải A trong cuộc thi truyện ngắn của báo “Văn nghệ”, tôi vừa lên tiếng về sự “lặng lẽ” - một điều kiện cần thiết để làm nên tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị, nay lại nói điều ngược lại, vậy có “bất nhất” có mâu thuẫn không?
Trên thực tế, việc bảo tồn những vốn quý của cha ông để lại quả không phải là việc đơn giản, dễ dàng. Nhưng chúng ta sẽ không thể có sự chọn lựa nào khác bởi vì sẽ không có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nào cả nếu từ bây giờ chúng ta không biết giữ lấy những gì mình đang có.
Mang tên dòng sông duyên dáng thả mình bên thành phố Huế - SÔNG HƯƠNG, những trang tạp chí này là dòng chảy của những cảm xúc tươi đẹp trên “khúc ruột miền Trung” đất nước.
Từ xa xưa đến bây giờ, thường tục vẫn nói "sông có khúc người có lúc". Không biết Sông Hương bản báo năm rồi (năm tuổi 15) là sông hay là người? Có lẽ cả hai. Vậy nên cái khúc và cái lúc của nó đã chồng lên nhau - chồng lên nhau những khó khăn và tai tiếng!