Tìm lại trang sử bóng đá Huế trước năm 1945

15:05 16/12/2024


ĐỖ MINH ĐIỀN

Toàn cảnh sân vận động Huế (nay là sân vận động Tự Do, Huế) năm 1936. Nguồn: AAVH

Bóng đá Huế: Một thời hoàng kim

Cũng giống như nhiều bộ môn thể dục thể thao khác, bóng đá (trước 1945 thường gọi là bóng tròn) được người Pháp đưa vào nước ta. Khởi đi từ vùng đất Nam Kỳ, bóng đá lan rộng đến Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Bóng đá Huế nói riêng và thể thao Huế nói chung chỉ mới bắt đầu xuất hiện trong những năm cuối của thế kỷ XIX, sau đó tiếp tục phát triển trong những năm đầu của thế kỷ XX. Trong 3 thập kỷ tiếp theo, các bộ môn như đua thuyền, bơi lội, bóng đá, đua xe đạp, điền kinh, bóng rổ, bóng bàn, tennis…, gần như có mặt trong các cuộc thi được chính quyền Trung Kỳ tổ chức tại Huế. Từ một trò chơi vốn chỉ dành cho quan viên người Pháp hay giới hạn phục vụ cho các đối tượng là quan lại, giới thượng lưu, thì nó từng bước được người Huế tiếp nhận, dần dần lan tỏa và phổ biến đến tất cả mọi tầng lớp người dân.

Thời kỳ này nhằm tạo ra một sân chơi lành mạnh cho đội ngũ công nhân nhà in, cũng như toàn bộ người dân xứ Huế, các hội nhóm thể thao do các cơ sở in ấn xuất bản tại Huế lần lượt ra đời. Vào ngày 29/7/1933, Khuynh diệp Thể dục hội được thành lập theo Nghị định số 1887, do quan Khâm sứ Trung Kỳ phê chuẩn(1).

Khuynh diệp Thể dục hội do Tôn Thất Viễn Đệ chủ trương sáng lập, để tập hợp những công nhân, người lao động thuộc hãng Khuynh diệp, qua đó khuyến khích các thành viên tham gia vào các hoạt động thể dục, thể thao. Tiếp đó, vào ngày 20/4/1935, đông đảo các thợ thầy của các nhà in: Phúc Long, Tiếng Dân, Đắc Lập nhóm họp tại nhà in Phúc Long (đường Paul Bert, nay là đường Trần Hưng Đạo) để thảo luận về việc thiết lập một hội Thể thao cho tất cả những người đang làm việc tại các nhà in. Sau gần một giờ bàn bạc, hội quyết định lấy tên: Association Sportive des Employés d’Imprimeries Huế(2).

Sân bóng đá kế cận chợ Đông Ba. Ảnh chụp 1920 - 1929. Nguồn: manhhai/flickr.com

Gần hai tháng sau, ngày 17/6/1935, Khâm sứ Trung Kỳ Graffeuil, phê chuẩn bản nghị định số 1281, cho phép thành lập Hội Văn chương, Mỹ thuật và Thể thao tại Huế (Cercle Artistique, Littéraire et Sportif Annamite, viết tắt là CALSA). Hội Văn chương, Mỹ thuật và Thể thao tại Huế, thường gọi là Hội Mỹ Hòa là tổ chức tự nguyện, “lấy tấm lòng hâm mộ mỹ thuật và thể thao của các hội viên mà duy trì và khuếch trương cho rộng hơn và liên lạc cái tình thân ái trong nghĩa bằng hữu cho có lòng hiệp tác với nhau’’(3).

Thi đấu bóng đá ở Trường Quốc học Huế. Ảnh chụp 1920 - 1929. Nguồn: manhhai/flickr.com

Mặc dù là trung tâm chính trị, văn hóa của xứ Trung Kỳ, tuy nhiên, các hoạt động luyện tập và thi đấu thể dục, thể thao ở Kinh đô Huế bấy giờ chủ yếu mang tính tự phát, thiếu sự liên kết. Vì thế, việc thành lập một tổ chức có vai trò tập hợp, bảo vệ quyền lợi chính đáng các hội viên, hội tuyển, cũng như từng bước xây dựng lộ trình, chính sách đào tạo, phát triển phong trào tập luyện và nâng cao thành tích, vị thế thể thao của Huế và toàn xứ Trung Kỳ là đòi hỏi hết sức bức thiết. Trước tình trạng đó, vào ngày 12/12/1936, Khâm sứ Trung Kỳ chuẩn y nghị định cho phép thành lập Tổng cục Thể thao Trung Kỳ(4). Đây là một tổ chức có đầy đủ tư cách pháp nhân, tập hợp tất cả hội viên, hội tuyển và các tổ chức thành viên trong khu vực Trung Kỳ, hoạt động và chịu sự quản lý của Tổng cục Thể thao Đông Dương.

