Tiểu đầu đà

08:46 26/08/2011
NGUYỄN TOÀN Nhà có hai chị em. Chị như chim công, nó chẳng bằng cú. Đấng tạo hóa sau khi tạo tác một sinh vật xinh đẹp như chị chắc phải lấy làm mãn nguyện sung sướng. Rồi trong lúc quá chén ngài đã vô tình tạc nên một sinh vật dị hình nữa, là nó.

Ảnh: internet

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

Chị Ninh đẹp ngời ngời, da như sữa, môi đỏ như son, mắt đen láy, tóc mềm ngang lưng óng nuột. Nó lùn một mẩu, da thâm sì, tay chân ngắn tủn, lại thêm mắt trố, mũi sưng, miệng rộng ngoác hay cười ngơ ngẩn.

“Ương, xách cho mẹ xô nước”. “Ương, mua cho ba điếu thuốc”. Khi bị sai vặt nó cười ngờ nghệch rồi lũn cũn thực hiện mệnh lệnh một cách vui vẻ. Nó không biết nói, chỉ biết diễn đạt ý nghĩ bằng những tiếng u ơ kèm theo điệu bộ phụ họa. Ương là tên gọi ở nhà. Khương mới là tên thật. Khương tượng trưng cho sức khỏe, còn Ninh tượng trưng cho sự yên ổn. Với chị Ninh thì đúng. Với nó lại là lời nhạo báng cay độc.

Nhà nó nghèo. Cái nghèo như sợi dây thít chặt cả hai đằng nội ngoại. Trong căn nhà cũ ngói mục tường rêu, gia đình nó chung sống cùng gia đình bác và ông bà nội. Mười mấy người chen chúc trong một không gian chật hẹp. Ba mẹ, chị em nó sống ở gian trong cùng, giáp vách với nhà vệ sinh. Mùa hè nóng như đốt lò, mùa mưa nước ngấm qua tường lạnh buốt tận xương. Ba nó ẻo lả thư sinh tính khí yếu mềm, quanh năm kiếm sống bằng nghề chạm gỗ. Làm chẳng đủ ăn nên mẹ phải nhận may mũ, đan len kiếm thêm và phải gánh vác nhiều công việc đáng ra là của đàn ông. Cuộc sống cứ thế trôi đi, lặng buồn như mặt nước Hương Giang những chiều mưa tháng bảy.

Trong nhà, chị Ninh là người thương nó nhất. Chị thường để phần nó những món nho nhỏ hoặc thỉnh thoảng dẫn nó đi chơi. Cũng chỉ có chị bằng trái tim nhạy cảm, hồn hậu đến tận tụy mới hiểu được hết những gì nó muốn biểu lộ qua ánh mắt, cử chỉ. Nhìn hai chị em sóng đôi trên đường, người sắt đá cũng phải động lòng thương hại. Bởi đó là sự đối lập đến mức tàn nhẫn giữa cái hoàn thiện và cái dị dạng. Kiểu cười ngu ngơ, tròng mắt đảo ngược kia là của một đứa bé bị thiểu năng. Cái đầu to ngật ngưỡng một cách kì dị là hậu quả từ căn bệnh bẩm sinh não úng thủy. Căn bệnh quái ác đã giết non bao đứa trẻ, hoặc biến chúng thành những sinh vật không còn là người. Đặt tên con là Khương, ba mẹ đã gửi ước nguyện níu giữ được nó trên mặt đất này. Không phụ lòng ba mẹ, nó dũng cảm vượt lên cái chết, gắng gỏi tồn tại bằng sức lực nội sinh. Người đời bảo nó gánh chịu hết tai ương cho cả nhà.

