Stephen King (1947, Maine, Mỹ), nhà văn được xem là có công phục hồi thể loại truyện kinh dị trong thế kỷ 20.
Nhà văn Mỹ Stephen King - Ảnh: internet
King tốt nghiệp Đại học Main năm 1970. Tiểu thuyết đầu tay của ông, Carrie (1974), viết về một phụ nữ đau khổ được phú cho khả năng di dời đồ vật ở xa, đạt thành công tức thì. Trong Carrie cũng như nhiều cuốn sau đó, ông pha trộn chất kinh dị, rùng rợn, huyễn tưởng và khoa học giả tưởng lại với nhau. Tính đến 2013, ông đã viết được 53 tiểu thuyết và khoảng 300 truyện ngắn (nhiều truyện rất ngắn, chưa tới 1 trang). Ông còn viết tiểu thuyết với bút hiệu Robert Bachman và John Swithen sau khi đã thành danh để chứng tỏ rằng việc nổi tiếng chỉ là chuyện may rủi. Ngoài truyện, ông còn viết kịch bản phim và tạp bút.
STEPHEN KING
Billy Clewson chết ngay lập tức, cùng chín trong số mười thằng lính của Tiểu đội D vào ngày 8 tháng Tư 1974. Mẹ cậu phải hai năm nữa mới chết, nhưng bà đã khởi sự ngay từ buổi chiều nhận được điện tín về cái chết của con trai. Dale Clewson chỉ ngồi trên băng ghế ở hiên trước trong năm phút, mấy ngón tay cầm hờ hững tấm điện tín màu vàng mỏng manh, không rõ mình sắp ngất hay ói hay gào la hay gì khác. Khi đứng dậy được, ông vào phòng khách, vừa kịp lúc để thấy Andrea, vợ ông, nốc hớp cuối cùng của ly rượu đầu tiên và rót ly thứ nhì của thời kỳ hậu-Billy. Tiếp theo đó là rất nhiều ly nữa - thật đáng ngạc nhiên trước số ly rượu mà một phụ nữ nhỏ thó và trông rất mỏng manh có thể uống cạn trong vòng hai năm. Nguyên nhân chính thức - được ghi trên giấy chứng tử của bà - là mất chức năng gan và thận. Cả Dale và bác sĩ của gia đình đều biết đó chỉ là lớp phủ ngoài của thứ bánh nướng tẩm đầy rượu mạnh, có lẽ như bánh baba au rhum vậy. Chỉ riêng Dale biết rằng còn có một nguyên nhân thứ ba nữa: Cái chết của Billy đã giết chết mẹ nó.
Đã ba năm - ba năm tính tới sát ngày giỗ - sau khi Billy chết trên cây cầu ấy thì Dale Clewson mới bắt đầu nghĩ chắc mình sắp điên.
Chín, ông nghĩ. Có chín đứa. Luôn luôn là chín. Tới bữa nay.
Phải vậy không? Trí óc ông trả lời cho chính nó. Chắc không? Có thể mày đã đếm - lá thư của trung úy cũng nói có chín, và thư của Bortman cũng nói có chín đứa. Vậy làm sao mày dám chắc chắn như thế? Có lẽ mày chỉ tưởng như thế.
Nhưng ông không hề tưởng như thế, và ông có thể chắc chắn vì ông biết chín nghĩa là bao nhiêu mà, và có chín đứa trong bức ảnh chụp Tiểu đội D được gởi tới nhà ông qua bưu điện, cùng với bức thư của trung úy Anderson.
Mày có thể lầm đấy, trí óc của ông nhấn mạnh với vẻ trấn an hơi hoảng loạn. Mày đã bị rất nhiều khủng hoảng trong mấy năm qua, với việc đầu tiên là mất Billy rồi tới mất Andrea. Có thể mày đã lầm đấy.
Ông nghĩ, thật là đáng ngạc nhiên với việc tâm trí con người phải vượt biết bao đoạn đường điên loạn để giữ được sự tỉnh táo lành mạnh.
Ông đặt ngón tay vào hình ảnh mới xuất hiện - một chàng trai bằng cỡ tuổi Billy nhưng có tóc vàng húi cua, trông chưa quá mười sáu tuổi, chắc chắn là quá trẻ để đi vào chốn giết chóc. Nó ngồi xếp bằng phía trước Gibson, thằng biết chơi guitar theo như thư của Billy nói, và Kimberley, đứa có cả kho chuyện cười tiếu lâm. Thằng nhóc tóc vàng hơi nheo mắt nhìn nắng - nhiều đứa khác cũng vậy, nhưng bọn kia thì lâu nay vẫn có mặt ở đó. Cái áo tạp dịch của thằng nhóc mới thì phanh ngực, cặp thẻ bài của nó nằm áp vào khuôn ngực chưa mọc lông.