Đến chiều ngày 14/01/1937, tại trụ sở Đốc lý thành phố Huế, buổi họp đầu tiên của Tổng cục Thể thao Trung Kỳ chính thức khai mạc. Tại buổi họp, các thành viên tham dự đã lần lượt bầu ra ban Trị sự chính thức, gồm: Dr Haslé (Chủ tịch/ Hội trưởng); Desmarets, Lê Thanh Cảnh (Phó Hội trưởng); Le Bossé (Thư ký); Dupuis (Thủ quỹ); Trần Đằng, La Cẩm Hy (Ủy viên). Để thuận tiện trong hoạt động quản lý tập luyện và thi đấu, Tổng cục Thể thao tiến hành cơ cấu làm 5 ban chính, phân chia nhân sự phụ trách từng bộ môn: Ban điền kinh gồm có các ông Abgrall, Cao Văn Chiểu, Đào Đăng Vỹ, Fouquet; Ban xe đạp gồm Le Bossé, Trần Văn Các, Lê Thanh Cảnh; Ban bơi lội gồm Desmarets, Martin, Đào Đăng Vỹ; Ban quần vợt, ping pong gồm Lagisquet, Trần Đằng, La Cẩm Hy và Ban bóng tròn gồm có Haslé, Trần Đình Mai, Viễn Đệ(5).

Cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta vẫn chưa có bất kỳ tư liệu nào cho phép khẳng định chính xác thời điểm bóng đá du nhập vào mảnh đất Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, vào những thập niên 20 - 30 của thế kỷ XX, thì có thể thấy bộ môn túc cầu được đông đảo người Huế say mê luyện tập. Trong đó, phải kể đến hội tuyển của hội học sinh của các trường trên địa bàn thành phố Huế lúc bấy giờ, như hội tuyển của trường Tư thục Hồ Đắc Hàm, Lycée Khải Định, trường Pellerin, trường Phú Xuân, trường Pratique (trường Kỹ nghệ Thực hành)…

Bóng đá Huế ban đầu được hình thành theo dạng sân chơi phong trào, đó là loại bóng đá chân không (chân đất) và các trận thi đấu của các hội tuyển thường được tổ chức với tính chất giao lưu, học hỏi là chính. Về sau, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các hội tuyển, các giải đấu ở cấp độ nội bộ thành phố bắt đầu ra đời. Rồi sau đó, các giải do chính quyền ở Trung Kỳ tổ chức cũng được hình thành, khiến cho bộ môn được mệnh danh là “thể thao vua” vốn đã sôi động, nay càng trở nên hấp dẫn và kịch tính hơn gấp bội.

Trước năm 1936, cùng với các sân bóng ở các trường học, sân bóng đá nằm kế cận chợ Đông Ba (sân SEPSH) được biết đến là một trong những nơi diễn ra hàng loạt các trận so tài vô cùng kịch tính đến từ các hội tuyển trên địa bàn thành phố Huế. Đến ngày 3 tháng 3 năm 1936, tất cả người dân Cố đô hân hoan chào mừng sự kiện sân vận động Huế (Stade Olympique de Hué) chính thức khánh thành. Đối với lịch sử nền bóng đá ở Huế, thời điểm ngày 03/3/1936 là dấu mốc vô cùng đặc biệt. Nói thêm về sân vận động Huế, trên thực tế kế hoạch về việc xây dựng sân thể thao này đã được khởi thảo từ đầu năm 1935. Sau đó, đến tháng 9 năm 1935, thì chính phủ bảo hộ mới có quyết định trích số tiền 60.000$, để xây sân thể thao có tổng diện tích 5 mẫu Tây, với sức chứa gần 5.000 người, có đầy đủ các phòng ốc(6).

Theo dự định, lễ khánh thành sân vận động sẽ được tổ chức ngày 01/3/1936, nhưng vì nhiều lý do, mà phải dời sang ngày 3/3/1936. Tham dự buổi lễ hôm đó có Hoàng đế Bảo Đại, Nam Phương hoàng hậu, đông đủ quan viên Pháp, Nam triều và hơn 4.000 người dân(7). Sân vận động Huế về sau đổi thành sân vận động Bảo Long (bây giờ là sân vận động Tự Do, Huế), là một trong những đấu trường được lựa chọn tổ chức các trận trong khuôn khổ giải cúp vô địch Trung Kỳ, cúp Đông Dương, các trận giao hữu giữa đội tuyển Trung Kỳ với các đội đến từ Lào, Cao Miên, cũng như giữa đội tuyển Huế với những đội đến từ nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước. Có thể nói, sau đúng 88 năm (1936 - 2024) hình thành và phát triển, sân vận động Huế là nơi chứng kiến rất nhiều trận đấu đã đi vào lịch sử bóng đá Việt Nam. Đây cũng là địa điểm lưu dấu từng bước thăng trầm của bóng đá Thừa Thiên Huế và cả những cảm xúc buồn vui của cổ động viên tỉnh nhà.

