BÙI VIỆT THẮNG
(Phác vẽ quang cảnh truyện ngắn năm 2013)
Cuộc thi truyện ngắn 2013 - 2014 do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức - Ảnh: VNQĐOnline
Dấu ấn một cuộc thi
Phải nói ngay rằng những cuộc thi và thậm chí các giải thưởng lớn không phải lúc nào cũng tạo nên các giá trị lâu bền của toàn bộ nền văn học. Nhưng chí ít, trong một chừng mực nào đó, các cuộc thi là những “sân chơi”, những “vũ đài” thi thố sức lực chữ nghĩa. Cuộc thi truyện ngắn 2011 - 2012 do báo Văn Nghệ tổ chức đã khép lại từ cuối tháng 2 năm 2013, nhưng dư âm của nó vẫn còn khá mạnh (một cuộc thi có đến gần 2000 tác phẩm dự thi, báo Văn Nghệ và Văn Nghệ Trẻ đã in khoảng 400 truyện). Một ấn phẩm văn chương đầy đặn của cuộc thi là Đất tụ long (Nxb. Hội Nhà văn), gồm 33 truyện ngắn được giải, ra mắt độc giả như một bằng chứng về triển vọng của thể loại “nhỏ” trong bối cảnh văn hóa đọc đang có nhiều xáo trộn. Cuộc thi truyện ngắn 2011 - 2012 do báo Văn Nghệ tổ chức với thành công, như chúng ta thấy, đã truyền một cảm hứng sáng tác, một quyết tâm luyện bút của người viết đặng có thể làm cho thể loại “nhỏ” có địa vị xứng đáng trên văn đàn đương đại. Một cuộc thi để lại dấu ấn, tạo dư ba và kinh nghiệm nghệ thuật cho văn giới. Truyện ngắn trên báo Văn Nghệ và Văn Nghệ Trẻ sau cuộc thi vẫn giữ được nhịp độ và phong độ cũng như phong vị riêng. Nói một cách lạc quan - tất nhiên phải có cơ sở - thì truyện ngắn là thể loại có sức sống trong văn học Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Người ta vẫn hô hào bây giờ là “thời của tiểu thuyết”, nhà văn phải viết tiểu thuyết mới xứng đáng, mới thực tài (hay quá phấn khích như tác giả Thuận, người vừa cho ra mắt tiểu thuyết thứ sáu Thang máy Sài Gòn, cho rằng mình đã may mắn đoạn tuyệt với truyện ngắn chỉ để viết tiểu thuyết, vì “tiểu thuyết là si mê dai dẳng”!?). Ít ai ưu ái và lạc quan nói bây giờ là “thời của truyện ngắn”. Nhưng mặc lòng, truyện ngắn cứ khi âm thầm, lúc sôi động khẳng định vị trí không thể thiếu trên văn đàn. Thêm nữa, báo Văn Nghệ vốn luôn luôn là một địa chỉ văn chương tin cậy, một tổ chức nghề nghiệp có uy tín và kinh nghiệm tổ chức các cuộc thi truyện ngắn từ những năm 50 - 60 của thế kỉ trước cho đến tận hôm nay. Trong những cuộc thi truyện ngắn vài chục năm gần đây, có lúc báo Văn Nghệ đã tổ chức được một “bữa tiệc văn chương thịnh soạn” (Cuộc thi năm 1991 chẳng hạn). Những tên tuổi trưởng thành qua các cuộc thi truyện ngắn do báo Văn Nghệ tổ chức thật không hổ danh trước một công chúng nghệ thuật ngày càng thông minh, khó tính và đôi khi khá đỏng đảnh.