Dale vào bếp, lục trong chỗ mà ông và Andrea luôn gọi là “ngăn hầm bà lằn” và tìm được một cái kính lúp cũ, trầy trụa. Ông đem kính và bức ảnh ra cửa sổ phòng khách, đặt tấm ảnh cho nó đừng gây chói và soi kính vào cặp thẻ bài của thằng nhóc mới. Ông không đọc được gì cả. Ông nghĩ chắc là cả hai tấm thẻ bài đều lật sấp và úp mặt vào ngực thằng nhóc.
Thế nhưng, óc ông vẫn nảy nghi ngờ - nó kêu tích tắc ở đó như cái đồng hồ trên bệ lò sưởi. Ông đang định lên giây cái đồng hồ đó thì nhận ra thay đổi trong tấm ảnh chụp. Bây giờ ông đặt bức ảnh ấy vào nơi quen thuộc của nó, giữa bức chụp Andrea và ảnh chụp Billy ngày tốt nghiệp, tìm ra cái chìa khóa và lên giây cót đồng hồ.
Lá thư của trung úy Anderson cũng khá đơn giản. Dale tìm lại được nó trong ngăn kéo bàn giấy và đọc lại. Những dòng chữ đánh máy trên giấy quân đội. Thủ tục kế tiếp tờ điện tín theo yêu cầu, Dale nghĩ thế. Thứ nhất: tờ điện tín. Thứ nhì: Thư chia buồn của Trung úy. Thứ ba: quan tài, một chàng trong đó. Hồi đó ông đã thấy và bây giờ lại thấy rằng máy đánh chữ của Anderson có chữ “o” bị lệch lên trên khiến Clewson cứ biến thành Clewson.
Andrea từng muốn xé lá thư. Dale lại nhất quyết giữ lại. Bây giờ ông mừng vì điều đó.
Tiểu đội của Billy và hai tiểu đội khác tham gia một trận càn quét khu rừng với Kỳ Độ là ngôi làng duy nhất trong đó. Họ đã dự trù sẽ có chạm súng, thư của Anderson nói thế, nhưng chẳng có đụng độ gì cả. Đối phương được báo là đã có mặt trong khu vực nhưng đã mất hút vào rừng rậm - đây là tình cảnh mà lính Mỹ đã quá quen thuộc từ mười mấy năm qua.
Dale mường tượng được cảnh toán quân trở về căn cứ ở Hố Man vui sướng và nhẹ nhõm. Tiểu đội A và C lội qua sông Kỳ lúc đó gần như khô cạn. Tiểu đội D băng qua cầu. Được nửa đường, nó nổ tung. Có lẽ nó bị kích nổ từ hạ lưu. Hay rất có thể một ai đó - không chừng chính Billy - đã bước trúng tấm ván bẫy. Trọn chín đứa trong đội thiệt mạng. Không một ai sống sót.
Thượng đế - nếu có một đấng như thế - thường tử tế hơn mức đó, Dale thầm nghĩ. Ông đặt lá thư của Trung úy Anderson xuống và cầm thư của Josh Bortman lên. Nó được viết trên giấy có kẻ hàng màu xanh trông như giấy tập viết. Nét chữ của Bortman gần như không đọc được, nét chữ cua bò còn tệ thêm vì công cụ viết - một cây bút chì nhạt màu. Rõ ràng đã quá mòn, chắc nó chẳng khác gì cục than chì khi Bortman ký tên nó vào cuối lá thư. Ở nhiều chỗ Bortman còn đè mạnh thiếu điều đâm toạc tờ giấy.
Chắc là chính Bortman, đứa thứ mười, đã gởi cho Dale và Andrea bức ảnh chụp tiểu đội, lồng khung sẵn. Tấm kiếng trên khung như có phép lạ đã không vỡ trong suốt hành trình dài từ Hố Man tới Saigon qua San Francisco và cuối cùng tới Binghamton ở New York.
