Tinh thần dân chủ lý luận như một thành tựu và như một kinh nghiệm

10:57 27/11/2008
PHAN TRỌNG THƯỞNGLTS: Trong hai ngày 02 và 03 tháng 3 năm 2006, tại thủ đô Hà Nội đã diễn ra Hội nghị lý luận – phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc. Trên 150 nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình đã tham dự và trình bày các tham luận có giá trị; đề xuất nhiều vấn đề quan trọng, thiết thực của đời sống lý luận, phê bình văn học nghệ thuật hiện đại ở nước ta, trong đối sánh với những thành tựu của lý luận – phê bình văn học nghệ thuật thế giới.

Với tinh thần dân chủ và học thuật, các nhà lý luận, phê bình, nghiên cứu đã nêu và thảo luận rất sôi nổi, đúng trọng tâm những vấn đề có liên quan đến khoa nghiên cứu văn học, đến tính khoa học và hiện đại của công tác lý luận, phê bình văn học nghệ thuật.
Sông Hương trân trọng giới thiệu bài viết của PGS.TS. Phan Trọng Thưởng – Viện trưởng Viện Văn học phát biểu tại Hội nghị.

1. Thống nhất cách hiểu khái niệm dân chủ lý luận
Từ trong bản chất của nó, lý luận là kết quả của hoạt động tư duy lôgic và tư duy trừu tượng; là khả năng nhận thức khái quát; khả năng trừu suất và đúc rút vấn đề; khả năng phân tích và tổng kết hoạt động thực tiễn... Để có thể hoạt động lý luận cần phải có phẩm chất tư duy; có kiến thức lý luận tổng hợp và chuyên ngành; có trình độ am hiểu thực tiễn và năng lực nghiên cứu khái quát... Do vậy, lý luận, nhất là lý luận chuyên ngành, khó có thể là sự nghiệp của số đông, và dân chủ lý luận không có nghĩa là toàn dân làm lý luận. Hơn bất cứ lĩnh vực nào, ở lĩnh vực lý luận, tư cách và phẩm chất chuyên gia, tư cách nhà hoạt động chuyên môn được thể hiện và đề lên hàng đầu. Vậy nên hiểu như thế nào về dân chủ lý luận?

Trước hết, dân chủ lý luận cần được hiểu là quyền độc lập suy nghĩ; quyền được công khai tư tưởng; quyền bảo vệ và bảo lưu ý kiến đề xuất của cá nhân khi ý kiến đó không phản tiến bộ, không đi ngược lại lợi ích của dân tộc; là quyền được phản biện lại các quan điểm, học thuyết trên tinh thần khách quan khoa học. Cùng với các quyền này, dân chủ lý luận được thể hiện ở thái độ coi trọng sự nghiên cứu, tiếp thu và phê phán đúng mức; mở rộng khả năngå lựa chọn và diện tham bác, tham khảo, làm chủ các nguồn thông tin, không sùng bái cá nhân, kỳ thị hoặc định kiến.
Dân chủ lý luận là tinh thần đấu tranh bảo vệ chân lý, là ý thức trách nhiệm cao về các kiến giải, đề xuất của mình nhưng không rơi vào sùng bái cá nhân bảo thủ, trì trệ.
Và cuối cùng, dân chủ lý luận là sự đảm bảo nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn và hướng tới lý giải thực tiễn, hướng tới sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Với cách hiểu khái niệm dân chủ lý luận như vậy, chúng ta có căn cứ để nhận thức rõ hơn về thành tựu và những kinh nghiệm lý luận đã đạt được trong mỗi thời kỳ.

2- Tinh thần dân chủ lý luận như một thành tựu và như một kinh nghiệm
Phát huy tinh thần dân chủ trên mọi mặt của đời sống xã hội được xem là một thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới do Đảng ta phát động từ 1986 đến nay. Trên lĩnh vực văn học nghệ thuật nói chung, lý luận và phê bình nói riêng, tinh thần dân chủ thực sự trở thành động lực thúc đẩy tiến trình đổi mới tư duy lý luận và hoạt động sáng tạo.
Suy nghĩ rộng ra chúng ta sẽ thấy, tuy bài học về tinh thần dân chủ lý luận có vẻ thời sự, có vẻ mới, nhưng những kinh nghiệm rút ra từ vấn đề này thì không mới chút nào. Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của lý luận văn học và mỹ học hiện đại ở Việt Nam từ những năm ba mươi của thế kỷ XX đến nay có thể bước đầu gợi được những suy nghĩ, chiêm nghiệm bổ ích.

