Thức bên dòng sông một bờ (*)

09:14 12/03/2021

NGÔ MINH

+ Cái đêm thẳm khuya Cửa Tùng gió ấy, tôi ngồi với Nguyễn Khắc Thạch bên này bờ sông, bên này chai rượu Huế, bên này mũi Si và bên này những nén nhang lập lòe như hồn ma nơi xóm Cửa!

Ảnh: internet

Tôi vốn chậm miệng, lại ngồi với Thạch nữa, thành ra hai chúng tôi như hai vệ sĩ của đêm đen. May mà có chén rượu của người vừa gửi từ Huế ra không biết theo đường dây nào để "chia buồn" với các thi sĩ đang bị nhốt trại (viết)! Cái giống rượu thật lạ. Cứ uống vào là thèm hát, thèm thơ, thèm khóc... Ấy vậy mà Thạch vẫn cứ như tượng đá lặng ngồi, mặt đăm đăm về phía Mũi Si. Dáng ngồi cong queo khổ sở như một dấu hỏi không mong trả lời. Tôi miên man nhớ tới cái đêm long lanh câu nói Xứ Cửa Tùng Mùa hạ năm 1982 ấy, khi chợt đọc lại "Dòng sông một bờ" tập thơ đầu tay của Nguyễn Khắc Thạch. Mười năm, một bóng dáng đang rõ dần sau từng trang thơ, bài thơ. Sao ở đây, thơ lại giống người đến vậy: Khi yêu anh như chú bò đơn độc:

Mũi Si thì cũng si tình
Tôi con bò đứng một mình là hai (**)

Rồi đến cái phút "Anh như xác vỏ chai n ra ngoài cuộc rượu", là sự tận cùng của sự lặng im, dồn nén - ấy là sự mục ruỗng của xác tín, của đam mê và dâng hiến mà hình tượng thơ là một phát hiện bất ngờ, tài hoa.

+ Bởi thế mà sự đau đớn trong "Dòng sông một bờ" trở nên lung linh có ích. Nói cách khác, đã xuất hiện một bản ngã thơ, một cách hòa nhập đồng ý thức giữa người thơ và cuộc đời. Sự đau đớn bình tĩnh và ngân vang ấy phải được nuôi dưỡng bằng một tình yêu da diết lắm, bền chặt lắm mới có được. Trong mạch thơ "nhìn lại", "nói lại" (Xin được tạm dùng chữ như thế) mấy năm lại đây, tôi thích sự sám hối của cái tôi, sự đau đớn của ý thức được chiêm nghiệm, được nén đến vỡ và kiểu như Nguyễn Khắc Thạch, hơn là sự giận dữ, nguyền rủa, thô thiển ở một số tác giả thơ khác.

Có lần, Khắc Thạch rỉ rả triết lý: "Thơ không phải là sự thật mà là vết sẹo của sự thật" - Có nghĩa rằng thơ là thứ khuất lấp, da dịch, là dấu chạm khắc của kiếp người lên tâm hồn nhà thơ. Vì thế hành trình thơ là hành trình tìm kiếm đầy gian nguy để đến được cái đích thực. "Cổ mộc hàn phong cộng nhất nhân" (Nguyễn Du) Tất cả gió lạnh trên đường thổi dồn về một người - ấy là nhà thơ - người mang vác khổ đau buồn tủi của mọi người.

Anh c đi như chiếc bóng giữa đời
Mong tìm được những gì không mất

Cái "không mất" ấy là gì? Tình yêu? - Vâng, tình yêu: "Phi riêng gì ngọn sóng. Biết na vời tan vỡ vẫn dâng lên". Tự do ư? Vâng đó là TỰ DO viết hoa!

Em có thy những gì không mất
Giống bầu trời xưa mãi cánh diều lên...