Ấn tượng mới
Cuộc thi truyện ngắn 2013 - 2014 do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức được chính thức phát động vào tháng 5 năm 2013, nhưng đã thực sự được khởi động từ trước. Một trại sáng tác do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức vào tháng 5 năm 2013 (tại Sa Pa, với lực lượng khá hùng hậu 25 trại viên) đã thu hút nhiều cây bút có triển vọng từ nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực công tác, nhiều lứa tuổi khác nhau tham dự. Tôi nghĩ đây như một cuộc “giao ban sáng tác” lí thú khi có những cây bút chững chạc, nhiều hứa hẹn tham gia như Nguyễn Đăng An, Nguyễn Thái Sơn, Doãn Dũng, Vũ Thanh Lịch, Chu Thị Minh Huệ, Tống Ngọc Hân, Đinh Phương, Võ Diệu Thanh… đã trở thành những tên tuổi quen thuộc với độc giả riêng thích truyện ngắn hôm nay. Tên tuổi quen thuộc có, tên tuổi mới có. Người mới viết có, người thạo nghề văn chương có. Nhưng gặp nhau ở một điểm - yêu thích, say mê truyện ngắn. Có người còn trẻ nhưng đã có kinh nghiệm viết truyện ngắn ngay từ khi còn là sinh viên như Đinh Phương (anh vừa tốt nghiệp khóa 11, Khoa Viết văn - Báo chí, trường Đại học Văn hóa Hà Nội) với Chiều ký ức phủ gai, Lau lách chiều trắng xóa (và một truyện không dự thi in sớm là Hoa gạo đỏ kinh thành). Có người làm thơ khá thành công, nay bỗng bén duyên truyện ngắn và chăm chút cho những đứa con tinh thần mới của mình như Nguyễn Thị Ngọc Hà với Ông thủ thừ làng Vẽ. Có người ồn ã chất lính như Trần Đức Tĩnh (tốt nghiệp Đại học VHNT Quân đội) với Lính cậu được viết theo lối “phá cách”. Chủ tịch hãng thời trang IVY Moda Doãn Dũng (đã in một tập truyện Bóng anh hùng, 2012) với Âm thanh của ký ức khá thâm thúy, dù cho anh viết truyện “như chơi”. Một Lục Mạnh Cường xuất hiện khá nhiều trên Văn nghệ Công an, nay trên sân chơi mới có Nàng Hương đậm chất rừng núi, nhiều cái lạ và kì thú. Vũ Thanh Lịch đang ở thế thượng phong, có Người đi tìm cánh tay, Mây vờn trên đỉnh Mã Yên. Có cô giáo đồng hương Hà Tĩnh chúng tôi - Tống Phú Sa - với truyện Cô Khang hết sức mộc mạc nhưng có dư ba, thấm vị chua xót về phận người. Dương Đức Khánh với Nửa ngày chiến tranh, Nguyễn Thái Sơn với Mất tích cho độc giả thêm những góc nhìn mới về chiến tranh. Có tác giả định cư ở CHLB Đức như Văn Tất Thắng với Cô Thủy - một truyện gọn ghẽ, xinh xắn đong đầy hoài niệm, có sức chứa và sức gợi khiến độc giả ám ảnh. Lê Mạnh Thường công tác trong lực lượng Cảnh sát biển có Hoài niệm U Đôm Xay với lối viết “ăn sóng nói gió” rất đặc trưng. Trên báo Văn Nghệ số 33 (năm 2013) đã có bài phê bình tập truyện ngắn Biển khóc của tác giả này. Khi chúng tôi thực hiện tiểu luận này thì cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức mới đi non nửa chặng đường dài hai năm. Có thể sẽ có bất ngờ ở phút 89, cuộc đấu nào chẳng gây cấn và hồi hộp theo cách đó (nhất là bóng đá và văn chương, dường như có một điểm tương đồng thú vị).