Khách quan để thừa nhận rằng, nền bóng đá của Huế phát triển rực rỡ xét trên phương diện về cơ sở vật chất, số lượng đội tuyển, chất lượng các giải đấu và tổ chức bài bản, khoa học phải từ sau năm 1936 trở đi. Có được thành tựu đó, bên cạnh sự mến mộ của đại bộ phận người dân Huế, thì rõ ràng Huế có nhiều lợi thế hơn các tỉnh thành khác trong khu vực. Đặc biệt là sự quan tâm của giới chức Nam triều, trong đó phải nhắc đến sự hỗ trợ của ông vua thứ 13 nhà Nguyễn. Ngoài việc bảo trợ các giải đấu, vua Bảo Đại là một trong những vị khán giả thường xuyên góp mặt trong các trận đấu có sự tham gia thi đấu của đội tuyển nhà.

Trên địa bàn Thừa Thiên Huế trước năm 1945 có hai giải bóng tròn, đều được tổ chức lần đầu vào năm 1936, nhưng nhanh chóng gây được tiếng vang rất lớn, đó là giải báo Tràng An và giải Khuynh diệp báo. Theo lập luận đến từ phía đơn vị tổ chức, thì việc tổ chức giải đấu này xuất phát từ thực trạng của nền bóng đá ở Kinh đô: “Ngó [nhìn] qua nền bóng tròn ở Thần kinh, chúng tôi chẳng khỏi lo xa. Lo xa rồi đây trên bãi cỏ xanh lấy ai bênh vực cho danh dự Thần kinh! Chúng tôi muốn nói ngoài hội S.E.P.S.H ra, Thần kinh chẳng còn hội nào đủ tài chống trọi [chọi] với các hội ngoài Bắc trong Nam. Chúng tôi lại muốn nói ngoài 11 cầu thủ hội S.E.P.S.H ra, chẳng còn cầu thủ nào đáng mặt đại diện cho Thần kinh trong những cuộc gặp gỡ long trọng giữa các hội đại biểu năm xứ trong cõi Đông Dương”(8).

Giải bóng tròn báo Tràng An, ngoài việc tạo sân chơi cho các cầu thủ, thì giải đấu này còn hướng đến mục tiêu tìm kiếm tài năng trẻ, qua đó để tiếp tục đào tạo và bổ sung các nhân tố mới cho hội tuyển. Về thể lệ, giải bóng tròn Tràng An báo là giải đấu của các hội tuyển bóng tròn hạng ba, đá chân không. Tất cả các đội thi phải tuân thủ quy định của Ban Tổ chức, như phải có danh sách các cầu thủ thi đấu chính thức, cầu thủ dự bị, có sắc áo riêng, cầu thủ tham gia hội tuyển này thì nghiêm cấm thi đấu cho đội tuyển khác…

Cùng thời gian này còn có giải cúp Khuynh diệp do ông chủ hãng Khuynh diệp Tôn Thất Viễn Đệ tài trợ. Giải đấu này được tổ chức lần đầu vào năm 1936, với sự tham dự các đội: An Hòa sport, Eléphant sport, Kim Long sport, Phú Vang sport, Etoile sport, Citad sport. Tất cả các trận đấu được tổ chức tại sân vận động Huế, toàn bộ tiền thu được từ bán vé sẽ trích 40% nộp lại cho thành phố, 30% nhập vào quỹ hội SEPSH và 30% chia đồng đều cho các đội tham dự(9).

Trong phân hạng các giải đấu ở Huế thời kỳ này, có thể thấy các giải đấu tự do, do các tổ chức tài trợ dưới dạng “xã hội hóa’’như trường hợp giải Tràng An báo, giải Khuynh diệp, giải Vĩnh Thi, giải SEPSH, giải Nam Phương hoàng hậu…, đều chỉ giới hạn dành riêng cho các hội tuyển ở Huế. Trong khi đó, một số giải đấu được đặt ra sau này như giải đấu tổ chức trong các dịp lễ Vạn Thọ, giải lễ Hưng quốc Khánh niệm, cúp Hội chợ Huế, dù được mở rộng phạm vi các đội tuyển tham dự, song quy mô, tính chuyên nghiệp vẫn kém hơn nhiều so với giải Vô địch Trung Kỳ và giải đấu bóng tròn Đông Dương (cúp Robin).

Giải vô địch Trung Kỳ (cúp Bảo Đại), được tổ chức lần đầu vào năm 1937, được xem là giải đấu chuyên nghiệp và danh giá nhất ở Trung Kỳ lúc đó. Giải đấu này dành cho các hội tuyển đại diện cho các tỉnh ở miền Trung. Do tính chất địa hình của xứ Trung Kỳ “dài như chiếc đòn gánh”, nên mỗi lần tổ chức giải vô địch Trung Kỳ, Tổng cục Vận động Trung Kỳ chia làm hai poules, trong đó Poule A bao gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên, Tourane, Faifoo (Hội An) và Poule B gồm các đội Quy Nhơn, Sông Cầu (Phú Yên), Nha Trang, Phan Rang, Đà Lạt, Phan Thiết.

Lịch thi đấu các đội Poule A (Bắc) cúp vô địch Trung Kỳ (1937 - 1938). Nguồn: Báo Tràng An số 259 (28/9/1937).