Thư của Bortman đầy đau khổ. Nó gọi chín đứa kia là “những đứa bạn tốt nhất trong đời cháu, cháu yêu tụi nó cứ như anh em ruột.”
Dale cầm tờ giấy kẻ dòng xanh và nhìn mông lung ra cửa, về phía âm thanh đồng hồ tích tắc trên bệ lò sưởi. Khi thư này tới, vào đầu tháng Năm 1974, ông đã ngập tràn đau khổ đến mức không buồn nghĩ tới đau khổ của Bortman. Bây giờ ông nghĩ mình có thể hiểu được nó - dù chỉ một chút. Bortman có mặc cảm tội lỗi sâu xa và không giãi bày được. Chín lá thư từ giường bệnh của nó tại căn cứ Hố Man, đều bằng nét lổn ngổn đau đớn đó, có lẽ đều viết bằng cây bút chì nhạt màu đó. Chi phí phóng lớn chín bức ảnh chụp Tiểu đội D, lồng khung, rồi gởi đi. Những nghi thức chuộc tội với cây bút chì nhạt màu, Dale nghĩ, gấp lá thư lại và cất đi. Trong cùng ngăn kéo với thư của Anderson. Cứ như nó đã giết chúng bằng việc chụp hình chúng. Nó muốn nói thế giữa những dòng chữ, phải không? “Xin đừng ghét cháu, bác Clewson, xin đừng nghĩ cháu giết con bác và mấy bạn kia bằng việc…”.
Trong phòng bên chiếc đồng hồ trên bệ lò sưởi điểm năm giờ.
Dale trở qua phòng khách và lại lấy bức ảnh xuống.
Điều mà mày đang nói tới chính là điên loạn.
Lại nhìn vào thằng bé có tóc vàng húi cua.
Cháu yêu tụi nó cứ như anh em ruột.
Lật bức ảnh lại.
Xin đừng nghĩ cháu giết con bác - tất cả các con bác - bằng việc chụp ảnh tụi nó. Xin đừng ghét cháu vì cháu nằm trong bệnh viện căn cứ Hố Man với búi trĩ xuất huyết thay vì đi trên cầu Kỳ Độ với những đứa bạn tốt nhất trong đời. Xin đừng ghét cháu, vì sau cùng cháu cũng bắt kịp, cháu phải mất mười năm cố gắng, nhưng sau cùng cháu đã bắt kịp.
Viết ở mặt lưng tấm ảnh, cũng bằng cây bút chì nhạt màu ấy, là ghi chú sau:
Jack Bradley Omaha, Nebraska
Billy Clewson Binghamton, New York
Rider Dotson Oneonta, New York
Charlie Gibson Payson, North Dakota
Bobby Kale Henderson, Iowa
Jack Kimberley Truth of Consequences, New Mexico
Andy Moulton Faraday, Louisiana
Jimmy Oliphant Beson, Delaware
Asley St. Thomas Anderson, Indiana
* Josh Bortman Castle Rock, Maine
Nó đặt tên của nó dưới cùng. Dale thấy thế - dĩ nhiên ông đã thấy tất cả chuyện này từ trước và đã ghi nhận - nhưng có lẽ chưa bao giờ thực sự hiểu ra cho tới lúc này. Nó đã viết tên nó cuối cùng không theo thứ tự chữ cái, và kèm dấu hoa thị.
Dấu hoa thị nghĩa là “còn sống”. Dấu hoa thị nghĩa là “đừng ghét cháu”.
Nhưng điều mày đang nghĩ tới chính là điên loạn, và mày hiểu rõ như thế.
Tuy nhiên, ông vẫn đi tới điện thoại, quay số 0, và xác định được rằng mã vùng của Maine là 207. Ông quay số tổng đài Maine, và xác định được chỉ có một gia đình Bortman ở Castle Rock.
Ông cảm ơn tổng đài, ghi lại số đó và nhìn cái điện thoại.
Mày đâu thực tình muốn gọi họ, phải không?
Không ai trả lời - chỉ có tiếng đồng hồ tích tắc. Ông đã để tấm ảnh ở trường kỷ và bây giờ đang nhìn nó - đầu tiên là nhìn thằng con của ông, tóc nó vuốt ra sau, một hàng ria mỏng đang cố mọc ở môi trên của nó, bị dừng lại vĩnh viễn ở tuổi hăm mốt, rồi nhìn vào thằng nhóc mới xuất hiện trong bức ảnh cũ đó, thằng nhóc với mái tóc vàng cắt ngắn, thằng nhóc có thẻ bài lật úp vào ngực và không đọc được. Ông nghĩ đến cách thức thằng Josh Bortman cẩn thận tách mình ra khỏi mấy đứa kia, nghĩ tới dấu hoa thị, và đột nhiên mắt ông đầy lệ ấm.
