Tìm trong nỗi nhớ (1), một giọng nói dịu dàng, một ánh nhìn nhân hậu...

14:32 01/07/2009
LÊ HỒNG SÂMTìm trong nỗi nhớ là câu chuyện của một thiếu phụ ba mươi tám tuổi, nhìn lại hai mươi năm đời mình, bắt đầu từ một ngày hè những năm tám mươi thế kỷ trước, rời sân bay Nội Bài để sang Matxcơva du học, cho đến một chiều đông đầu thế kỷ này, cũng tại sân bay ấy, sau mấy tuần về thăm quê hương, cô cùng các con trở lại Pháp, nơi gia đình nhỏ của mình định cư.

Truyện do hai người kể: bảy chương lẻ (1,3,5,7,9,11,13) là lời của cái "tôi" hồi tưởng hay tưởng tượng - người kể ở ngôi thứ nhất nói về những sự kiện đã xảy ra hoặc có thể xảy ra; qua bảy chương chẵn (2,4,6,8,10,12,14), người kể ở ngôi thứ ba thuật lại những gì đang diễn tiến trong hiện tại. Hai mạch truyện, hai người dẫn, quá khứ, hiện tại, tương lai, thực và mộng đan xen, hoà quyện... thủ pháp tự sự này khiến cuốn tiểu thuyết không đơn điệu, song đáng chú ý là vẫn giữ được sự liên tục, và tính thống nhất. Trước hết, truyện được cấu trúc rất kỹ: lời (hoặc ý) kết thúc chương trước nối với lời (hoặc ý) mở đầu chương sau, tạo cảm giác liền mạch, không đứt đoạn, tương tự một bài thơ liên vận. Thí dụ chương 2 khép lại bằng ý nghĩ của Lan Chi, nữ nhân vật chính, tại một thành phố miền Nam nước Pháp "Mùa đông năm nay thật lạ. Trời lạnh đến thế rồi mà sao vẫn chưa có tuyết rơi?" thì chương 3 mở ra cũng với hình ảnh tuyết, nhưng là trong ký ức của "tôi", về một thời gian, không gian khác "Tuyết rơi nhiều, rất nhiều, mùa đông năm ấy ở Matxcơva"...

Tuy nhiên, sự bố trí bên ngoài - dù công phu khéo léo - chỉ là một yếu tố gắn bó, kết nối bề mặt. Điều chủ chốt, tạo nên tính thống nhất bên trong, chính là âm điệu, là cái nhìn nhất quán, bao trùm và xuyên suốt tác phẩm: một cách nhìn thông minh và đôn hậu, một giọng nói hiền hoà nhỏ nhẹ. Tính từ dịu dàng xuất hiện nhiều lần chắc không phải ngẫu nhiên. Tình yêu trong cảm nhận của nhân vật chính bao giờ cũng gắn với sự dịu dàng: chương 3 - hồi ức về mối tình đầu chớm nở - mở ra với những bông tuyết đầu mùa "tinh khiết và dịu dàng", khép lại khi Matxcơva vào xuân, tuyết đang tan, "trời rất trong, rất dịu". Ở chương 5, người kể truyện nhớ về buổi sáng tỉnh dậy sau đêm đầu tiên trao gửi cho người yêu sắp cưới - "một cảm giác dịu dàng tràn ngập người tôi". Rồi đường đời của họ rẽ thành hai ngả, và mười hai năm sau gặp lại, biết rằng không thể quên nhau, cũng biết rằng không thể (và không nên) đảo lộn những gì đã an bài, Lan Chi nhận ở Kiên chiếc hôn từ biệt, "một nụ hôn thật dịu dàng nhưng ngắn ngủi". Mối tình sau này với Trung, cuộc hôn nhân, gia đình nhỏ họ xây đắp... cũng thấm đượm điều ấy: vòng tay Trung ôm dịu dàng khi cô kể cho anh nghe về cô và Kiên, thành phố Verona huyền bí dịu dàng trong tuần trăng mật, sự gần gũi dịu dàng và âu yếm của chồng mà cô nhớ nhung. Còn đây là ấn tượng mọi người lưu giữ về nhân vật: trong mắt người châu Âu, cô là một phụ nữ Á đông dịu dàng và dễ thương, Kiên không thể quên cô chính là vì cô dịu dàng đằm thắm, Trung luôn đầu hàng khi vợ "dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi"...