Trong mùa bóng đầu tiên (1937 - 1938), Poule A có tất cả 5 đội bóng đăng ký tham gia, các đội phải trải qua 20 trận đấu ở hai vòng (lượt đi, lượt về), nghĩa là mỗi đội phải đá đúng 8 trận trên cả sân khách và sân nhà. Theo thể lệ thi đấu, trận thắng được 3 điểm, hòa thì được 2 điểm, thua thì được 1 điểm. Vì Poule A (Bắc) được đánh giá quan trọng hơn các hội tuyển phía Nam, nên đội được nhiều điểm nhất Poule sẽ được đặc cách vào thẳng chung kết. Trong khi đó đội nhì của Poule A (Bắc) sẽ gặp đội nhất Poule B tại trận bán kết(10).

Trước năm 1945, ở Huế có ít nhất là 15 đội bóng khác nhau, họ thường xuyên tranh tài trong các giải đấu thường niên do chính quyền Nam triều tổ chức, như S.O.H (Stade Olympique Hué sport, 1937), Thuận An sport, Tân Lăng sport, An Định sport, Bạch Đằng sport, Gia Long sport, ASCH sport, Việt Anh sport, An Hòa sport, Eléphant sport, Kim Long sport, Phú Vang sport, Etoile sport, Citad sport… Tuy nhiên, đội bóng nổi tiếng nhất và được nhiều người nhớ đến nhất chính là đội tuyển SEPSH.

Được thành lập vào khoảng thập niên 20 thế kỷ XX, hội tuyển SEPSH (Société d’Education Physique et de Sports de Huế) là thành viên trực thuộc của hội cùng tên. Người có công đặt nền móng sáng lập hội SEPSH chính là Khâm sứ D’Elloy(11). Dưới thời chủ tịch/hội trưởng Trần Đình Mai, hội SEPSH là nơi đào tạo, huấn luyện vận động viên thể thao chuyên nghiệp hàng đầu ở Trung Kỳ.

SEPSH là một trong những câu lạc bộ bóng đá lâu đời nhất ở Huế, có thể xem đây chính là tiền thân của đội bóng Thừa Thiên Huế sau này. Đội bóng quy tụ rất nhiều cầu thủ danh tiếng một thời như: Nguyễn Hữu Tương, Tôn Thất Thiết, Rọm, Thể, Điếm, Phục, Nguyện, Trúc, Hiếu, Thược, Nguyễn Văn Tiền, Phạm Hoàng, Nguyễn Văn Tốt, Minh, Tỷ, Gà, Đông(12)… Đội bóng này có mặt trong các giải đấu ở địa phương, cho đến các giải đấu toàn xứ Trung Kỳ và tham dự trong hầu hết các trận túc cầu do liên bang Đông Dương tổ chức. Từ năm 1926 đến 1931, SEPSH liên tiếp giành chức vô địch tại các giải đấu tổ chức ở Trung Kỳ. SEPSH cũng thường xuyên tham gia các trận giao hữu với một số đội bóng đến từ nhiều tỉnh thành khác nhau. Rất nhiều thế hệ cầu thủ trưởng thành từ SEPSH đều có tên trong danh sách thi đấu của hội tuyển Trung Kỳ. Từ năm 1937 trở đi SEPSH là đội bóng đại diện cho Huế tham dự các trận đấu trong khuôn khổ tuần lễ Thể thao, diễn ra cùng thời điểm với hội chợ quốc gia tại Huế do chính quyền Nam triều đứng ra tổ chức(13). SEPSH một thời được người hâm mộ tôn vinh là “ông vua” bóng đá Trung Kỳ. Danh hiệu này xuất phát từ những thành tích của đội bóng, với nhiều năm liên tiếp giành chức vô địch giải bóng đá Trung Kỳ, cũng như thành tích bất bại trong các trận đấu với các đội bóng ở khu vực Trung Kỳ.

Tháng 5 năm 1930, chính quyền Trung Kỳ đã tổ chức giải bóng tròn. Trong trận đấu vào ngày 11/5/1930, đội tuyển SEPSH đã có một chiến thắng 2-0 đầy thuyết phục trước đội tuyển Bạch Tượng (Éléphant Blanc)(14). Chiều ngày 19/02/1933 người dân Kinh đô vô cùng mãn nhãn với trận đấu đỉnh cao giữa đội bóng SEPSH và đội bóng Hội An Sport, diễn ra tại sân bóng d’Elloy(15). Suốt thời gian thi đấu, các cầu thủ của hai đội đã cống hiến cho người xem màn trình diễn hết sức sôi động với những pha tranh chấp bóng đầy hấp dẫn. Dù đã rất nỗ lực, song đội bóng đến từ Hội An đành phải chấp nhận thua đội SEPSH với tỷ số 5-0.