Thể loại nhỏ tung hoành
13 tập truyện ngắn xuất bản trong năm 2013 (cho đến thời điểm chúng tôi hoàn thành tiểu luận), là rất đáng đọc, chúng thuộc sở hữu của những cây bút có cá tính: Sẫm viôlet (Nxb. Văn học) của Nguyễn Văn Thọ, Người đàn bà nghịch cát (Nxb. Hội Nhà văn) của Nguyễn Đăng An, Bảy nàng Bạch Tuyết và Chú Lùn (Nxb. Văn học) của Nguyễn Hiếu, Ngủ giữa trùng sơn (Nxb. Văn học) của Lê Vũ Trường Giang, Đàn bà đẹp (Nxb. Văn học) của Đỗ Bích Thúy, Bông dẻ đẫm sương (Nxb. Quân đội Nhân dân) của Chu Thị Minh Huệ, Biển khóc (Nxb. Quân đội Nhân dân) của Lê Mạnh Thường, Tiếng hát liêu điêu (Nxb. Trẻ) của Nguyễn Mỹ Nữ, Khi chim đỗ quyên kêu (Nxb. Hội Nhà văn) của Nguyễn Tiến Lộc, Bước qua vườn địa đàng (Nxb. Văn học) của Vũ Thị Tuyết Mây, Cổ tích một bức tranh (Nxb. Văn học) của Lê Trung Tiết, Đêm không bóng tối (Nxb. Hà Nội) của Tống Ngọc Hân và Tiếng chuông trên đỉnh Cô Thình (Nxb. Hội Nhà văn) của Trịnh Minh Hiếu và (…). Riêng tôi nghĩ nếu tìm 13 tập thơ hoặc 13 tiểu thuyết đáng đọc, xuất bản trong năm 2013, thật không dễ dàng gì nếu so sánh với truyện ngắn.
Sẽ có người căn vặn - tại sao lại là 13? Có thể rất ngẫu hứng, chúng tôi chọn con số 13, vì năm nay là năm 2013! Thực ra trong một năm, tác phẩm văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng, là rất nhiều. Nhưng vì nhiều lẽ khác nhau: Một là “lực bất tòng tâm”, một người dù không làm gì ngoài đọc cũng không xuể. Hai là văn chương trọng cái “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Ba là, đây chỉ là một góc nhìn của một người yêu văn chương và có điều kiện theo dõi văn chương đương đại. Lẽ dĩ nhiên là còn một con số lớn hơn 13 đối với truyện ngắn trong một năm sôi động của thể loại “nhỏ”. Nhưng bất kì sự quan tâm và quan sát nào của một cá nhân cũng có giới hạn nhất định của nó. Xin được quý độc giả xa gần lượng thứ cho chúng tôi.
Hai mặt của truyện ngắn
Chúng tôi chia sẻ với quan niệm của nhà văn Nguyên Ngọc về truyện ngắn “Không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó. Truyện ngắn vốn nhiều vẻ. Có truyện viết về cả một đời người, lại có truyện chỉ ghi lại một giây phút thoáng qua. Từ lâu tôi đã có ý nghĩ như vậy, nay đọc lại thực tế truyện ngắn mấy chục năm qua, càng thấy cần có cái nhìn cởi mở, mới ôm trùm hết phạm vi của truyện ngắn” (Dẫn theo Vương Trí Nhàn - Sổ tay truyện ngắn, Nxb. Tác phẩm mới, 1980, tr.26). Truyện của các tác giả có tuổi, nhiều trải nghiệm như Nguyễn Tiến Lộc, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Thái Sơn, Nguyễn Thị Ngọc Hà, Nguyễn Đăng An, Lê Trung Tiết… bao giờ cũng hướng tới những “kiếp người”, mỗi truyện như là một bản lí lịch đầy đủ về một con người hơn là những “lát cắt” đời sống, soi dọi những “khoảnh khắc” đáng nhớ nào đó. Truyện của những người trẻ tuổi hơn như Đỗ Bích Thúy, Vũ Thanh Lịch, Chu Thị Minh Huệ, Tống Ngọc Hân, Võ Diệu Thanh… thường nghiêng về những “lát cắt”, “khoảnh khắc” đời sống độc sáng (như là lí lịch trích ngang của một người, nếu có thể ví von như thế). Lại có người rất trẻ như Lê Vũ Trường Giang trong tập truyện Ngủ giữa trùng sơn lại đắm đuối với lịch sử, lại muốn truy nguyên ngọn nguồn nhiều chuyện đời trong dòng chảy bất tận của nó. Viết truyện ngắn theo cách nào là thuộc “sở trường sở đoản” của mỗi nhà văn, cái đích cuối cùng vẫn là tác phẩm hay. Vì có người sống cả một đời bình thường, bình lặng với những phẩm tính và vẻ đẹp khuất lấp. Lại có những người sống mạnh mẽ, cuồn cuộn, chói sáng ở một “khoảnh khắc” nào đó (vì “có những phút làm nên lịch sử”).