Trước hết, hãy trở lại với giai đoạn văn học 1930 – 1945. Có thể xem đây là giai đoạn phát triển đột biến của lịch sử văn học dân tộc. Trong hoàn cảnh của một nước thuộc địa, tuy không tránh khỏi sự kiểm duyệt của chính quyền thực dân, nhưng văn học nghệ thuật và báo chí vẫn tận dụng được các cơ hội để phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ. Nhất là từ giữa những năm ba mươi trở đi, dưới ảnh hưởng của những tư tưởng dân chủ tiến bộ từ phong trào Mặt trận bình dân, những tư tưởng chính trị, xã hội và văn học càng có điều kiện để nảy nở và phát huy ảnh hưởng một cách công khai trên văn đàn và báo giới. Có lẽ chỉ kém bây giờ, còn chưa bao giờ báo chí ở nước ta lại phát triển nhanh, phong phú và đa dạng như thời kỳ này. Cũng chưa bao giờ trong lịch sử văn học dân tộc lại cùng lúc xuất hiện nhiều nhân tài; nhiều trào lưu, khuynh hướng trường phái chính trị tư tưởng, văn chương nghệ thuật và học thuật đến vậy. Có thể xem đây là thời kỳ phục hưng mạnh mẽ của tư tưởng và văn chương học thuật dân tộc. Chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta đã tiếp xúc, tiếp nhận và chịu ảnh hưởng của hầu hết các trào lưu tư tưởng mỹ học, các phong cách nghệ thuật của thế giới để từ đó hiện đại hoá văn học dân tộc. Ý nghĩa cách tân, cách mạng và những thành tựu nhiều mặt của văn học thời kỳ này, cho đến nay vẫn được xem là đỉnh cao, là hiện tượng khó lặp lại.

Giới nghiên cứu có thể đưa ra nhiều lý do để giải thích hiện tượng này, nhưng một trong số các lý do quan trọng là trong khi chính quyền thực dân đặc biệt chú ý đến những khác biệt về tư tưởng chính trị đối kháng để bóp nghẹt và kiểm duyệt thì ở lĩnh vực văn hoá và văn chương học thuật, dưới sức ép của những trào lưu tư tưởng tiến bộ, trong một phạm vi nào đó, chính quyền thực dân buộc phải chấp nhận tinh thần tự do, dân chủ của các cá nhân và các nhóm phái. Ở những thời điểm nhất định, các tổ chức, khynh hướng, nhóm phái công khai tôn chỉ mục đích của mình trên các diễn đàn và trên mặt báo; công khai tranh luận, ủng hộ hoặc chỉ trích, phê phán lẫn nhau. Các tư tưởng thông qua cọ sát, tranh biện để mở rộng ảnh hưởng và tồn tại. Chính trong hoàn cảnh đó, những tư tưởng văn học vô sản và lý luận văn học mác xít của Hải Triều cùng các đồng chí của ông đã tận dụng được cơ hội để truyền bá và gây được ảnh hưởng rộng rãi trong đời sống xã hội và văn học, tạo sơ cở lý luận đầu tiên cho sự hình thành, phát triển của dòng văn học yêu nước và cách mạng sẽ trở thành dòng chủ lưu trong các giai đoạn sau này. Và cũng chính trong hoàn cảnh đó, những tư tưởng văn chương suy đồi, phản tiến bộ, trái với xu thế lịch sử dần dần bị tan rã, tiêu vong mà không cần đến bạo lực hành chính.
Thiết nghĩ, tinh thần dân chủ và công khai, động cơ tranh luận trung thực khá phổ biến ở thời kỳ này đáng để chúng ta suy nghĩ.