Tại hội chợ Huế diễn ra vào ngày 4 tháng 3 năm 1936, đội tuyển SEPSH đã đánh bại đội tuyển Lào với tỷ số 7-1, giành chức vô địch với chiếc cúp bằng Bạc, do đích thân ông Dupuy, trưởng Ban Tổ chức trao tặng(16). Vào tháng 4 năm 1936, trận đấu giao hữu giữa hai đội tuyển đại diện cho Bắc và Trung Kỳ được tổ chức tại sân vận động Huế, thu hút hàng ngàn cổ động viên đến dự. Trận đấu này, đội SEPSH chạm trán với đội Racing Club, đây là đội bóng giàu thành tích ở miền Bắc lúc bấy giờ. Kết quả chung cuộc, hai đội bóng hòa nhau với tỷ số 1-1(17). Sau đó, vào tháng 3 năm 1938 cũng tại chợ Phiên ở Hội An, đội tuyển SEPSH thắng đội Faifoo với tỷ số 3-1, qua đó đoạt cúp vô địch(18).

Tháng 10 năm 1941, các cầu thủ của đội lên Ga Huế đáp xe lửa ra Hải Phòng để gặp đội Nội Châu và Olympique. Có tất cả 17 cầu thủ mà theo tường thuật của báo Tràng An, vị trí thi đấu của từng cầu thủ trong đội tuyển được bố trí như sau, thủ môn Vi trấn giữ khung thành; Tương, Lắc, Dung (hậu vệ); Đông, Gà, Điếm, Toàn, Mạng (tiếp ứng); Hiền, Trúc, Nho, Chí, Tỷ, Khánh, Ninh, Thu (tiền đạo)(19). Kết quả đội bóng thắng Nội Châu với tỷ số 4-3, đoạt cúp, tuy nhiên đội bóng đến từ Kinh đô lại thất thủ trước đội bóng Olympique(20). Sau đó, trong khuôn khổ các trận đấu tại giải vô địch bóng tròn Trung Kỳ năm 1942, SEPSH lần lượt đánh bại Thanh Hóa(21), với tỷ số 6-2 và ASNAVinh(22), tỷ số 3-1. Thành tích bất bại đó được SEPSH duy trì liên tục trong các năm về sau, chỉ riêng trong 7 trận đấu năm 1943, đội SEPSH đã ghi 54 bàn thắng và chỉ để lọt lưới 4 bàn(23). 

Báo Thể Tháo Đông Dương (số 7, 12/12/1941) đưa tin về giải Bóng tròn Trung Kỳ. Nguồn: BNF

Trong hơn 20 năm, đội bóng đại diện cho nền bóng đá xứ Thần kinh liên tục xuôi ngược Nam - Bắc, liên tiếp giành chức vô địch trong nhiều giải đấu, khẳng định ngôi vị quán quân trong làng túc cầu Trung Kỳ. Trước ngày khởi tranh giải Vô địch bóng tròn Trung Kỳ, mùa bóng 1941-1942, tờ Thể tháo Đông Dương đã không tiếc lời khen ngợi rằng: “Vô địch trong một năm đã là một sự khó khăn vì cần phải đủ một hùng binh dai sức, ăn nhịp và mỗi trận đấu là chỉ biết bắn lưới bên địch chớ không biết giữ thế thủ mới hòng thắng trận ở cuối mùa. Thế mà đoàn quân của Kinh kỳ đã làm được cái việc khó nhọc ấy luôn trong mấy năm nay”(24). Trong một bài báo đăng trên tờ Tràng An, tác giả Lê Đình Thạch đã có lý khi nhận xét rằng, SEPSH như là gốc rễ của nền bóng đá Huế và cái tên Nguyễn Hữu Tương xứng đáng được vinh danh là người góp công rất lớn đưa bóng đá Huế lên một đỉnh cao mới(25).

Tạm kết

Bóng đá với đặc tính hấp dẫn vốn có của nó nhanh chóng được người Huế đón nhận, trở thành trò chơi giải trí vô cùng bổ ích. Buổi sơ khai hoạt động luyện tập bóng đá ở Huế bắt đầu phát triển từ các phong trào đường phố và trong môi trường học đường. Về sau, các đội bóng/hội tuyển tự do lần lượt ra đời trên cơ sở tập hợp các thành viên có cùng sở thích, độ tuổi hoặc địa bàn cư trú. Sau ngày Tổng cục Thể thao ở Trung Kỳ thành lập, bóng đá ở Huế dần được thiết lập theo một khuôn khổ huấn luyện, thi đấu chuyên nghiệp hơn; và gặt hái rất nhiều thành tích đáng tự hào.

Bóng đá đã có mặt trên đất Huế trên dưới 100 năm, chừng ấy thời gian, qua bao biến cố của lịch sử, bộ môn này đã có vai trò rất tích cực đối với đời sống xã hội, góp phần nâng cao ý thức của người dân trong việc rèn luyện thể lực và ý chí. Trong bối cảnh đất nước bị phân chia làm ba kỳ, việc tổ chức các giải đấu bóng đá ở khu vực Trung Kỳ, hay các trận đấu giao hữu giữa các câu lạc bộ trong cả nước chính là cầu nối thúc đẩy sự hợp tác, đoàn kết của tất cả người dân đất Việt.

