Tình mẫu tử trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

15:15 16/04/2008
Lâm Thị Mỹ Dạ là một nhà thơ trưởng thành trong phong trào chống Mỹ. Nhắc đến thơ chị, người ta thường nhớ đến những bài thơ mang đậm âm hưởng sử thi như Khoảng trời, hố bom, hoặc dịu dàng, nữ tính nhưng không kém phần thẳng thắn như Anh đừng khen em, hoặc nồng cháy yêu đương như Không đề…

Trên hành trình thi ca của mình, chị đã không dừng lại ở những bài thơ làm rạng danh một thời ấy. Con người thơ của chị luôn khát khao dâng hiến, tìm tòi và mang đến cho thơ những nguồn cảm xúc mới mẻ, ngọt ngào và sâu lắng. Trái tim đa sầu, đa cảm của một người phụ nữ, một người mẹ đã rung lên những nhịp đập bồi hồi để rồi cất lên trong thơ chị những giai điệu mới làm xúc động lòng người - giai điệu của tình mẫu tử. Khảo sát 194 bài thơ trong 6 tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ, chúng tôi thấy có 21 bài thơ viết về đề tài này, chiếm tỉ lệ 10,82%. Phần lớn các bài thơ này đã được chị tập hợp lại trong tập thơ Mẹ và con, in chung cùng con gái Hoàng Dạ Thi, một số bài còn lại được in rải rác trong các tập thơ Đề tặng một giấc mơ, Hồn đầy hoa cúc dại… Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, sâu nặng  của con người, thứ tình cảm máu mủ, ruột rà, sâu nặng ấy thật  không dễ diễn đạt bằng lời, ấy thế mà Lâm Thị Mỹ Dạ đã thật khéo léo chuyển tải những tình cảm thiêng liêng ấy vào trong những vần thơ của mình. Chị đã làm tròn bổn phận của một cái tôi trữ tình biện chứng, đúng với quy luật cuộc đời -  cái tôi trữ tình ấy khi đóng vai là một người mẹ, khi lại đóng vai là một người con. Chính vì thế, tình mẫu tử trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là thứ tình cảm toàn diện, trọn vẹn, chân thành, thắm thiết, là món quà vô giá mà chị đã mang tặng cho người mẹ kính yêu và những đứa con thơ yêu dấu của mình. Những ai đã, đang và sẽ làm vợ, làm mẹ sẽ không khỏi bùi ngùi, xúc động trước những vần thơ chân thành, tha thiết của chị. Những vần thơ được vọng lên từ cõi lòng của một người mẹ hiền, một người con thảo,cõi lòng của một con người luôn trân trọng đề cao tình mẫu tử hơn bất cứ thứ tình cảm nào trong cuộc đời mình.
Những vần thơ chị viết về mẹ thật cảm động biết nhường nào. Cuộc đời cay đắng khổ cực của mẹ đã được chị ngậm ngùi kể lại: Người xưa nào có phụ tình/ Mà sao mẹ chịu một mình khổ đau/ Thác ghềnh nước cả, sông sâu/ Chống chèo mình mẹ đương đầu bão giông/ Buồn lo mẹ giấu bên lòng/ Nuôi em trong dạ, mẹ mong từng ngày/ Nỗi mình biết ngỏ ai hay/ Bao đêm nước mắt vơi đầy, mẹ ơi/ Khi em cất tiếng chào đời/ Trái tim mẹ tưởng héo rồi lại tươi” (Trái tim sinh nở). Đó là những vần thơ được viết ra từ bao trăn trở, day dứt, từ những vết thương lòng trong cuộc đời mình để lại. Tình thương mẹ vì thế như được nhân lên gấp bội phần. Lời thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ lúc này là tiếng lòng đồng cảm với nỗi khổ đau của người mẹ. Những câu hỏi tu từ cất lên làm nhức nhối tâm can mọi người, hơn ai hết, chị đã hiểu được những khổ đau của đời mẹ ngay cả khi chị chưa được sinh ra trong cuộc đời này.