Bác chưa hề ghét cháu, ông nghĩ. Andrea cũng vậy, dù với tất cả đau khổ của bà ấy. Lẽ ra bác phải cầm bút và viết thư nói cho cháu biết điều đó, nhưng nói thật trước mặt Chúa, bác chưa từng nghĩ tới việc đó.
Ông lại cầm điện thoại lên và quay số nhà Bortman ở Castle Rock, Maine.
Máy bận.
Ông gác máy và ngồi yên năm phút, nhìn ra đường nơi Billy từng tập chạy xe đạp, ban đầu với cái xe ba bánh, rồi xe đạp với bánh nhỏ hai bên, rồi tới xe đạp chỉ hai bánh. Năm mười tám nó mang về nhà bước tiến mới nhất - một chiếc Yamaha 500. Trong thoáng chốc ông có thể thấy Billy rõ ràng đến sững người, cứ như nó có thể bước qua cửa và ngồi xuống đây.
Ông lại quay số nhà Bortman. Lần này chuông reng. Giọng nói ở đầu kia cố tình lộ vẻ mệt mỏi rõ rệt chỉ với hai từ “A lô?” Ngay lúc đó mắt Dale nhìn xuống đồng hồ tay và thấy được ngày tháng - chẳng phải lần đầu trong ngày hôm đó nhưng đấy là lần đầu tiên nó hiện rõ ý nghĩa. Đó là ngày 9 tháng Tư. Billy và đám bạn đã chết mười một năm trước cộng một ngày. Chúng nó…
“A lô?” giọng nói lặp lại gắt gỏng. “Trả lời đi, không thì tôi gác máy. Ông là người nào?”
Ông là người nào? Ông đứng trong phòng khách tích tắc tiếng đồng hồ, lạnh lẽo, lắng nghe lời lẽ rền rĩ từ miệng mình.
“Tôi là Dale Crewson. Ông Bortman à. Con trai tôi…”
“Clewson. Cha của Billy Clewson.” Giọng nói nghe bải hoải, lờ đờ.
“Phải, đó là…”
“Ông nói thế.”
Dale không biết trả lời ra sao. Lần đầu tiên trong đời ông đớ lưỡi.
“Và bức ảnh chụp Tiểu đội D của ông cũng biến đổi phải không?”
“Phải.” Ông nói mà như hụt hơi.
Giọng Bortman vẫn lờ đờ nhưng lại tràn đầy hung bạo. “Ông nghe tôi nè, và nói lại với mấy người khác. Ngay chiều nay tôi sẽ cho gắn thiết bị tìm điện thoại gọi đến. Nếu đây là trò đùa thì mấy ông sẽ phải cười suốt con đường tới nhà tù đấy, tôi bảo đảm.”
“Ông Bortman…”
“Thôi đi! Đầu tiên có ông xưng là Paul Moulton gọi đến, nghe đâu từ Louisiana, nói với vợ tôi rằng thằng con tôi bỗng dưng hiện lên trong tấm ảnh chụp Tiểu đội D mà nó gởi cho họ hồi đó. Vợ tôi giờ còn bị hoảng loạn khi có một bà xưng là mẹ của Bobby Kale cũng gọi điện để nói câu chuyện khùng điên y hệt. Kế đó, Oliphant! Mới năm phút trước, em trai của Rider Dotson! Nó bảo vậy. Bây giờ tới ông.”
“Nhưng ông Bortman…”
“Vợ tôi giờ nằm trên lầu, đã được chích an thần, và nếu đây là một trò chọc phá qua điện thoại thì thề có Chúa tôi sẽ…”.
“Ông biết đây không phải trò đùa.” Dale thì thầm. Ông cảm thấy các đầu ngón tay lạnh và tê - những ngón tay bằng kem. Ông nhìn tới bức ảnh đàng kia. Nhìn ngay thằng tóc vàng, mỉm cười, nhìn vào ống kính.
Đầu dây bên kia im bặt.
“Ông biết đây không phải trò đùa, thế thì đã có chuyện gì?”
“Con tôi tự sát tối qua,” Bortman nói đờ đẫn, “chắc ông chưa biết.”