Bước sang giai đoạn 1945 – 1954, trong không khí tự do và thiết chế dân chủ mới, với phương châm dân tộc, khoa học, đại chúng, đặc biệt là tư tưởng đại chúng, nhân dân và quần chúng vừa trở thành đối tượng, vừa trở thành chuẩn mực, khuôn thước của sáng tạo nghệ thuật. Tư tưởng dân chủ mới và tinh thần tự do đã dẫn đến các cuộc tranh luận về quan điểm văn học nghệ thuật diễn ra khá sôi nổi và gay gắt trong các năm từ 1948 đến 1950. Có thể xem đó là cuộc đấu tranh để đi đến sự thống nhất tư tưởng – nghệ thuật của giai đoạn nhận đường, giai đoạn hợp lưu, hội tụ của văn học nghệ thuật cách mạng. Nghiên cứu lại báo chí và các biên bản Hội nghị như Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (1949), Hội nghị tranh luận sân khấu Việt Bắc (1950) v.v... có thể thấy tinh thần dân chủ và công khai; tinh thần trách nhiệm trước cá nhân và đoàn thể, cao hơn là trước kháng chiến và dân tộc; tinh thần tranh luận, chỉ trích và phê phán luôn luôn thường trực và trở thành điều kiện để đạt đến sự thống nhất trong nhận thức lý luận và hành động thực tiễn. Ngay cả các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, bên cạnh việc đề ra các nguyên tắc và yêu cầu cho lý luận, cũng trực tiếp tham dự vào các cuộc tranh luận, cũng đề xuất ý kiến cá nhân và lắng nghe ý kiến của văn nghệ sĩ. Đó là thời kỳ sinh hoạt văn nghệ hồn nhiên, sôi nổi và bồng bột chưa từng có; thời kỳ lý luận và thực tiễn gần như hoà quyện nhất thể hoá, cùng đồng hành theo mục tiêu của cách mạng và kháng chiến. Điều đáng để chúng ta suy nghĩ hôm nay vẫn chính là cơ chế dân chủ công khai, là ý thức trách nhiệm cá nhân trước nhân dân đoàn thể về các quan điểm của mỗi người. Tôn trọng điều đó cũng có nghĩa là tạo ra động lực cho hoạt động lý luận và thực tiễn.

Cho đến nay, sau gần nửa thế kỷ nhìn lại cuộc đấu tranh tư tưởng trên lĩnh vực văn chương học thuật diễn ra vào thời kỳ cuối những năm năm mươi, đầu những năm sáu mươi, tuy đã có cơ sở để gần nhau về mặt nhận thức, nhưng những bài học kinh nghiệm cho mỗi người, mỗi phía, trong cuộc và ngoài cuộc có thể khác nhau. Đây là thời kỳ hình thành những nguyên tắc tư tưởng thẩm mỹ đầu tiên của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa thông qua các tác phẩm kinh điển của Marx-Angel và Lenine, thông qua việc lĩnh hội, tiếp thu từ hệ thống quan điểm lý luận văn học và mỹ học của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác nên yêu cầu đấu tranh để bảo vệ và xây dựng, cũng như những mẫn cảm và dị ứng tuỳ theo cơ địa của mỗi cá nhân trí thức văn nghệ sĩ là điều dễ hiểu. Trong cuộc đấu tranh đó, đương nhiên không thể khoan nhượng, hữu khuynh với những biểu hiện công khai chống lại chế độ, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.