Dẫu cuộc đời có nhiều cơ cực, khổ đau, nhưng nhà thơ đã hiểu được tình thương yêu của mẹ dành cho mình như biển rộng, sông dài không làm sao đong nổi: Mẹ yêu con cho dòng sông biết hát/ Cho những ngôi sao biết soi mặt đất cười/ Một tiếng gà sang canh mẹ lo con thức giấc/ Một buổi xa nhà mẹ nhớ con không nguôi…” (Nghĩ về mẹ). Tình cảm của mẹ dành cho con bao la đến vô cùng, vô tận, đã truyền sang cả đất trời, dòng sông, hoà cùng nhịp đập với trời đất mênh mông. Mẹ yêu con không phải chỉ lo cho con miếng cơm manh áo mà lớn hơn thế nữa mẹ đã cho con cả một tâm hồn, một tâm hồn biết lắng nghe những nhịp đập, hơi thở của đất, những vang động của đời, một tâm hồn biết lắng nghe tiếng hát của dòng sông, biết nhìn thấu nụ cười của những ngôi sao trên bầu trời xa tít tắp. Đó là thứ tài sản vô giá mà không phải bất cứ người nào cũng may mắn có được. Và không phải ai cũng dễ dàng nhận ra công lao của những người mẹ ở phía khuất lấp sâu kín và khó nhìn thấy ấy. Điều đó đã chứng tỏ sự tinh tế, nhạy cảm, sâu sắc của hồn thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Chính vì thế, chị đã có một ước mơ thật đẹp để đền đáp công lao của mẹ: Nếu lòng con là một khoảng trời xanh/ Thì ngôi sao sáng nhất là tình yêu của mẹ/ Ngôi sao sáng giữa đêm dài lặng lẽ/ Như nỗi nhớ thương mẹ gửi về con” (Nghĩ về mẹ). Người mẹ hiền luôn như vì sao sáng lung linh soi sáng suốt cuộc đời người con yêu dấu, ngôi sao biết cất lên những nụ cười làm ấm cả lòng người.
Thơ viết tặng mẹ của Lâm Thị Mỹ Dạ không chỉ dừng lại ở những tình cảm chân thành, thắm thiết, không chỉ dừng lại ở những niềm tâm sự rất đỗi riêng tư của mình, hơn thế nữa, đó còn là những vần thơ rất giàu chất triết lý, triết lý về con người, về cuộc đời được chị phát hiện ra trong những sự vật, hành động rất quen thuộc, gần gũi với mỗi người: Mẹ ngồi đãi thóc ban trưa/ Gió se se sóng bóng dừa nghiêng in/ Thóc vàng nước gợn thêm xinh/ Hạt chắc hạt lép mới nhìn giống nhau/ Cũng màu tơ khác gì đâu/ Mà sao mẹ đãi rất lâu, đãi hoài… Bao nhiêu hạt lép trôi đi/ Hạt chắc đậu lại nói gì mẹ ơi/ Ngày mai ra với cuộc đời/ Tay mẹ đãi  thóc phải lời dặn con?” (Đãi thóc). Công lênh của cuộc đời mẹ được nhà thơ ví như một cuộc đãi thóc, mẹ đã mang lại cho đời những hạt chắc để ươm mầm cho mai sau, để vườn đời luôn có những hoa thơm quả ngọt.
Lâm Thị Mỹ Dạ không những thấu hiểu nỗi lòng của mẹ mà còn thấu hiểu nỗi lòng của những đứa con thơ. Chị như nhịp cầu nối đôi bờ của một dòng sông, dòng sông của tình mẫu tử, để chia sẻ với mẹ, với ngoại những buồn vui của đời, làm dẫy lên những khát vọng trong lòng con, lòng cháu: Chuyện đời bà, bà kể cháu nghe/ Cháu nghe bà má đầy nước mắt/ Có con đường nào đi ngược chiều trái đất/ Đưa cháu đi tìm thời tuổi trẻ của bà?” (Thời tuổi trẻ bà đâu). Hướng con người tới những khát vọng cao đẹp, đó chính là giá trị nhân văn cao cả trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, đặc biệt là những bài thơ viết về tình mẫu tử.