Gì nữa? Cái "không mất" ấy? - Đó là nhân tính và phi nhân tính - tức là con người nhàu nát đáng thương và khốn nạn trong sự giằng xé giữa phần "con" và phần "người". Phải nuốt thơ vào lòng như người đời hay gọi là "nuốt nước mắt" ấy mới mong tìm đến và gọi tên sự thật. Bao nhiêu nhà thơ thế hệ đương thời đã tìm mà không đến. Đến rồi mà không dám gọi lên tên tục của Sự thật, để cam chịu cảnh dấm dúi, cứ như cuộc hôn phối giữa nhà thơ và sự thật là cuộc ngoại tình thảm hại. Và những bài thơ như những đứa con ngoài giá thú! Khắc Thạch không thuộc số những nhà thơ như thế. Anh không tự rạch mặt mình, tự đập đầu vào tường để thành Chí Phèo, thành AQ đặng giải thoát bằng sự chửi bới và ăn vạ! Anh lặng lẽ gọi tên sự thật, lặng lẽ đau buồn trước bộ mặt nhố nhăng hàng ngày mà sự thật phải mang, Chả trách gì mà nghẹn ngào thế: "Khoảng cô đơn còn rộng hơn mặt đt", Nên: "đôi khi ta mun làm kiếp chó - Tru lên cho đỡ vắng Người ơi!"

Đó là tiếng nức nở của tấm lòng hướng thiện, đó chính là "âm bản của nước mắt", như Khắc Thạch có lần nói...

+ Nói thế nhưng Khắc Thạch chỉ mới tới bờ bên này của khát vọng chia sẻ. Hình tượng "hôn xác chết" trong mối tình ấy diễn tả đúng hoàn cảnh hiện tại thi ca. Hay đó chính là "Dòng sông một bờ" - Không hề có bên bồi bên lở, không có đồng thanh tương khí. Nói cách khác đi đó là Bản chất của nghệ thuật. Đau hơn nỗi đau là nỗi đau được ý thức - Ai đã nói như là nói riêng cho thơ Khắc Thạch. Chính giới hạn hẫng hụt của dòng sông một bờ ấy giúp độc giả nhận ra gương mặt của mỗi nhà văn với bản lĩnh của họ. Bây giờ thì đã rõ hơn một Nguyễn Khắc Thạch im lặng, trầm tư và bức bối trước giới hạn nghiệt ngã ấy của Vĩnh cửu (chữ dùng của H.P.N.T). Hẳn nhiên, bằng tất cả thơ đã có, Khắc Thạch cũng chỉ mới là người phát hiện ra và đặt bước chân rụt rè của mình bên dòng sông một bờ, chưa đứng hẳn hai chân bên bờ sông oan nghiệt đó của cá tính sáng tạo. Điều đó không có gì đáng xấu hổ bởi con đường thơ cô định mà cơm áo thì không đùa với khách thơ!

+ Con người tìm kiếm lặng lẽ có tên là Nguyễn Khắc Thạch này ở trong "dòng sông một bờ" dường như không là người chứa chan ngất ngưỡng. Nói đúng hơn thơ không lộ thiên nơi anh và anh tìm đến với thơ. Anh làm thơ rất thừa, rất chậm. Có thể nói anh đánh vật với từng hình ảnh và con chữ, đánh vật với từng bài thơ. Bởi thế mà "Dòng sông một bờ" theo tôi, là bản tường trình sắc sảo, gạn lọc mới lạ về "sự biết", nó thiếu đi sự trào dâng cuốn hút của một dòng sông cuộn chảy. Đây chính là điểm mạnh cũng là sự thiếu hụt làm hạn chế độc giả ở thơ Khắc Thạch, đặc điểm này trong những bài thơ anh viết gần đây càng rõ nét hơn, chủ đạo hơn, chạy theo cái biểu cảm cốt lõi của sự gửi gắm. Ấy là thơ "dễ sợ", "dễ tin", "dễ phục" mà không "dễ thương" (nói theo khẩu ngữ đời sống)! Có thể do quá thiên về sự tổng kết và mới lạ mà thơ Khắc Thạch ít tạo được sự hồn nhiên chăng?