Nhưng đối với những người do mẫn cảm nghệ sĩ, mẫn cảm khoa học, do khát vọng tự do dân chủ mà công khai có ý kiến khác, lẽ ra phải được dành cho một thái độ bao dung, uyển chuyển hơn; phải được tạo thêm các điều kiện và cơ hội để tranh luận, biện bác và đối thoại thì những ngộ nhận và lầm lạc, những đúng sai, phải trái, những động cơ trung thực và động cơ vụ lợi, theo đuôi cũng sẽ được làm sáng tỏ. Kết quả của cuộc đấu tranh sẽ vừa bảo vệ được nguyên tắc, vừa bảo đảm tính dân chủ và hạn chế tối đa sắc thái tả khuynh, hạn chế tối đa những tổn thất về danh dự và nhân phẩm của không ít trí thức, văn nghệ sĩ có tài năng và tâm can trong sáng mà số phận của họ trong nhiều chục năm qua có thể gây nên ít nhiều cảm khái, phân vân. Từ đây, có thể có hai bài học: một bài học về tinh thần đấu tranh bảo vệ nguyên tắc và một bài học về tinh thần dân chủ. Trên thực tế, vẫn có khả năng đạt được cả hai mục đích mà không cần loại trừ, không làm phương hại lẫn nhau, nhất là trong thời kỳ hiện nay, khi dân chủ cũng trở thành một nguyên tắc.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, do sự chi phối của quy luật chiến tranh, toàn xã hội buộc phải vận hành theo cơ chế chỉ huy, tập trung quan liêu bao cấp. Trong sự bao cấp đó, có bao cấp về tư tưởng. Và chính sự bao cấp về tư tưởng đã dẫn đến căn bệnh minh họa, giáo điều; dẫn đến tình trạng độc tôn và độc thoại trong sinh hoạt tư tưởng lý luận và học thuật. Suốt mấy chục năm, các thế hệ nghĩ giống nhau, nói giống nhau, cùng học và cùng trích dẫn một sách.Sự thống nhất đó, trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định có tạo nên ý chí, tạo nên sức mạnh nhận thức và tinh thần to lớn trong  sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước; nhưng mặt khác lại triệt tiêu động cơ suy nghĩ tìm tòi của cá nhân, làm nghèo khả năng tư duy sáng tạo lý luận, nhất là lý luận trừu tượng. Phổ biến là tình trạng xem lý luận như một định thức có sẵn, một nguyên lý bất di bất dịch chỉ được phép vận dụng mà không được phép đổi mới và phát triển. Lý thuyết nào khác với lý thuyết độc tôn, dấu hiệu nào khác với dấu hiệu của hệ thống chính thống đều bị phê phán, bác bỏ. Biểu hiện này không chỉ phổ biến ở nước ta mà còn phổ biến ở nhiều nền văn học thuộc nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia trong phe xã hội chủ nghĩa trước đây. Trong điều kiện như vậy, tinh thần dân chủ nói chung, dân chủ, lý luận nói riêng không có điều kiện để phát huy. Cùng với bệnh minh hoạ, nói theo, làm theo, nghĩ thay, nói thay và làm thay là dấu hiệu khá đặc trưng, là sản phẩm lịch sửã của một thời kỳ. Nghiền ngẫm từ phương diện lý luận cũng có thể rút ra từ đây những kinh nghiệm bổ ích.

Thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay có thể xem là thời kỳ thức tỉnh của lý trí dân tộc, thời kỳ phục hưng sức mạnh của đất nước. Sau 20 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu không ngờ. Trong số các thành tựu đó, có thành tựu về tư duy lý luận. Cần phải nhận thức và đánh giá đây là một thành tựu quan trọng, là thành tựu có ý nghĩa đẻ ra thành tựu. Không có đổi mới nhận thức và tư duy thì cái án “khoán chui” trong nông nghiệp vẫn dai dẳng nằm chờ trên bàn thẩm phán. Trong lĩnh vực văn chương, nếu không có sự đổi mới tư duy thì không ít giá trị văn chương đích thực không được nhìn nhận đánh giá lại; không ít những giá trị ảo, giá trị chưa tới đã được minh xác; không ít những hiện tượng bị hàm oan để mặc cho cái án văn chương lơ lửng kéo dài được hoá giải... Về lý luận văn học và mĩ học, tuy đến nay vẫn còn dấu hiệu của sự  khủng hoảng do tác động của những thay đổi lớn lao về hệ giá trị diễn ra trên thế giới, nhưng về đại thể, với tinh thần đổi mới tư duy, tinh thần dân chủ lý luận ,những phương hướng tìm tòi và suy nghĩ để đổi mới và phát triển hệ thống lý luận văn học và mĩ học dựa trên nền tảng mác xít đã được xác định (1).