Khi đã được làm vợ, làm mẹ, hạnh phúc vỡ oà, trào dâng trong lòng người phụ nữ dịu dàng, nhân ái kia. Tình thương con như một nốt nhạc êm đềm ngân nga trong những bản tình ca của chị. Trắng trong là một bài thơ hay đã được phổ nhạc mà mỗi lần cất tiếng hát đều làm cho lòng người rưng rưng. Ở đó không chỉ có niềm yêu thương, hạnh phúc, tự hào mà còn có cả những lời dặn dò, nhắc nhở, những khát vọng làm người được gửi gắm trong cả những lời ru: Đôi làn môi con/ Ngậm đầu vú mẹ/ Như cây lúa nhỏ/ Nghiêng về phù sa/ Như hương hoa thơm/ Nghiêng về ngọn gió… Sữa mẹ trắng trong/ Con ơi hãy uống/ Rồi mai khôn lớn/ Con ơi hãy nghĩ/
Những điều trắng trong”. 
Tình cảm của mẹ dành cho con vô cùng lớn lao không thể nào tả xiết, Lâm Thị Mỹ Dạ thường mượn những hình tượng của thiên nhiên, đất trời, vũ trụ để nói thay nỗi lòng của mình: Con như sóng thích đổi thay/ Mẹ như bờ cát tràn đầy lặng im/ Mẹ như bờ cát con tìm/ Dạt dào lòng mẹ triệu nghìn sóng con… Không bờ biển sẽ ra sao/ Trăm con sóng biết nơi nào tìm vô/ Giang tay bờ mẹ đón chờ/ Yên lòng sóng cứ mộng mơ với đời/ Sóng vui nghiêng đổ ánh trời/ Oà vào bờ mẹ ngời ngời tin yêu” (Nghĩ về con như biển). Một sự so sánh thật độc đáo và thú vị. Biển và bờ vốn là những ẩn dụ quen thuộc trong thơ ca để ví như anh và em, như tình yêu của đôi ta, thì nay Lâm Thị Mỹ Dạ đã mượn nó để diễn tả tình yêu thương của mẹ dành cho con. Câu thơ kết thúc bài thơ mới ấm áp, hạnh phúc làm sao, mẹ sẽ luôn là điểm tựa vững chắc cho con để con được yên tâm vững bước vào đời với bao niềm tin yêu, hi vọng đang chờ con ở phía trước.
 Dường như như thế vẫn còn chưa đủ, chưa đầy, Lâm Thị Mỹ Dạ còn đặt ra bao giả thiết khác, vẫn là những hình ảnh của thiên nhiên, đất trời để ví với tình con và mẹ: Nếu mẹ bỗng tan thành ánh trăng/ Thì con ơi con hãy là đồng lúa… Nếu mẹ bỗng biến thành đồng cỏ/ Thì con ơi, con hãy là chú bê conNếu mẹ bỗng chảy thành dòng sông/ Thì con ơi, con hãy là ánh sáng… Nếu mẹ bỗng hoá thành cánh buồm/ Thì con ơi, con hãy là ngọn gió… (Nếu mẹ là). Nào là ánh trăng - đồng lúa, nào là đồng cỏ - bê con, nào là dòng sông - ánh sáng, nào là cánh buồm - ngọn gió, những cặp hình ảnh so sánh ấy là thứ ngôn ngữ vô tận vô cùng để khẳng định rằng không gì có thể chia cắt nổi tình cảm của mẹ dành cho con. Cho dù có những lúc mẹ không được ở bên con, nhưng mẹ vẫn luôn dõi theo con, soi chiếu cho bóng hình con được toả sáng trên bước đường đời mà con đang đi tới, vẫy gọi con đến với những chân trời bình yên, mơ mộng, rạng ngời.
Sinh con ra trong đời, mẹ không chỉ hạnh phúc vì có con, vì  được làm mẹ, làm thiên chức của một người phụ nữ mà xúc động hơn con đã truyền cho mẹ lòng nhân ái, tình yêu thương, bao dung với  cuộc đời: Những lời vô nghĩa của con/ Dạy cho mẹ nghĩa yêu thương cuộc đời” (Khi con nói chuyện).
Những ngày con còn bé thơ, lời ru của mẹ đã mang chứa cả bao tình thương yêu tha thiết, bao nỗi niềm đắm say, xúc động khó nói nên lời: Ngọt ngào mẹ hát ru con/ Như gió ru mảnh trăng non giữa trời/ Ngọt ngào là ngọt ngào ơi/ Như cây ru quả trong lời của chim” ( Ngọt ngào).