Đ.M.Đ
(TCSH429/11-2024)

-----------------------
1. Bulletin Administratif de l’Annam, Année 1933, N014 (02/9/1933), p. 1248.
2. Báo Tràng An (1935), Chúng ta sẽ có một hội thể thao nữa, số 18 (30/4/1935), tr. 2.
3. Hội Mỹ Hòa (1936),Statuts du Cercle Artistique Littéraire et Sportif Annamite, Imprimerie Đắc Lập (Huế), tr. 3.
4. Báo Tràng An (1937), Tổng cục Thể thao Trung Kỳ đã thành lập, số 187 (02/01/1937), tr. 2.
5. Báo Tràng An (1937), Ban Trị sự chính thức của Tổng cục Thể thao Trung Kỳ, số 193 (22/01/1937), tr. 2.
6. Hà Thành ngọ báo (1935), Tại Kinh sẽ có nhiều sân thể thao lớn, số 2416 (30/9/1935), tr. 6.
7. Báo Tràng An (1936), Lễ khánh thành sân vận động Stade Olympiquevà các cuộc tranh đấu thể thao,số 103 (06/3/1936), tr. 3.
8. Báo Tràng An (1936), Tràng An báo tổ chức một giải bóng tròn. Giải nầy chỉ để riêng cho các hội đá chân không, số 134 (23/06/1936), tr. 2.
9. Báo Tràng An (1936), Thể lệ cuộc đá bóng tròn để tranh cúp Khuynh diệp, số 141 (21/7/1936), tr. 3.
10. Báo Tràng An (1937), Giải vô địch bóng tròn Trung Kỳ mùa 1937-1938, số 259 (28/9/1937), tr. 3.
11. Báo Công Luận (1932), Về sự khuyết điểm trong làng Thể thao ở Trung Kỳ, số 2371 (28/5/1932), tr. 3.
12. Báo Công Luận (1937), Phụ trương thể thao của Công Luận, số 7324 (13/01/1937), tr. 5.
13. Đỗ Minh Điền (2023), “Về một số hội chợ Huế: từ 1931 - 1939”, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 2 (184), tr. 48-56.
14. Hà Thành ngọ báo (1930), Anh em thể thao ở Huế: Cuộc đá bóng tròn, hội thể thao Huế (S.E.P.S.H) thắng hội Bạch Tượng 2-0, số 834 (19/5/1930), tr. 6.
15. Hà Thành ngọ báo (1933), Hội thể dục SEPSH hạ Hội An Sport năm bàn tròn, số 1644 (25/02/1933), tr. 4. 
16. Báo Tràng An (1936), SEPSH gặp Lào, SEPSH hạ Lào 7 bàn gỡ 1, số 104 (10/3/1936), tr. 2.
17. Hà Thành ngọ báo (1936), Tại sân vận động Huế, Racingclub và SEPSH gặp nhau hòa 1-1,số 2584 (23/4/1936), tr. 1,2.
18. Báo Tràng An (1938), SEPSH đoạt cúp chợ Phiên FAIFOO, số 304 (18/3/1938), tr. 2.
19. Báo Tràng An (1941), Tối nay hội SEPSH ra Bắc gặp Nội Châu và Olympique, số 887 (30/10/1941), tr. 2. 
20. Báo Tràng An (1941), SEPSH hạ Nội Châu, số 889 (03/11/1941), tr. 1.
21. Báo Tràng An (1942), Tranh giải quán quân Trung Kỳ, SEPSH hạ Thanh Hóa 6-2, số 9 (Bộ mới, 28/4/1942), tr. 2. 
22. Báo Tràng An (1942), Tranh giải quán quân Trung Kỳ, SEPSH hạ ASNA Vinh 3-1,số 11 (Bộ mới, 05/5/1942), tr. 2. 
23. Báo Tràng An (1943), Tranh giải SIFA, SEPSH toàn thắng ASAT, số 242 (Bộ mới, 14/12/1943), tr. 2.
24. Báo Thể Tháo Đông Dương (1941), Giải vô địch bóngtròn Trung Kỳ mùa nầy, SEPSH hiện còn giữ được chức vô địch năm nay nữa chăng?, số 7 (12/12/1941), tr. 6.
25. Báo Tràng An (1942), Hội S.E.P.S.H mầm gốc của nền thể dục Thần kinh, số 42 (Bộ mới, 30/7/1942), tr. 2.

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • THỦY THANHCuộc thi thơ dành cho người tàn tật ở Thừa Thiên Huế mặc dù "thời gian ứng thí" chưa đầy 2 tháng nhưng đã thu được kết quả đáng khích lệ. Với 33 tác phẩm của 7 tác giả nghiệp dư mang khuyết tật trên mình nhưng mỗi con người trong họ vẫn là "một thế giới một tâm hồn" lành lặn.

  • HOÀNG TẤT THẮNGMột trong những đặc điểm đặc thù của tiếng Việt là: các danh từ chỉ sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất... không phải luôn chỉ đứng một mình mà thường kết hợp với một từ đứng trước với chức năng phân loại, chỉ đơn vị, biểu thái... trong lời nói. Chẳng hạn, sự vật thuyền trong tiếng Việt không phải chỉ có từ "thuyền" mà còn có "cái thuyền", "chiếc thuyền", "con thuyền", "lá thuyền", "mảnh thuyền"... các từ "cái - chiếc - con - lá - mảnh..." thường gọi là từ chỉ loại (hay là loại từ).