Chị Ninh học giỏi, lại tài hoa đủ ngón nghề cầm, kỳ, thi, họa. Nhìn chị trong tà áo trắng ngồi gẩy đàn thập lục mới cảm được nét khuê các của người con gái đất Thần kinh. Nên chẳng lạ khi thấy hàng lũ con trai nườm nượp lượn quanh, cho dù chị luôn dửng dưng, bỏ mặc sau lưng bao lời đàm tiếu. Người cho chị kiêu, kẻ nói chị kén. Chị cười, còn mẹ lại thở dài. Lấy chồng cho đáng tấm chồng sao mẹ lại thở dài. Chị không thở dài, chỉ thỉnh thoảng chảy nước mắt. Vào vườn trưa hè nghe tiếng ve râm ran, chị bảo buồn quá rồi tự dưng chảy nước mắt. Chiều lang thang bên sông Hương nhìn dòng nước nhịp cầu, thành quách đền dài bảng lảng chìm trong sắc tím hoàng hôn chị kêu đẹp quá rồi cũng chảy nước mắt. Đấy là nước mắt sống được chắt ra từ một trái tim đa cảm và giàu lòng trắc ẩn. Không biết điều ấy nên nó cứ dứ ngón tay trước mặt chị, đầu lúc lắc và miệng u ơ như muốn bảo chị xấu lắm.

Hết cấp ba chị thi đậu vào trường Đại học Văn hóa, khoa Bảo tàng. Mẹ hỏi: “Nhà đã nghèo răng con đi chọn nghề nớ?” Chị bá vai mẹ thủ thỉ: “Bởi con yêu cung điện, lăng miếu quê mình. Mẹ yên tâm, con gái mẹ làm răng nghèo được.” Mẹ thở dài, vào giường thu vén áo quần giúp chị.

Chị ra Hà Nội học. Mẹ gò lưng đạp máy khâu làm thêm mỗi tối. Ba bỏ thuốc lá, tận dụng gỗ vụn làm những mặt hàng lưu niệm rẻ tiền. Gia đình chắt mót từng đồng gởi ra cho chị. Cậu Năm từ miệt biển gởi cá mắm lên nhà thường xuyên hơn. Chị học giỏi, luôn được học bổng lại đi dạy kèm nên cũng đỡ gánh nặng cho ba mẹ.

Mỗi năm chị được nghỉ hai đợt vào dịp tết và hè. Về đến nhà thế nào chị cũng ôm lấy nó vuốt ve mừng tủi: “Có nhớ chị không?” Nó gật đầu u ơ, mắt ướt nhòa. Nó nhớ chị, nhớ lắm. Chị đi nó không còn ai bầu bạn. Nó không hiểu tại sao chị phải đi học xa thế. Chị vẫn đẹp, một vẻ đẹp trinh trắng vô nhiễm như thiên thần. Nghe ba mẹ ướm hỏi tình cảm riêng tư, chị cười lảng tránh: “Con chưa nghĩ chuyện nớ.” Nhưng hỏi đến việc học là chị rất hào hứng. Chị kể say mê về những đình chùa cổ ở miền Bắc mà chị đã đặt chân đến. Có năng khiếu tiếng Anh, lại chuyên tâm học nên giờ chị có thể giao tiếp lưu loát. “Đúng là con vàng, con bạc.” Mọi người trầm trồ. Chị cười e ấp mà lòng ngậm ngùi nhớ câu hát ru: “Cầm vàng mà lội qua sông”. Tuy không nói ra, ba mẹ vẫn ngầm lo cho chị. Đời có ai học được chữ ngờ.

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]Minh họa: NHÍM
Đúng là không ai học được chữ ngờ. Cuối năm học thứ ba chị đi lấy chồng. Chồng chị tên Giôn, người Mỹ gốc Anh. Giôn là kiến trúc sư, sang Việt Nam làm việc theo chương trình phục chế kiến trúc cổ. Vừa gặp nhau ở Hội An, nơi chị thực tập, Giôn đã choáng rồi đem lòng yêu mê mệt. Ban đầu cả gia đình nội ngoại rùng rùng phản đối. Chồng gần không lấy đi lấy chồng xa lại là người khác giống. Chị khóc, bảo thực lòng yêu Giôn, không lấy được nhau chị nguyện ở vậy một đời. Cuối cùng gia đình phải nhượng bộ. Được cái Giôn là người hiền lành chân thật. Vào nhà biết bập bẹ chào hỏi mọi người, phải ngồi hàng buổi trong gian phòng ngột ngạt cạnh nhà vệ sinh cũng vẫn vui vẻ. Giôn chỉ kĩ tính trong vấn đề ăn uống.