Tình thương yêu luôn đi liền với nỗi nhớ nhung khi phải xa con. Nỗi nhớ cứ ùa về, khắc khoải, thao thức khiến mẹ không yên lòng. Chẳng mấy khi được gặp gỡ, say sưa chuyện trò cùng bạn gái, tưởng như quên hết cả đất trời. Ấy thế mà rồi chị vẫn không quên sẻ chia nỗi nhớ con cùng những người bạn gái. Có điều, khi nỗi nhớ được sẻ chia nó đã bớt phần khắc khoải, trở nên  ngọt ngào, sâu lắng và dịu dàng hơn: Đêm nay thức cùng bạn gái/ Chia cùng tôi nỗi nhớ con/ Lòng tôi trải ra với bạn/ Mát lành như trái bầu non” (Với bạn gái).
Ngay cả khi con đã lớn khôn, phải xa con lòng mẹ cũng như rớm máu. Mỗi phút giây mẹ luôn nghĩ về con. Trong mắt mẹ con vẫn mãi là đứa trẻ thơ đáng được mẹ nâng niu, vỗ về, che chở: Bây giờ con đang ở rất xa/ Muốn cầm tay con không được/ Muốn vuốt tóc con không được/ Mẹ làm sao bây giờ… Chao! Con gái của tôi/ Đời - còn bao niềm vui/ Còn bao cạm bẫy/ Sao con cười hồn nhiên đến vậy/ Lim ơi!” (Gửi Bê Lim). Nụ cười hồn nhiên của con như mang cả bao nỗi khát thèm của mẹ. Làm sao trong cuộc đời nhiều cạm bẫy này mẹ có thể cất lên được một nụ cười hồn nhiên trong trẻo như thế. Nụ cười ấy sẽ theo mẹ suốt cuộc đời để xoá tan những buồn đau, muộn phiền trong lòng mẹ. Thế mới biết trái tim người phụ nữ phương Đông thương con đến mức nào, mọi nỗi buồn vui của cuộc đời mẹ đều gắn với bóng hình của những người con. Có con, niềm vui sẽ được nhân lên gấp bội, nỗi buồn sẽ vợi đi muôn phần.
 Mong muốn được sẻ chia với con như những người bạn được hiện rõ trong những vần thơ của chị: Khi con lớn lời yêu chớm nụ/ Mẹ nhớ mẹ xưa mắt sáng tóc thềSóng bạc đầu - mẹ bây giờ con hỡi/ Da diết vô cùng muốn trở lại mẹ ngày xưa” (Mẹ ngày xưa). Thi sỹ đã tìm thấy bóng dáng thời xưa trẻ của mình trong dáng hình của người con gái hiện tại. Một chút tiếc nuối, một chút nhớ mong, một chút khao khát muốn được trở về với thời xưa cũ. Thật giản dị và chân thành dù biết ước mơ ấy không bao giờ trở thành hiện thực. Nhưng những lời tâm sự của chị với con gái càng làm cho người đọc hiểu rõ hơn nhu cầu được sẻ chia, nhu cầu được xem con như những người bạn để cởi mở lòng mình, cho con nhìn thấy tâm hồn trẻ trung ẩn sau những nhọc nhằn, lo toan của đời mẹ. Đó là khao khát, mong muốn của một con người đã từng tự thú:
Ta thành trái mà hồn còn như lá.
Có những lúc Lâm Thị Mỹ Dạ đã xem con mình như một người bạn tri âm, tri kỷ, chị đã tâm sự với con mà cũng như đang độc thoại với mình để rút ra những chân lí của cuộc đời, những điều nghiễm nhiên mai sau con gái mẹ lớn lên sẽ phải hiểu, sẽ phải trải qua như đời mẹ lúc này. Trong những trường hợp này, lời thơ của chị chùng xuống, có phần trầm lắng hơn. Lời tâm sự như trút cả ruột gan, nghẹn ngào, xúc động và tràn đầy ý vị cuộc đời: Trái tim mẹ yếu mềm có sẵn/ Can đảm tới đâu cũng phụ nữ thôi mà/ Mẹ như chú lạc đà nặng nhọc/ Mà ốc đảo con sao mãi còn xa” (Viết về câu trả lời của con). Mẹ có một thời con gái/ Như tơ trời quá mong manh/ Mẹ sinh con là con gái/ Hạnh phúc niềm đau một lần… Tự mình phải hiểu mình thôi/ Làm thân con gái một đời/ Buồn lo lặn vào trong mắt/ Nụ cười cứ nở trên môi” (Một  thời con gái).