  • NGUYỄN THANH HÙNGVăn học thời đại nào cũng là sự du di cái nhìn thấm sâu vào đời sống. Thơ văn nói tới cái thật xa, rồi lại trở về với cái thật gần. Muốn đi xa, hành trang thơ phải gọn nhẹ, nhẹ chữ nhưng nặng lòng. Thơ Thiền là vậy. Mỗi câu thơ như một mũi tên bay vào tưởng tượng. Giữa những dòng thơ Thiền là một cõi chân như, vượt ra ngoài định giới môi trường xã hội quen thuộc, vì thế thơ Thiền thênh thang hướng đạo nhằm mục đích cứu sinh, đưa con người trở về với chính nó.

  • LÊ ĐẠT                Đường bụi trang lịch cũ                 ếp ếp đàn thời gian                                           L.Đ

  • HOÀNG NGỌC HIẾN             (góp phần định nghĩa minh triết)Tôi bắt đầu tiểu luận này bằng những suy nghĩ có liên quan đến chủ đề minh triết của hai học giả Việt Nam: Ngô Thời Sĩ (1740-1786) và Kim Định (1914- 1997).

  • VÕ VĨNH KHUYẾNBa mươi năm, sau khi Bác qua đời (1969 - 1999) có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều chuyên luận và khá nhiều bài viết trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước về thơ, văn của Bác. Quy mô và mức độ có khác nhau. Tuy vậy, vẫn có chỗ chưa được khảo sát một cách đầy đủ, chưa được đầu tư nghiên cứu một cách thỏa đáng. Trong phạm vi, khả năng cá nhân và nội hàm vấn đề, chúng tôi mạnh dạn trình bày một số suy nghĩ về thơ Bác viết cho thiếu nhi.

  • NGÔ TỰ LẬP(Tiếp theo TCSH số 127/9-99)

  • NGÔ TỰ LẬP1.Platon nói rằng không thể có sự bình đẳng của những kẻ vốn không bình đẳng về mặt năng lực tự nhiên. Đó là xã hội người, nhưng chúng ta cũng có thể nói tương tự như vậy về xã hội từ ngữ.

  • ĐÀO DUY HIỆP    “Hội làng mở giữa mùa thu     Giời cao gió cả giăng như ban ngày”                                            (Nguyễn Bính)

  • YURI BONDAREVTên tuổi của nhà văn Nga Yuri Bônđarép rất gần gũi với bạn đọc Việt Nam qua những tác phẩm nỗi tiếng của ông đã được dịch ở ta vào thập kỷ 80 như: "Các tiểu đoàn xin chi viện", "Tuyết bỏng", "Bến bờ", "Lựa chọn", "Trò chơi"... Là một trong những nhà văn Xô Viết hàng đầu miêu tả hùng hồn và chân thực chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc thần thánh chống phát xít Đức 1941- 1945, Bônđarép đã được phong Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa, được tặng giải thưởng Lênin, các giải thưởng Quốc gia, giải thưởng Lép Tônxtôi và M.Sôlôkhốp, giải thưởng toàn Nga "Xtalingrát"...

  • TRẦN ĐÌNH SỬVăn học Trung Quốc trong cơ chế thị trường đã có những biến đổi khá lớn. Theo các tác giả của sách Văn học Trung Quốc thế kỷ XX xuất bản tại Quảng Châu năm 1988 có thể nắm được một đôi nét diện mạo, chứng tỏ văn học Trung Quốc không còn có thể tồn tại theo phương thức cũ. Cơ chế thị trường đã làm cho nhà văn và nhà phê bình phải suy tính lại về sách lược sinh tồn và phương hướng phát triển nghề nghiệp.

  • ĐOÀN TUẤNThạch Lam qua đời cách đây đã hơn nửa thế kỉ. Ông để lại cho chúng ta một khối lượng tác phẩm không lớn nhưng chúng đã trở thành một mẫu số vĩnh hằng trong văn học Việt Nam. Tiếc rằng chúng ta đã không thể lưu giữ một bức chân dung nào của Thạch Lam. Thậm chí mộ ông được chôn cất nơi nào, cũng không ai biết.

  • NHẬT CHUNG       (Đọc bài thơ XÓM LỤT của anh Phạm Xuân Phụng)Anh Phụng là bác sĩ ở Bệnh viện Trung ương Huế. Tôi tìm hết trong tuyển tập HAI THẬP KỶ THƠ HUẾ, chỉ duy nhất bài thơ này viết về cảnh lụt lội hàng năm vẫn xảy ra ở mảnh đất nghèo khó. Trong những ngày đau buồn, khi nước vừa rút, trắng bợt trước mắt tôi những bài thơ tình èo uột nỉ non ẻo lả, và đứng dậy trước mắt tôi một bài thơ XÓM LỤT.

