Chiều ngày 10/7, Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế phối hợp với Tạp chí Sông Hương tổ chức buổi tọa đàm “Về bản di chúc của vua Tự Đức và về một tấm bản đồ của quân đội triều Nguyễn” do nhà nghiên cứu, diễn giả Trần Viết Ngạ trình bày, diễn ra tại Tòa soạn Tạp chí, số 9 Phạm Hồng Thái, thành phố Huế.
Tấm bản đồ của quân đội triều Nguyễn.
Bản đồ quân sự của triều đình Huế được vẽ năm 1858 và được lưu giữ tại Bảo tàng lưu trữ quốc gia Pháp. Năm 2003, tại Pháp có một cuốn sách quý thu thập được nhiều tài liệu về Đông Dương, mãi đến năm 2015, nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc được những người bạn ở Pháp tặng sách và thông qua nhiều kênh tư liệu khác nhau nên nhà nghiên cứu đã tìm được bản đồ. Lúc đó bản đồ đã được chụp lại, scan và đánh số ký hiệu nhưng rất mờ và không thể đọc được. Sau đó nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc tìm hiểu thêm từ bản đồ đen trắng của vua Tự Đức có vẽ núi sông và Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ vẽ dưới thời Minh Mạng (1838) , trong đó có nhiều chi tiết về thủy - hải lộ. Tác giả đã dựa vào hai bản đồ và ước lệ, bổ sung thông tin trên bản đồ quân sự và đọc rõ gần hết bản đồ.
![]() |
| Nhà văn Hồ Đăng Thanh Ngọc - Phó chủ tịch phụ trách Liên hiệp các Hội VHNT Thừa Thiên Huế, Tổng Biên tập Tạp chí Sông Hương phát biểu tại buổi tọa đàm |
Đây là bản đồ quân sự duy nhất mà ta có trong nguồn sử liệu về việc Pháp đánh chiếm– Đà Nẵng và sự phòng thủ của triều đình vào những năm 1858 đến 1960. Bản đồ được viết bằng hai thứ tiếng là tiếng Việt và tiếng Pháp đã cho thấy sức mạnh của quân dân ta ra sức xây dựng, đoàn kết chống Pháp. Từ bản đồ cũng đã chỉ rõ được Nguyễn Tri Phương cùng với quân dân ở đây đã tiến hành thực hiện những kế sách đánh Pháp hợp lý, cho lập đồn Liên Trì và đắp lũy dài bằng cát từ Hải Châu cho đến Phúc Ninh, rồi chia quân ra phòng giữ. Cùng với việc xây dựng đồn lũy, Nguyễn Tri Phương còn vận dụng nhiều cách đánh sáng tạo như đánh du kích làm tiêu hao lực lượng của Pháp hay cùng với nhân dân lấy lưới bủa vây làm cho bánh lái, chân vịt của tàu Pháp bị vướng gặp khó khăn trong lúc di chuyển.
![]() |
|
| Nhà nghiên cứu , diễn giả Trần Viết Ngạc tại buổi tọa đàm |
Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc cho rằng bản đồ đã giúp chúng ta ứng dụng được trong thực tế hiện nay, đó là đánh giá được việc vẽ đồ án trong thiết kế xây dựng, nghiên cứu được hành chính như sông, suối, đường giao thông, bến đò, cầu ruộng, trằm, khu dân cư…Đặc biệt bản đồ đã chỉ ra được 108 làng xã, và một số cơ sở kinh tế.
Tại buổi tọa đàm, nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc cũng dành một phần lớn thời gian để phân tích về bản di chúc của vua Tự Đức. Trong lúc quân Pháp đang chiếm đánh triều đình, loạn lạc xảy ra khắp nơi, trách nhiệm của vua Tự Đức ngày càng lớn. Sau khi lâm bệnh, vua Tự Đức trăn trở việc chọn ai là người kế vị. Cuối cùng, vua Tự Đức chọn vua Dục Đức lên ngôi vì vua Dục Đức tuy có nhiều tính xấu mà trong di chúc vua tự Đức viết rằng: “ Nhưng vì có tật ở mắt nên hành vi mờ ám, sợ sau này thiếu sáng suốt, tính lại hiếu dâm cũng là điều chẳng tốt chưa chắc đã làm nên việc lớn, nước có vua lớn tuổi điều này may mắn cho xã tắc, nếu bỏ đi thì biết làm sao đây”, vì vậy tình hình đất nước lúc bấy giờ buộc vua Tự Đức phải chọn một ông vua lớn tuổi để chăm lo chính sự.
Phương Anh
Tải mã QRCode
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.
Gần đây có một bộ tranh chân dung của các vua triều Nguyễn được vẽ mới và phổ biến, thu hút được nhiều sự chú ý của người xem. Nếu chỉ thưởng thức các bức vẽ này như những ảnh vui mắt, đầy mầu sắc thì được.