Bao giờ cũng vậy, trong những bài thơ viết về tình mẫu tử, Lâm Thị Mỹ Dạ thường gửi lại cho con, căn dặn các con những điều cần phải có,  những gì cần phải làm, cần phải hướng tới để các con được nên người. Những lời dặn dò, nhắc nhở của chị thật nhẹ nhàng, êm ái nhưng nó sẽ thấm sâu vào tâm hồn của các con, sẽ theo chúng suốt cuộc đời và trở thành thứ hành trang quý giá trong gia tài của những người con gái thương yêu: Trái cấm địa đàng/ Con ơi, chỉ ngắm/ Đừng như Eva/ Vội vàng môi cắn” (Một tuổi cho con).
“Tình mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào…”, vẳng đâu đây lời hát ấy còn vọng lại. Ta như được chứng kiến rõ hơn tình cảm trong ngần ấy của mẹ qua những vần thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ. Viết về tình mẫu tử là một đề tài quen thuộc của thi ca, nhưng một tác giả mà có đến nhiều tác phẩm viết về đề tài này như Lâm Thị Mỹ Dạ quả không nhiều. Đọng lại trong lòng người đọc khi đến với những bài thơ này là những tình cảm chân thành, quý giá mà nhân vật trữ tình đã dành cho người mẹ kính yêu của mình và cho những người con yêu dấu mình đã đứt ruột đẻ ra. Dù ở phương diện nào, là một người con hay một người mẹ, Lâm Thị Mỹ Dạ cũng làm tròn bổn phận của mình, trước hết là làm tròn bổn phận của mình trong đời rồi mới đến trong thơ.
Thơ ca mang chứa những năng lượng huyền bí siêu phàm, chính vì thế, những lời thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ càng làm xúc động lòng người. Chất trữ tình đan xen với những dòng tự sự  nhẹ nhàng, thấm thía đã đưa ta trở về với những ngày ấu thơ để cảm nhận sâu sắc hơn những tình cảm yêu thương  dạt dào của mẹ. Phút giây bùi ngùi xúc động làm cho mỗi người đọc lại nhớ tới người mẹ hiền yêu dấu của mình hơn. Lòng biết ơn được gợi nhắc, những vần thơ như tấm gương cho người đọc soi mình vào dòng sông cuộc sống. Năm tháng có thể cuốn trôi đi tất cả nhưng những tình cảm cao quý, thánh thiện của con người thì không được phép quên, không thể nào quên. Đất nước mình còn nghèo, người phụ nữ dù đã được giải phóng nhưng vẫn còn nhiều cơ cực. Hãy biết cảm thông và chia sẻ trước khi chỉ biết đón nhận những tình cảm yêu thương mà người mẹ đã dành cho mình. Dòng sông không bao giờ ngừng chảy cũng như tình cảm của mẹ dành cho con là vô tận vô cùng. Hãy đừng chiêm ngưỡng từ xa mà phải biết biến nó thành hành động. Đó chính là mong muốn của Lâm Thị Mỹ Dạ trong những vần thơ viết về tình mẫu tử của mình. Những tình cảm riêng tư, thầm kín của nhà thơ đã bắt gặp được tiếng đồng vọng của đời, đã tìm thấy tiếng nói tri âm trong lòng bao thế hệ người đọc. Bởi thơ Lâm Thị Mỹ Dạ luôn hướng người đọc tìm đến những giá trị nhân văn cao đẹp trong cuộc đời. Mảng thơ viết về tình mẫu tử trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã góp phần làm cho thơ chị sâu sắc hơn, nồng nàn hơn, nữ tính hơn, phong phú hơn và in đậm cá tính của mình hơn.
                                                        