Chính tinh thần dân chủ lý luận đã cho phép chúng ta tiếp cận một cách đàng hoàng hơn, khách quan khoa học hơn, toàn diện và thấu đáo hơn với các thành tựu lý thuyết của các trường phái, học phái khác nhau trên thế giới để từ đó bổ sung vốn tri thức lý luận, tạo cơ sở cho việc đối thoại và tiếp thu, làm giàu hơn vốn liếng trí tuệ và khả năng tư duy trừu tượng. Cũng chính tinh thần dân chủ lý luận đã tạo cho chúng ta dũng khí phát hiện những điểm khả thủ cũng như những thiếu hụt, phiến diện, những sắc thái quan phương giáo điều trong hệ thống lý luận văn học và mĩ học của chúng ta để xây dựng luận chứng cho sự đổi mới và phát triển. Trong quá trình đổi mới với những dấu hiệu không lành mạnh của lý luận và  phê bình văn học xuất hiện vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, chúng ta đã nhận ra từ mặt trái của quá trình dân chủ lý luận những biểu hiện hụt hẫng về kiến thức cơ bản, sự thiếu chuẩn, loạn chuẩn trong hoạt động đánh giá, phê bình và thưởng thức nghệ thuật. Từng bước hoàn bị hệ thống lý luận văn học và mĩ học, xây dựng hệ thống tiêu chí giá trị nghệ thuật làm văn cứ cho thẩm định, sáng tạo, thưởng thức và hoạt động thực tiễn hiện đang là khát vọng của giới nghiên cứu lý luận. Nhưng, chỉ có thể thực hành và thực hiện được khát vọng đó bằng con đường phát huy tinh thần dân chủ lý luận, dân chủ khoa học; tinh thần công khai công bố; tinh thần tranh biện cá nhân với động cơ trong sáng, trung thực. Thiếu các điều kiện đó, sinh khí lý luận sẽ chìm đắm, khó có thể tạo ra nội lực thôi thúc suy nghĩ và tìm tòi để đi đến thống nhất.

Nhìn lại thời kỳ đổi mới, chúng ta thấy rõ tinh thần dân chủ đã bước đầu được đề cao, nhưng chưa phải đã phát huy hết xung lực vốn có của nó. Trái lại, chưa phải đã hết những biểu hiện của tư tưởng học phiệt, những rơi rớt của bệnh giáo điều cũng như những biểu hiện vi phạm và lợi dụng dân chủ.
Tuy thành tựu lý luận mong muốn vẫn đang ở phía trước, nhưng với những gì giới nghiên cứu đạt được nhờ tinh thần dân thủ, ý thức tìm kiếm cá nhân, ý thức lấp đầy các khoảng trống nhận thức, ý thức hoàn bị hành trang lý luận cần thiết để hoạt động sáng tạo... nhất định chúng ta sẽ chiếm lĩnh được.
             P.T.T

(nguồn: TCSH số 205 - 03 - 2006)

---------------------
(1) Xin xemTạp chí Sộng sản, số tháng 3-2005, bài: Đổi mới, phát triển lý luận văn học và mỹ học phù hợp với thực tiễn lịch sử và thực tiễn nghệ thuật mới. Tr.64.

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP1. Khi chạm vào cơn lốc và những điệu rock thơ mang tên Vi Thuỳ Linh, bất chợt tôi nhớ đến câu thơ dịu dàng và sâu thẳm của Paul Eluard: Trái đất màu xanh như một quả cam. Với P. Eluard, tình yêu là một thế giới tinh khiết, rạng rỡ và ngọt ngào: Đến mức tưởng em khỏa thân trước mặt. Còn Vi Thuỳ Linh, nếu ai hỏi thế giới màu gì, tôi đồ rằng nàng Vi sẽ trả lời tắp lự: Màu yêu.

  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Xô Viết là một bản anh hùng ca bất tử của dân tộc Nga trong thế kỷ XX (1941-1945). Nó mãi mãi đi vào lịch sử vẻ vang và oanh liệt, không chỉ của đất nước Xô Viết mà còn cả với nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới, khẳng định bản chất tốt đẹp và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con ngưòi Xô Viết.