Có thể nói truyện ngắn xứng đáng là thể loại xung kích của văn học, rất năng động và đang mở rộng, đào sâu hiện thực đời sống theo phương pháp “phát triển chiều sâu” (mượn một khái niệm của kinh tế học). Nhưng đọc truyện ngắn 2013, và truyện ngắn đương đại nói chung, tôi vẫn cứ thấy thiếu vắng cái mà Nguyễn Minh Châu đã nhấn mạnh “Chúng ta phấn đấu sao cho trong mỗi truyện ngắn của ta có một con ma trong đó, ẩn hiện, ẩn hiện. Nó chỉ hiện ra trước mắt người tinh đời” (Nguyễn Minh Châu - Di cảo, Nxb. Hà Nội, 2009, tr.361). Chúng tôi nhấn mạnh cụm từ “một con ma” trong ý kiến của nhà văn. Ý này về sau Nguyễn Quang Lập có nhắc lại trong bài Tôi bắt đầu viết truyện ngắn như thế nào: “Truyện ngắn như một con gì đó rất kì khôi ở trong rừng văn học, mày cứ liều mạng chịu vào rừng tìm kiếm, thế nào cũng có ngày thấy. Chỉ có mày thôi nhé, không thằng nào thấy đâu. Hoặc giả chúng có thấy cũng thấy khác mày”. Đây là lời nhà văn đàn anh Xuân Đức “giáo huấn” cho Nguyễn Quang Lập (Bạn Văn - Nxb. Trẻ, 2011, tr.191). Cũng không có gì khó hiểu theo cách diễn đạt của Nguyễn Minh Châu. Có thể hiểu “một con ma” là tính chất mới lạ, thậm chí kì lạ của người và việc trong câu chuyện được kể. Và cũng là cái tài biến hóa của nhà văn khi viết truyện ngắn, nhiều khi phải như ảo thuật gia, như nhà chiêm tinh, thậm chí có lúc có thể “lên đồng” bằng câu chữ.
Nếu mạnh dạn nhận xét thì truyện ngắn hôm nay nói chung của ta đúng là “lành” nhưng chưa “mạnh” nếu so với thời kì hoàng kim những năm 80 - 90 thế kỉ XX (kiểu như Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh, Gió dại của Bảo Ninh, Họ đã trở thành đàn ông của Phạm Ngọc Tiến, Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê, Bức thư gửi Mẹ Âu Cơ của Y Ban, Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo, Tiếng vạc sành của Phạm Trung Khâu…). Tôi và nhiều độc giả vẫn riêng thích lối viết “kỳ ảo” kiểu như Bến trần gian của Lưu Sơn Minh từng được giải thưởng (Giải Ba) Cuộc thi truyện ngắn 1992 -1994 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nói truyện ngắn của ta hiện chưa “mạnh” có lẽ một phần còn do nó quá “nệ thực” chăng?