Tân Kỳ, ngày 19-2-2008

PHẠM THỊ THUÝ VINH
(nguồn: TCSH số 230 - 04- 2008)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN VIẾT THIỆNNăm 1987, người ta từ ngạc nhiên, ngỡ ngàng đến sững sờ trước sự trình làng của một cây bút đã vào độ tứ tuần. Tuổi bốn mươi lại là thời kỳ son sắt nhất của cây bút này, nói theo quan niệm của ông: “Đời viết văn cũng giống như đời người đàn bà”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO - NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Trích)...

  • TRẦN NGỌC CƯChúng ta thường nghĩ rằng ở trong mỗi tâm hồn Việt Nam đều có một thi sĩ, hay nói thế khác, người Việt Nam sinh ra và lớn lên trong bầu khí văn hoá ra-ngõ-gặp-thi-nhân. Đầu đời là những câu ca dao mẹ hát ru con, cuối đời là câu kinh tiếng kệ, những lời nguyện cầu, đều là thơ cả.

  • PHẠM TUẤN ANHSau 1975, văn xuôi đóng vai trò chủ đạo trong vận động đổi mới của văn học Việt Nam. Vai trò cách tân của văn xuôi đã được khẳng định đồng thời với vị thế mới của cái hài. Cái hài, với tiếng cười hài hước (humor) phồn thực đã góp phần quan trọng trong quá trình giải thể ý thức “quần thể chính trị”, để văn học thoát khỏi cục diện nhất thể của cái cao cả, sáp tới cuộc sống muôn màu với những giá trị thẩm mĩ đa dạng.

  • TUẤN ANH“Ở đâu bản năng nghèo nàn, nhân cách cũng nghèo nàn” (Jean Lacroix)

  • NGUYỄN THẾNhững năm gần đây, vấn đề nghiên cứu về Truyện Kiều đã được các học giả Việt trong và ngoài nước quan tâm. Nhiều cuộc trao đổi, thảo luận về Truyện Kiều được đưa ra trong các cuộc hội thảo chuyên ngành về ngôn ngữ, văn học và trên diễn đàn báo chí, Internet...

  • NGUYỄN VĂN HẠNHI. Có những quan niệm khác nhau về bản chất, chức năng của văn chương, và có những cách thức khác nhau trong sáng tạo và khám phá văn chương, tuỳ theo hoàn cảnh, mục đích, trình độ, khuynh hướng nhận thức và hoạt động của con người trong lĩnh vực này.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ(Nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam 1957-2007)

  • TÔN ÁI NHÂNThật ra, những điều mà nhà văn, Đại tá Tôn Ái Nhân nêu ra dưới đây không hoàn toàn mới so với “búa rìu dư luận” từng giáng xuống đầu các nhà văn đương đại. Và, bản thân chúng tôi cũng không hoàn toàn đồng tình với tất thảy những sự kiện (kể cả những vấn đề nhạy cảm) mà ông đã “diễn đạt” trong 14 trang bản thảo gửi tới Tòa soạn. Chính vì vậy, chúng tôi đã xin phép được cắt đi gần nửa dung lượng, để “THẤT TRẢM SỚ” NHÀ VĂN đến với bạn đọc một cách nhẹ nhàng hơn. Nhân đây cũng muốn gửi tới tác giả lời xin lỗi chân thành, nếu như lưỡi kéo của Sông Hương hơi “ngọt”.

  • NUNO JÚDICENhà thơ, nhà phê bình văn học Nuno Júdice (sinh 1949) là người gốc xứ Bồ Đào Nha. Ông có mối quan tâm đặc biệt đối với văn học hiên đại của Bồ Đào Nha và văn học thời Trung cổ của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Là tác giả của khoảng 15 tuyển tập thơ và đã từng được trao tặng nhiều giải thưởng trong nước, ông cũng đồng thời là dịch giả và giảng viên đại học. Từ năm 1996, ông sáng lập và điều hành tạp chí thơ “Tabacaria” ở Lisbonne.