“Chưa hề. Tôi thề đấy.”
Bortman thở dài. “Và ông đang gọi điện đường dài phải không?”
“Từ Binghamton, New York.”
“Phải. Mình có thể phân biệt cú điện đường dài và nội hạt. Ý tôi là điện thoại đường dài có tiếng u… u…”.
Dale nhận ra, hơi trễ tràng, rằng cảm xúc sau cùng đã len vào giọng nói đó. Ông Bortman đang khóc.
“Nó cứ rầu rĩ suốt, từ cuối 1974.” Bortman nói. “Cứ mùa xuân là tệ hơn, nó luôn đạt đỉnh điểm lúc gần ngày 8 tháng Tư khi mấy đứa kia… với con trai ông…”.
“Phải.” Dale nói.
“Năm nay, nó không… không có cao điểm gì hết.”
Có âm thanh bị bóp nghẹn - Bortman đang dùng khăn tay.
“Nó treo cổ trong nhà xe, ông Clewson à.”
“Chúa ơi,” Dale lầm thầm. Ông nhắm chặt mắt, cố xua đi hình ảnh. Ông thấy một hình ảnh có thể còn tệ hơn - khuôn mặt mỉm cười đó, cái áo tạp dịch phanh ngực, cặp thẻ bài lật sấp. “Tôi rất tiếc.”
“Nó không muốn người ta biết tại sao nó không đi cùng mấy đứa kia vào hôm đó, nhưng dĩ nhiên sự thật cũng lộ ra.” Một lúc im lặng trầm ngâm khá lâu bên đầu dây của Bortman. “Chuyện như vậy luôn xì ra mà.”
“Phải. Tôi cũng nghĩ thế.”
“Joshua không có nhiều bạn khi lớn lên, ông Clewson à. Tôi không nghĩ nó có bạn đích thực cho tới khi ra chiến trường. Nó yêu con ông, và mấy đứa khác nữa.”
Bây giờ chính ông ta lại an ủi mình.
“Tôi rất tiếc về mất mát của ông,” Dale nói. “Và xin lỗi vì đã quấy rầy vào thời điểm thế này. Nhưng ông hiểu cho… tôi phải làm vậy.”
“Phải. Nó có mỉm cười không, ông Clewson? Mấy người kia… họ nói nó mỉm cười.”
Dale nhìn bức ảnh cạnh cái đồng hồ. “Nó mỉm cười.”
“Nó luôn như thế. Sau cùng Josh cũng bắt kịp chúng nó.”
Dale nhìn qua cửa sổ ra con đường chỗ Billy từng cưỡi chiếc xe có bánh nhỏ hai bên. Ông nghĩ mình phải nói gì đó, nhưng có vẻ không nghĩ ra được điều gì. Bụng ông quặn đau. Xương ông lạnh toát.
“Tôi phải đi đây, ông Clewson. Phòng khi vợ tôi thức giấc.” Ông ta ngừng lại. “Chắc tôi sẽ bỏ điện thoại ra khỏi giá quá.”
“Ý đó không dở đâu.”
“Tạm biệt, ông Clewson.”
“Tạm biệt. Một lần nữa, xin gởi lời chia buồn.”
“Tôi cũng vậy.”
Cạch.
Dale bước tới bên kia và cầm tấm ảnh chụp Tiểu đội D lên. Ông nhìn cậu trai tóc vàng mỉm cười, đứa ngồi xếp bằng trước mặt Kimberley và Gibson, ngồi tự nhiên và thoải mái dưới đất cứ như nó chưa từng bị trĩ trong đời, cứ như nó chưa hề đứng trên cái thang xếp trong nhà xe mờ tối và tròng vòng dây vào cổ.
Sau cùng Josh đã bắt kịp chúng bạn.
Ông đứng nhìn chằm chằm vào bức ảnh một hồi lâu rồi mới nhận ra độ im lặng sâu thẳm trong căn phòng đã sâu thẳm hơn. Đồng hồ đã chết.
PHẠM VIÊM PHƯƠNG
dịch từ The Collective, Nxb. Phantom Press, 2000
(SH318/08-15)
Tải mã QRCode
DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.
S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.
WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?
SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.
SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar trong một gia đình nông dân thuộc tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.
MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.
PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.
SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)
ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.
DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.
MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.
HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.
GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.
VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.
NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.
S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.
JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.
KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.
ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.
KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.