Tin vào truyện ngắn
Có nhiều cơ sở để tin vào triển vọng của truyện ngắn. Vì sao? Trước hết là vì cái nền truyện ngắn dân tộc có bề dày truyền thống và nhiều thành tựu, xứng đáng là thể loại cùng với thơ tạo nên “hồn cốt” văn chương dân tộc. Trong quá khứ chúng ta đã có những tác gia truyện ngắn tài danh (riêng chúng tôi nghĩ không hề kém cạnh các nhà cổ điển thế giới) như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam. Trong văn chương đương đại chúng ta có các tác giả truyện ngắn nổi tiếng như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê. Trong thế hệ trẻ có người thành danh nhờ truyện ngắn như Nguyễn Ngọc Tư. Trong tương lai truyện ngắn cũng có thể coi là “của để dành” của văn chương dân tộc.
Truyền thống văn hóa cũng giúp chúng ta cắt nghĩa được cái “gu” thẩm mĩ của người sáng tác cũng như công chúng nghệ thuật - hướng tới cái đẹp là cái xinh xắn, “vừa khoảng”. Sự phát triển mạnh mẽ của báo chí (cho đến nay cả nước có 812 báo chí in, 1084 ấn phẩm, trong đó có 80 cơ quan báo chí văn học nghệ thuật) cũng chính là môi trường văn hóa giúp truyện ngắn dễ dàng “sinh sôi nẩy nở” (chẳng hạn một tờ báo có vẻ rất xa lạ với văn chương như tờ Kinh tế & Đô thị của Hà Nội, thỉnh thoảng có đăng một truyện ngắn hay).
Quỹ thời gian nhàn rỗi của con người thời đại đang bị co rút dần. Họ buộc phải lựa chọn các sản phẩm tiêu dùng phù hợp (kể cả sản phẩm văn hóa nghệ thuật). Truyện ngắn, vì thế có thể là một sự lựa chọn của độc giả thời nay. Phải chăng cái gì tồn tại là cái hợp lí!? Người Việt Nam vốn được coi là khéo tay trong chế tác các sản phẩm mỹ nghệ, ở đó đòi hỏi sự tinh xảo. Nếu có một so sánh, tuy khập khiễng, thì truyện ngắn đòi hỏi sự tinh xảo khi viết cũng giống như nghệ nhân chế tác các tác phẩm nghệ thuật.
Không thể đo đếm sự phát triển của văn chương nói chung, truyện ngắn nói riêng, bằng đơn vị thời gian một năm. Vì ở đó có thể là nốt trầm hoặc thăng, có thể là ngẫu nhiên hay tất nhiên, có thể phản ánh quy luật nhưng cũng có thể là hiện tượng phong phú hơn quy luật. Một cái nhìn ngắn hạn có thể làm sai lệch các nhận định về hướng phát triển của sự vật. Nhưng trong một chừng mực nào đó, cái “lát cắt” của sự vật có thể giúp ta nhìn rõ xu thế của nó. Một năm chưa thể “tính sổ” đầy đủ và công bằng với cả nền văn chương nước nhà nói chung, với truyện ngắn nói riêng, nhưng nhìn gần là để giúp nhìn xa và ngược lại. Tin vào truyện ngắn là tin vào quá khứ, nội lực, hướng đi của nó. Từ đó nhìn thấy tương lai của thể loại “nhỏ”. Riêng chúng tôi, đã lạc quan nhìn thấy từ lâu chân trời của truyện ngắn.
Hà Nội, 10/2013
B.V.T
(SH298/12-13)
Tải mã QRCode
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.
Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.
PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.
ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.
NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.
NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".
HOÀNG KIM DUNG (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)
PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...
Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.
ANH DŨNGLTS: Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.
SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.
NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?
MINH QUANG Trời tròn lưng bánh tét Đất vuông lòng bánh chưng Dân nghèo thương ngày Tết Gói đất trời rưng rưng...
NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.
Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.
NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.
ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.
HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.
FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.
KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.