  • NGUYỄN VĂN DÂNNgười ta cho rằng tiểu thuyết có mầm mống từ thời cổ đại, với cuốn tiểu thuyết Satyricon của nhà văn La Mã Petronius Arbiter (thế kỷ I sau CN), và cuốn tiểu thuyết Biến dạng hay Con lừa vàng cũng của một nhà văn La Mã tên là Apuleius (thế kỷ II sau CN).

  • HẢI TRUNGSông chảy vào lòng nên Huế rất sâuBản hùng ca của dãy Trường Sơn đã phổ những nốt dịu dàng vào lòng Huế, Hương Giang trở thành một báu vật muôn đời mà tạo hóa đã kịp ban phát cho con người vùng đất này. Chính dòng Hương đã cưu mang vóc dáng và hình hài xứ Huế. Con sông này là lý do để tồn tại một đô thị từ Thuận Hóa đến Phú Xuân và sau này là Kinh đô Huế, hình thành phát triển đã qua 700 năm lịch sử.

  • HÀ VĂN THỊNH Nhân dịp “Kỷ niệm 50 năm Đại học Huế (ĐHH) Xây dựng và Phát triển”, ĐHH xuất bản Tạp chí Khoa học, số đặc biệt – 36, 4.2007.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNNăm 1959, nhân dịp vào thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, đến gian trưng bày hiện vật và hình ảnh đồng chí Phan Đăng Lưu, đồng chí Lê Duẩn phát biểu: “Đồng chí Phan Đăng Lưu là một trí thức cách mạng tiêu biểu”.

  • NGUYỄN KHẮC MAITháng 3 –1907, một số sĩ phu có tư tưởng tiến bộ của Việt Nam đã khởi xướng thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội với mục đích “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” hô hào xây dựng đời sống mới mà giải pháp then chốt là mở trường học, nâng dân trí, học hỏi những bài học hoàn toàn mới mẻ về dân chủ, dân quyền, dân sinh, dân trí, cả về sản xuất kinh doanh, xây dựng lối sống văn minh của cá nhân và cộng đồng.

  • HỒ THẾ HÀ Thật lâu, mới được đọc tập nghiên cứu - phê bình văn học hay và thú vị. Hay và thú vị vì nó làm thỏa mãn nhận thức của người đọc về những vấn đề văn chương, học thuật. Đó là tập Văn chương - Những cuộc truy tìm(1) của Đỗ Ngọc Yên.

  • ĐOÀN TRỌNG HUY

    Huy Cận có một quãng đời quan trọng ở Huế. Đó là mười năm từ 1929 đến 1939. Thời gian này, cậu thiếu niên 10 tuổi hoàn thành cấp tiểu học, học lên ban thành chung, sau đó hết bậc tú tài vào 19 tuổi. Rồi chàng thanh niên ấy tiếp tục về học bậc đại học ở Hà Nội.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCHTrước hết phải thừa nhận rằng, từ ngày có quỹ hỗ trợ sáng tạo tác phẩm, công trình Văn học Nghệ thuật cho các Hội địa phương thì các hoạt động nghề nghiệp ở đây có phần có sinh khí hơn. Nhiều tác phẩm, công trình cá nhân cũng như tập thể được công bố một phần nhờ sự kích hoạt từ quỹ này.

  • THẠCH QUỲTrước hết, tôi xin liệt kê đơn thuần về tuổi tác các nhà văn.

  • TÙNG ĐIỂNLTS:  “Phấn đấu để có nhiều tác phẩm tốt hơn nữa” là chủ đề cuộc tập huấn và hội thảo của các Hội Văn học Nghệ thuật khu vực miền Trung và Tây Nguyên tại thành phố Nha Trang đầu tháng 7 vừa qua. Tuy nhiên, ngoài nội dung đó, các đại biểu còn thảo luận, đánh giá hiệu quả sử dụng quỹ hỗ trợ sáng tạo tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật trong mấy năm gần đây.Nhiều ý kiến thẳng thắn, tâm huyết, nhiều tham luận sâu sắc chân thành đã được trình bày tại Hội nghị.Sông Hương xin trích đăng một phần nội dung trên trong giới hạn của chuyên mục này.