Đám cưới tổ chức chu đáo nhưng không rình rang. Bên gia đình không ai sang được nên Giôn nhờ người đi họ nhà trai. Mọi nghi lễ được tiến hành ở nhà gái còn đãi khách ở nhà hàng Hương Giang. Chị mặc si-rê trắng bảy tầng, đầu đội vương miện, cổ đeo vòng vàng đẹp diễm lệ như một nàng công chúa trong vòng tay vị hoàng tử tóc vàng mắt xanh. Ca khúc The wedding dìu dặt nổi lên, mọi người hân hoan nâng cốc chúc mừng đôi uyên ương trai tài, gái sắc.

Hôm sau chị theo Giôn về Mỹ, bắt đầu cuộc đời làm dâu xứ người. Mọi thủ tục xuất nhập cảnh đã lo liệu xong từ trước. Sang bên ấy, gia đình Giôn sẽ tổ chức đám cưới lần nữa. Ba mẹ thuê xe 24 chỗ để tiễn chị và Giôn ra sân bay. Mưa giăng đầy trời. Có ai đó buột miệng vu vơ: Trời mưa ướt áo làm gì(*). Chị ngồi giữa ba mẹ ở hàng ghế trước, nó và Giôn ngồi ghế phía sau. Thỉnh thoảng, mẹ và chị lại sụt sịt. Mắt ba hoe đỏ. Giôn thì lặng lẽ nhìn ra ngoài khung cửa mưa bay. Đến sân bay Phú Bài, còn một tiếng nữa máy bay mới cất cánh. Chị và mẹ dính chặt vào nhau trên chiếc ghế ở phòng chờ. “Mẹ đừng lo, mọi chuyện sẽ ổn thôi.” - Chị gượng cười và quàng tay ôm ngang lưng mẹ. Gương mặt mẹ tái nhợt. Từ trên loa vang lên lời thông báo của người nữ nhân viên điều hành: “Xin mời quý khách đi chuyến bay... vào phòng bên kiểm tra hành lý và làm thủ tục chuẩn bị bay.” Cả phòng chờ nhao lên, kẻ ở người đi ngùi ngùi nói lời từ biệt. “Con ơi”. Mẹ chợt vỡ oà một tiếng kêu thảng thốt. “Mẹ, kìa mẹ.” Chị lắp bắp. Hai mẹ con đổ ập vào nhau, khóc lặng. Nước mắt giàn giụa chảy, cuốn theo bao ẩn ức dấu kín bấy lâu nay. “Xin mời...” lời thông báo lại vang lên giục giã. Ba gỡ tay mẹ, nước mắt đầm đìa: “Thôi, để con nó đi.” Chị thành vô hồn trên tay Giôn, vừa bước giật lùi vừa khóc: “Mẹ, mẹ ơi...”. Cặp mắt xanh của Giôn đỏ lựng. Giôn cũng khóc.

Mẹ ngất lịm trên đường về. Mọi người xúm lại cạo gió xoa dầu. Tiếng cậu Năm hốt hoảng: “Nhanh lên, chạy thẳng vô bệnh viện.” Chiếc xe lướt như bay, kim tốc độ nhích dần đến con số trăm. Nó lách vào bên trong, hoảng sợ nhìn mẹ nằm trắng bệch như một xác chết. Nó cầm tay mẹ lay gọi, xệch miệng khóc hu hơ. Bất chợt, từ chuỗi âm thanh rời rạc phát ra từ cái miệng mấp máy của nó bật ra tiếng kêu ngọng nghịu: “Mẹ, mẹ...”. Mọi người lặng đi. Nó đã cất tiếng nói đầu tiên gọi mẹ. Tiếng gọi đi thẳng vào tiềm thức tạo ra một xung động kì diệu khiến người mẹ rùng mình mở mắt hồi sinh.

Chị đi. Được chừng tháng, ba mẹ dồn tiền vàng chị và Giôn để lại tìm mua một lô đất bên Tây Lộc. Ba tháng sau, chị gởi về một đống tiền giúp ba mẹ xây nhà. Ba tháng sau nữa, ba mẹ và nó dọn về nhà mới, một tòa nhà ba tầng lộng lẫy đầy đủ tiện nghi. Cuộc đổi đời tưởng như chuyện cổ tích. Bấy giờ mọi người mới biết bố Giôn là ông chủ của một tập đoàn xây dựng hùng mạnh, Giôn lại là con một. Thật vàng chẳng phải thau đâu.