Nhưng một giọng điệu dịu dàng nhỏ nhẹ triền miên cũng có nguy cơ trở thành phẳng lặng, đôi khi tẻ nhạt (chẳng hiểu có phải để tránh điều này hay không mà trong sáng tác, phê bình, tranh luận gần đây, giọng điệu khá phổ biến là đáo để, sắc sảo, nhiều khi dữ dội, sỗ sàng? tất nhiên, việc "đảo lộn thứ bực" trong ngôn ngữ, phong cách, là một trong những cố gắng đổi mới văn chương, ở ta cũng như ở châu Âu, có điều đừng tạo nên thành một lối mòn, một ước lệ mới). May thay, Tìm trong nỗi nhớ hiền hoà, mà lại rất có duyên, nhờ nụ cười thấp thoáng ở mỗi trang. Có thể thấy trong tác phẩm mọi cung bậc, mọi sắc thái hài hước: âu yếm - như khi nói về những đứa con của Lan Chi sáng sáng "truy tìm đồ thất lạc" trước khi chạy bộ đến trường, một trò mà chúng "rất khoái" v.v., dí dỏm - thí dụ cảnh Lan Chi và Thanh Hoa đơn độc "đánh quả" ở Nga "không có bồ là rất thiệt... người nào có bồ thật đúng như có cánh. Bàn là nồi hầm... cứ tự dung bay vèo vèo về nhà"... Sự giễu cợt có khi chua chát - ngay trang đầu đã cho thấy mấy cậu bạn vụng về của Lan Chi "mặt đỏ lựng lên ngang màu đỏ của bông hồng thêu trên quần lót", những chiếc quần đem sang thị trường Nga, đôi lúc xót xa - nhẫn nhục xếp hàng, chờ đợi, để rồi tẽn tò nghe cô bán hàng dõng dạc tuyên bố không bán nữa và "thấy mình thiểu não ra về, mặt mũi bơ phờ, nhân cách tơi tả". Một vài mũi nhọn châm biếm được sử dụng khá thích đáng, khi nhằm vào các nhà khoa học "dỏm" trong và ngoài nước, một số chức sắc quan liêu, cửa quyền, (hình như vẫn hơn hiền lành, tuy không thiếu thông minh? thôi, chẳng thà vậy còn khiến người đọc dễ chịu hơn là nhiều sự đanh đá mà ít chất trí tuệ!)

Theo người kể, Lan Chi viết cuốn tiểu thuyết tự truyện này để nhìn lại con đường của cô và bạn bè, lớp du học sinh ra đi vào những năm tám mươi thế kỷ trước, bây giờ vài người ở trong nước, "còn thì tung tán khắp mọi nơi, Nga, Pháp, Anh, Đức, Mỹ, Nhật... nơi nào cũng có". Gần đây, một vài tác giả sống ở nước ngoài đã thể hiện các cảnh đời của người Việt tại xứ người, có những truyện viết chân thực, và hay (thí dụ như truyện của Nguyễn Văn Thọ mà tôi có dịp đọc). Tìm trong nỗi nhớ cũng nói về cả mặt phải và mặt trái của cuộc sống tha hương, một cách tinh tế, chừng mực, không cường điệu, không gượng nhẹ. Những dấu ấn của lịch sử, những dư âm từ quá khứ vẫn chi phối mỗi thành viên trong cộng đồng xa xứ, kẻ có ý thức, người bất tự giác, kẻ không muốn gỡ ra, người cố hoá giải... Đôi khi một hai nét phác hoạ nhẹ tênh - thí dụ như "một thoáng im lặng" của bà nội, khi thằng cháu định hát bài "Hà Nội, niềm tin và hy vọng" để đáp ứng lời bà khuyến khích hát tiếng Việt, rồi sự khó xử của bố mẹ bé trước tình huống ấy "Trung và Lan Chi cười cười nhìn con trai, chưa biết nói sao" - mà tiềm ẩn bao khác biệt thuộc tâm tư ba thế hệ! Lại có những lúc, nỗi day dứt bên trong thốt ra thành lời, và một âm điệu trữ tình bâng khuâng bỗng cất lên, thay cho giọng đùa cợt hóm hỉnh thường trực. Đó là phút giây hồi ức trỗi dậy, nữ nhân vật cảm thấy "quả tim như thắt lại, vật vã: nó biết rằng tôi yêu Tr., yêu thực sự, vậy mà tại sao một góc sâu thẳm trong lòng tôi vẫn chẳng thể quên K.?" Đó là lúc sắp rời Hà Nội trở lại Paris, Lan Chi "bắt chợt mình ghen tị với dòng người hối hả ngược xuôi trên đường phố. Ghen với sự thanh thản của một tình yêu trọn vẹn không bị giằng xé làm đôi. Ghen với cái hạnh phúc bình yên khi nhà và quê hương là một".