  • LƯƠNG THỰC THULTS: Lương Thực Thu, sinh năm 1903 tại Bắc Kinh, thời nhỏ học ở trường Thanh Hoa. Năm 1923 du học tại Mỹ. Năm 1926 về nước, lần lượt dạy học ở trường Đại học Đông Nam, Đại học Thanh Đảo, Đại học Bắc Kinh, và Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Năm 1949 sang ở Đài Loan, chủ yếu giảng dạy ở Đại học Sư phạm Đài Loan. Năm 1966 nghỉ hưu, năm 1987 ốm chết tại Đài Bắc.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG   (Đọc “Lý luận và văn học”, NXB Trẻ 2005 của GS.TS Lê Ngọc Trà)Ra mắt bạn đọc năm 1990, năm 1991, cuốn sách “Lý luận và văn học” của Giáo sư - Tiến sĩ Lê Ngọc Trà được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. 15 năm qua, những tưởng một số vấn đề về lý luận văn học mà cuốn sách đề cập đã không còn mới, đã “lạc hậu” so với tiến trình phát triển của văn học. Nhưng không, khi đọc lại cuốn sách được nhà xuất bản Trẻ tái bản lần thứ nhất năm 2005, những vấn đề mà GS.TS Lê Ngọc Trà đề cập vẫn còn nóng hổi và giữ nguyên tính thời sự của nó.

  • TRẦN ĐÌNH SỬLí luận văn học Việt Nam thế kỉ XX đã trải qua ba lần thay đổi hệ hình tư duy. Lần thứ nhất diễn ra vào những năm 1932 đến 1945 với việc hình thành quan niệm văn học biểu hiện con người, xã hội, lấy thẩm mĩ làm nguyên tắc, chống lại quan niệm văn học thời trung đại lấy tải đạo, giáo huấn, học thuật làm chính tông, mở ra một thời đại mới trong văn học dân tộc.

  • HỒ THẾ HÀĐà Linh - Cây bút truyện ngắn quen thuộc của bạn đọc cả nước, đặc biệt, của Đà Nẵng với các tác phẩm Giấc mơ của dòng sông (1998), Nàng Kim Chi sáu ngón (1992),Truyện của Người (1992) và gần đây nhất là Vĩnh biệt cây Vông Đồng (1997). Bên cạnh ấy, Đà Linh còn viết biên khảo văn hoá, địa chí và biên dịch.

  • NGÔ MINHBữa nay, người làm thơ đông không nhớ hết. Cả nước ta mỗi năm có tới gần ngàn tập thơ được xuất bản. Mỗi ngày trên hàng trăm tờ báo Trung ương, địa phương đều có in thơ. Nhưng, tôi đọc thấy đa phần thơ ta cứ na ná giống nhau, vần vè dễ dãi, rậm lời mà thiếu ý.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ     Ba công trình dày dặn nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của cùng một tác giả, cùng được xuất bản trong năm 2005 kể cũng đáng gọi là "hiện tượng" trong ngành xuất bản. Ba công trình đó là "Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa" (NXB Văn hóa Thông tin, 315 trang), "Hồ Chí Minh - một nhân cách lớn" (NXB Văn hóa thông tin, 510 trang) và "Đạo Khổng trong văn Bác Hồ" (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).

  • PHAN CÔNG TUYÊNLTS: Cuộc thi tìm hiểu “60 năm Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do Ban Tư tưởng - Văn hoá trung ương, website Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát động trong cả nước. Tại Thừa Thiên Huế, cuộc thi được phát động từ ngày 7/5/2005 đến ngày 10/7/2005; Ban tổ chức cuộc thi đã nhận được 160.840 bài dự thi của rất nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều thành phần trong xã hội tham gia. Điều này chứng tỏ cuộc thi mang nhiều sức hấp dẫn. Sông Hương xin trích đăng báo cáo tổng kết cuộc thi của đồng chí Phan Công Tuyên, UVTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Trưởng Ban tổ chức cuộc thi tại Thừa Thiên Huế.