Tiền bạc làm con người thay đổi. Ba mẹ cũng vậy. Từ hạng thứ dân, giờ đi đứng ăn nói như hàng tôn thất. Nó không như thế. Nó không cần nhà to, ăn ngon, mặc đẹp. Nó chỉ cần chị, mà chị thì đã biền biệt phương trời. Nó cần có họ hàng nội ngoại, mà mọi người chừng như ngày một cách xa. Nên nó nhớ, nó buồn, nó tủi. Ba mẹ lại thường xuyên vắng nhà, khi công chuyện, khi lễ chùa. Trong ngôi nhà kín cổng cao tường chỉ còn mỗi nó và con chó Ki. Những lúc đó nó ngồi đần mặt trên nền gạch hoa bóng loáng, ngước nhìn chị và Giôn tươi cười trên khung ảnh treo tường. Cứ thế hết ngày này, ngày khác. Sự ức chế làm con người suy sụp rất nhanh. Nó lại là đứa thiểu năng, không biết gào khóc cho vơi nỗi buồn. Nên nó dần đổ bệnh, biếng ăn, biếng cười, ai gọi cũng chẳng buồn thưa.

Không ngại đường xa, ba mẹ đưa nó vào Sài Gòn chữa trị. Không thể hút hết dịch trong đầu nó một lúc vì đó là điều cực kì nguy hiểm. Các bác sĩ đã cấy cố định vào lưng nó một loại ống đặc chủng để dẫn từng giọt xuống hệ bài tiết trong vòng nhiều năm. Toàn bộ chi phí phẫu thuật đến ba mươi triệu chưa kể thuốc men kèm theo.

Về nhà được nửa tháng, nó dần hồi phục. Ba mẹ vui mừng đưa nhau lên chùa lễ tạ. Nó lại ở nhà một mình, thơ thẩn với con Ki. Chợt có tiếng chuông điện thoại. Nó lũn cũn vào phòng. Chưa nghe điện bao giờ nhưng tiếng chuông làm nó khó chịu. Nó lóng ngóng nhấc máy, bắt chước những động tác ba mẹ vẫn làm. Một tiếng nói quen thuộc vang lên trong ống nghe: “A lô, mẹ đó phải không?” Nó nghệch mặt hoảng hốt. Hình như là chị. Tay chân run lật bật, nó vội vàng bập bẹ được mỗi một tiếng: “Mẹ...” Đầu bên kia lặng đi rồi oà lên một tiếng reo: “Tiểu đầu đà đó hả?” Thế là nó bật khóc hù hụ để rớt ống nghe. Đúng chị rồi. Chỉ có chị mới gọi yêu nó là Tiểu đầu đà. “Tiểu đầu đà lại chị bắt chấy cho.” “Tiểu đầu đà ăn ổi không, chị hái?” Trong đầu óc thiểu năng của nó hé mở những khoảng sáng của một quá khứ chưa xa. Đúng tiếng chị nhưng chị đang ở đâu? Nó cầm chiếc máy săm soi suy nghĩ. Nó thấy một sợi dây dẫn thẳng lên lầu. Vậy là nó lập cập leo lên cầu thang. Nó lên tầng hai, rồi tầng ba, mở toang cửa nghiêng ngó. Chị nó chắc đang nấp ở đâu đó. Rồi nó bước ra ban công. Một khoảng trời trong xanh như lọc mở ra mênh mông trước nó. Nó lặng đi, không ngờ trên này nắng lại vàng, gió lại ngọt đến thế. Cách nó vài tầm với là những đường dây điện hun hút chạy dài đang kêu ro ro khe khẽ. Nó ngẩn người. Chị đang ở đâu? Nó vươn hai tay lên cao, chới với. Cái đầu to ật ngửa ra sau, gương mặt tuyệt vọng ngước nhìn trời xanh. Ở độ cao hơn mười mét, tư thế nó tạc vào không gian ban mai như hình ảnh một vị thánh tông đồ tuẫn đạo.

Cách nó nửa vòng trái đất, chị, cô chủ trẻ của một cửa hàng thời trang cao cấp đứng lặng người, chết sững. Trong tiếng tút tút đều đặn phát ra từ ống nghe, chị linh cảm một điều gì khủng khiếp sắp xảy ra, ngoài sức tưởng tượng của mình.

N.T
(270/08-11)



------------
(*) Thơ Nguyễn Bính





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.