  • PHONG  LÊBến không chồng - Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991 đưa nhanh Dương Hướng lên một vị trí cao trong thành tựu văn học Đổi mới. Không thuộc đội ngũ “tiền trạm” xuất hiện từ đầu những năm 80 như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Mạnh Tuấn (sinh năm 1948) - người cùng thế hệ với anh (sinh 1949), đến tuổi 40 mới bắt đầu trình làng với tập truyện ngắn Gót son (1989), thế mà chỉ 2 năm sau, Dương Hướng bỗng trở thành một “tên tuổi” với Bến không chồng, góp mặt cùng Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh làm nên một bộ ba sáng giá trong văn học mở đầu thập niên 90, năm năm sau khởi động của công cuộc Đổi mới.

  • HÀ QUANG MINHLTS: Liệu có phải văn hóa chỉ đơn thuần là văn hóa hay nói cách khác là chỉ chứa đựng các yếu tố văn hóa không? Câu trả lời chắc chắn là không. Văn hóa mang cả trong nó tính chính trị và kinh tế. Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ nhắc tới tính kinh tế trong văn hóa mà thôi nhưng hy vọng nó sẽ đóng góp nhiều cho công cuộc xây dựng một xã hội văn minh hơn, công bằng hơn.

  • ĐỖ LAI THÚYVề Kinh Bắc với những hội hè, chùa chiền, với đồng chiều cuống rạ, dây bìm bìm, bí lông tơ, giun đất, con gà trụi, châu chấu.. làm người đọc nhớ đến dòng thơ viết về nông thôn, nhất là thơ Nguyễn Bính. “ Trong các nhà thơ cùng thời viết về nông thôn như Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ... có lẽ chỉ có Nguyễn Bính là nhận thức sâu sắc được sự thay đổi của thôn quê trước “ cuộc xâm lăng” của đô thị.

  • TRẦN VĂN TOÀN - NGUYỄN XUÂN DIÊN1. Ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ Mới là một vấn đề từ lâu đã được đề cập tới. Ngay từ năm 1942, Hoài Thanh- Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam mặc dù giành nhiều trang để miêu tả ảnh hưởng của thơ Pháp (đặc biệt là trường phái Tượng trưng) nhưng các ông đã trân trọng và có một chút hứng thú đặc biệt về ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ Mới (điều này được bộc lộ qua công phu miêu tả, khảo cứu và cụ thể hơn từ chính số lượng trang viết). Khi phân chia các dòng mạch Thơ Mới, Hoài Thanh- Hoài Chân nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, dòng mạch mang tính cách Việt, đồng thời cũng nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng từ Đường thi.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN…Trong thời kỳ đổi mới xuất hiện nhiều tác phẩm cảm hứng phê phán rất mạnh. Có những quan điểm và giọng điệu phê phán rất khác nhau: xót xa và lo thương, căm uất và hằn học, tỉnh táo và điềm đạm... Cảm hứng phê phán mang tinh thần hài hước khoan hòa sẽ tạo một vị trí đặc biệt cho Nguyễn Việt Hà trong văn xuôi Việt Nam đương đại…

  • ALEXANDER GENISTrên thị trường Mỹ đã xuất hiện những cuốn sách điện tử đầu tiên. “Softbook” - một đĩa điện tử có màn hình bọc da. Sức chứa - 100 000 trang, trọng lượng - 15 kg, giá cả - 300 đôla cộng 10 đôla kết nối mỗi tháng. “Paketbook” giá 500 đôla, nhưng đi kèm với nó phải có máy tính cá nhân. “Dedicate Reader” - một sổ tay điện tử. Nó giống như một cuốn sách thực sự, có một màn hình kép chứa các bản vẽ, bản đồ, sơ đồ, bảng biểu. Giá là 1500 đôla. Như kinh nghiệm cho thấy, không ai thích đọc văn bản theo màn hình, vì thế tại viện nghiên cứu “Media-lab” người ta đang tìm cách chế tạo thứ “mực điện tử” - những cái bao hết sức nhỏ có thể tùy theo cường độ và hướng của dòng điện sắp xếp lại với nhau để tạo thành văn bản. Theo cách đó, gần như loại sách bằng giấy thông thường có thể được in lại - thay một nội dung này bằng một nội dung khác. Tờ “New York Times” viết: “Ngay giờ đây đã thấy rõ sách điện tử là điều tất yếu. Nếu như không phải là sự thay thế sách in, thì cũng là sự luân phiên nó”. (Theo báo chí)

  • TRẦN ANH PHƯƠNGCầm trên tay tập thơ "Người hái phù dung" của Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi như đọc với chính mình giữa đêm khuya lặng lẽ bên ngọn đèn. Cảm nhận đầu tiên về thơ anh không phải thơ để đọc giữa chốn đông người hay ở trong hội trường lớn, thơ anh chỉ đến với người đọc khi chỉ còn lại một mình đối diện với chính mình, tìm lại mình trong những con chữ lan toả như từng đợt sóng, xâm chiếm choáng ngợp lòng người...