  • TRẦN THỊ THANHTừ Hán Việt là một lớp từ khá quan trọng trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Việt Nam. Với con số 60% - 70% từ Hán Việt có trong tiếng Việt, nó đã và đang đặt ra một nhiệm vụ cấp thiết làm thế nào để cho mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên viết và nói đúng tiếng Việt trong đó có từ Hán Việt.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN LTS: Bài dưới đây là tham luận của nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đọc trong Hội nghị Lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương, tháng 12-2008. Tác giả có những nhận định khá mới mẻ, những đề xuất khá hợp lý và khá mạnh dạn, tất nhiên bài viết sẽ không tránh phần chủ quan trong góc nhìn và quan điểm riêng của tác giả. Chúng tôi đăng tải gần như nguyên văn và rất mong nhận được những ý kiến phản hồi, trao đổi, thạm chí tranh luận của bạn đọc để rộng đường dư luận.S.H

  • MAI HOÀNGCẩm cù không nổi tiếng bằng một số truyện ngắn khác của Y Ban như Thư gửi mẹ Âu cơ, I am đàn bà, Đàn bà xấu thì không có quà… Không có những vấn đề hot như sex, nạo phá thai, ngoại tình… tóm lại là những sự vụ liên quan đến “chị em nhà Eva”.

  • INRASARATham luận tại Hội thảo “Nhà văn với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”, Hội Nhà văn Việt Nam, Đồng Nai, 8-1-2009.

  • HOÀNG NGỌC HIẾNWallace Stevens ví hành trình của những nghệ sĩ Tiên phong (hoặc Tiền vệ) của chủ nghĩa hiện đại những thập kỷ đầu thế kỷ XX như những cuộc phiêu lưu của những nhà thám hiểm núi lửa, họ đã đến núi lửa, “đã gửi về tấm bưu ảnh cuối cùng” và lúc này không có ước vọng gì hơn là trở về nhà.

  • TRẦN HOÀI ANH1. Nhà thơ - Người đọc: Niềm khắc khoải tri âmKhi nói về mối quan hệ giữa nhà thơ và độc giả, Edward Hirsch đã viết: “Nhiều nhà thơ đã nắm lấy ý Kinh Thánh Tân Ước “Khởi thuỷ là lời”, nhưng tôi thích ý kiến của Martin Buber trong “Tôi và bạn” hơn rằng: “Khởi thuỷ là những mối quan hệ” (1).

  • VIỆT HÙNGCông tác lý luận phê bình văn học nghệ thuật đang là mối quan tâm lo lắng của giới chuyên môn, cũng như của đại đa số công chúng, những người yêu văn học nghệ thuật. Tình trạng phê bình chưa theo kịp sáng tạo, chưa gây được kích thích cho sáng tạo vẫn còn là phổ biến; thậm chí nhiều khi hoặc làm nhụt ý chí của người sáng tạo, hoặc đề cao thái quá những tác phẩm nghệ thuật rất ư bình thường, gây sự hiểu nhầm cho công chúng.

  • HẢI TRUNGVũ Duy Thanh (1811 - 1863) quê ở xã Kim Bồng, huyện An Khánh, tỉnh Ninh Bình là bảng nhãn đỗ đầu trong khoa thi Chế khoa Bác học Hoành tài năm Tự Đức thứ tư (1851). Người đương thời thường gọi ông là Bảng Bồng, hay là Trạng Bồng.

  • NGUYỄN SƠNTrên tuần báo Người Hà Nội số 35, ra ngày 01-9-2001, bạn viết Lê Quý Kỳ tỏ ý khiêm nhường khi lạm bàn một vấn đề lý luận cực khó Thử bàn về cái tôi trong văn học. Anh mới chỉ "thử bàn" thôi chứ chưa bàn thật, thảo nào!... Sau khi suy đi tính lại, anh chỉnh lý tí tẹo tiêu đề bài báo thành Bàn về "cái tôi"trong văn học và thêm phần "lạc khoản": Vinh 12-2001, rồi chuyển in trên Tạp chí Văn (Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh), số 4 (Bộ mới, tháng 3-4)-2002. Trong bài trao đổi này chúng tôi trích dẫn căn cứ theo nguyên văn bài báo đã in lần đầu (và về cơ bản không khác với khi đưa in lại).

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNGCùng với sự phát triển của một thế kỉ văn học dân tộc, lí luận văn học ở Việt Nam cũng đã có những thành tựu, khẳng định sự trưởng thành của tư duy lí luận văn học hiện đại.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNTrong vài ba thập niên đầu thế kỷ XX, trung xu thế tìm đường hiện đại hóa văn xuôi chữ quốc ngữ, các thể tài tiểu thuyết, phóng sự được một số nhà văn dụng bút thể nghiệm.