Cách thể hiện các biến cố, các tâm trạng, tất nhiên đã phần nào bao hàm ý định lý giải nơi người kể. Một điều rất rõ là cảm giác ngỡ ngàng của nhân vật chính (cũng là người kể xưng tôi), cô đọng trong một từ trở đi trở lại, với tần số còn cao hơn dịu dàng, đó là từ "bất ngờ". Chương 1, thuật lại cảnh lên đường của các thanh niên "đầu đầy ắp ước mơ", đã báo trước "Cuộc đời luôn luôn có những biến động bất ngờ (...) Nhưng vào thời điểm đó (...) không ai trong chúng tôi có thể ngờ trước điều này". Chương 2 nhắc lại ý đó "Chỉ vì cuộc đời cứ thích đi theo những đường ngoắt ngoéo, thích rẽ ngoặt ở những khúc bất ngờ"... Việc Thanh Hoa lấy chồng khác hẳn với dự kiến và hy vọng của bạn bè, bởi "cuộc đời đã quyết định theo kiểu khác, bằng cách đưa vào một nhân tố mới". Chuyện hôn nhân của Trung và Lan Chi cũng vậy: tiếng bất ngờ xuất hiện dày đặc, đến ba lần chỉ trong hai dòng "Trung bước vào đời tôi bất ngờ như vậy. Với anh, tôi đi từ bất ngờ này sang bất ngờ khác". Và ngay trang tiếp theo, "...tôi hơi bất ngờ khi nghe anh hỏi tôi đã ăn tối chưa (...) Bất ngờ với cả chính mình, tôi đồng ý ngay...". Cả trong những sự kiện nhỏ, hoặc tưởng như nhỏ, ngẫu nhiên cũng giữ vai trò quan trọng - công việc bán sách "đến với Lan Chi một cách hoàn toàn tình cờ ", cô quen Rita "một cách hoàn toàn tình cờ "... Đúng là trong cuộc sống của mỗi người, không ít điều do ngẫu nhiên quy định, và nói như nhà tiểu thuyết Pháp Honoré de Balzac "Ngẫu nhiên là nhà tiểu thuyết vĩ đại nhất trên đời". Song, cũng theo Balzac, bên các ngẫu nhiên thuần tuý, có những ngẫu nhiên "là quy luật chưa được hiểu thấu", và nhà văn cần phá vỡ tính ngẫu nhiên bên ngoài của sự vật, để phát hiện tính quy luật. Người kể có cố gắng thực hiện điều đó, ở chỗ này chỗ khác. Trả lời Thanh Hoa vì sao mối tình đầu đắm say của cô lại tan vỡ, Lan Chi không trút mọi sự cho "cuộc đời trớ trêu" mà thành thực "Có lẽ vì tất cả. Vì Kiên, vì tao, vì hoàn cảnh." Sau này, người kể truyện để Kiên lý giải "hoàn cảnh" ấy với Lan Chi "Nếu như hơn chục năm trước mà tình hình ở trong nước đã được như bây giờ thì chắc anh chẳng phải đi Ba Lan đánh quả làm gì. Cả em nữa, có khi em cũng chẳng sang Pháp, đúng không? Cuộc đời chúng mình lẽ ra đã có thể khác hẳn rồi."

Thế nhưng, quá khứ là quá khứ, nói như Lan Chi, giờ đây "tất cả đã an bài". Và dù tâm hồn đôn hậu của cô không thôi day dứt, "mặc cảm có lỗi với Kiên", mặc cảm rằng bố mắc bệnh tim "do quá đau buồn" về việc cô lấy Trung và ở lại Pháp, mặc cảm mình "phần nào trở thành người lạ" với quê hương, nhưng chính nỗi đau ám ảnh ấy, những dày vò trăn trở ấy - chứ không phải sự bình thản, hoặc thoả mãn - mới thực sự khiến quê hương "mãi mãi là một chốn để thương để nhớ " trong lòng những đứa con xa xứ, bởi có tình yêu sâu xa nào lại không ít nhiều gắn với nỗi đau?

L.H.S
(179-180/01&02-04)

------------------
1. Lê Ngọc Mai, Tìm trong nỗi nhớ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội,2003.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHẠM PHÚ PHONG…Làng em đây, núi rừng Trung Việt cũng là đây/Xưa kia đã hùng dũng đánh Tây/Giờ lại hiên ngang xây thành chống Mỹ/Đường Trường Sơn là đường chân lý/Đã cùng quê em kết nghĩa hẹn hò… (Quê em, 1971)

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.

  • Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.

  • PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.

  • ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.

  • NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".

  • HOÀNG KIM DUNG      (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập  truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)

  • PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...

  • Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.

  • ANH DŨNGLTS:  Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.

  • SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?

  • MINH QUANG                Trời tròn lưng bánh tét                Đất vuông lòng bánh chưng                Dân nghèo thương ngày Tết                Gói đất trời rưng rưng...

  • NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.

  • Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.

  • NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.

  • ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.

  • HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.

  • FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.