+ Với tôi, "Dòng sông một bờ" là một trong số ít tập thơ gây được ấn tượng mạnh trong vài ba năm gần đây. Hầu hết các bài thơ anh viết trong những năm học ở Trường Viết Văn Nguyễn Du. Sau "Dòng sông một bờ", Nguyễn Khắc Thạch có thêm hàng trăm bài thơ mới, dù công bố ít trên các báo. Thơ anh sau này thiên về ấn tượng hơn. Có sức nặng xã hội hơn. Một số người không thích hay khó chịu khi đọc thơ Khắc Thạch. Nhưng, công bằng mà nói, dù chưa đến độ cuồng nhiệt, thơ Khắc Thạch đang bắt được tiếng vọng thiết tha, cấp bách của sự đổi mới trong Văn học nước nhà. Tôi cứ hay mất ngủ vì nghĩ ngợi lan man, nhiều đêm bị ám ảnh bởi "Dòng sông một bờ" và thơ Khắc Thạch. Cho nên những điều chắp nối trong bài viết này là viết cho mình. Chao ôi, thơ tưởng là cái vớ vẩn mà sang trọng làm sao. Người ta sợ từng câu thơ, còn nhà thơ nghèo đói thì luôn là người đầy huyễn mộng:

Và tôi đã sống như người mơ mộng
Treo cả cuộc đời lên đnh cao
Cái đỉnh cao mà tôi có thật
là không ai
          ngi đứng
                    trên đầu

N.M
(TCSH49/05&6-1992)

-----------------
(*) Dòng sông một b, tập thơ Nguyễn Khắc Thạch, Hội VHNT BTT, 1989.
(**) Phần thơ in nghiêng đều rút ra từ trong tập thơ Dòng sông một b.


 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO        (Đọc tập thơ ''Độc thoại trước mặt trời'' của Trần Lan Vinh- NXB Văn học Hà Nội- 2003)Trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại, sự thiếu vắng những cây bút nữ đã trở thành một vấn đề cần được chú trọng. Hầu như mỗi khi phụ nữ cầm bút, điều họ quan tâm nhất đó là sự giải bày tâm sự với ngàn ngàn nỗi niềm trắc ẩn. Nếu viết là một cách để sẻ chia tâm sự thì Trần Lan Vinh là một trường hợp như thế.

  • NGUYỄN THANH TÚMùa đông năm ngoái, anh Đoàn Tuấn từ Hà Nội vào Huế giảng dạy lớp đạo diễn điện ảnh. Dù công việc khá bận rộn nhưng anh vẫn dành cho tôi không ít thời gian tâm sự, bởi ngoài tình cảm thân thiết anh còn là cấp trên của tôi ở toà soạn tạp chí Thế Giới Điện Ảnh. Trong những lần trò chuyện ấy, tôi thật sự bất ngờ khi nghe anh kể chuyện về cuốn sách anh sắp in ở Nhà xuất bản Trẻ mà nội dung của nó là câu hỏi hơn 20 năm nay vẫn luôn canh cánh trong tôi. Vốn dĩ Đoàn Tuấn là nhà biên kịch điện ảnh tên tuổi, anh đã có nhiều kịch bản phim nổi tiếng như: Chiếc chìa khoá vàng (1998), Ngõ đàn bà (1992), Đường thư (2003)...

  • MAI VĂN HOANNguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một phong cách riêng. Qua các tập Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007) ta bắt gặp những suy ngẫm của anh đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm của anh về đời sống xã hội, nhân tình thế thái. Những chiêm nghiệm và suy ngẫm đó được thể hiện bằng một giọng thơ trầm tĩnh, bình dị, sâu lắng và khá hiện đại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ       (Đọc Nỗi niềm để ngỏ của Lê Lâm Ứng - Nhà xuất bản Văn học 2002)Đọc thơ Lê Lâm Ứng để tìm những câu mượt mà thì hơi khó. Thảng hoặc lắm mới bắt gặp ở anh tâm trạng thư thái này:                Biết rằng trong cõi nhớ thương                Lạc nhau âu cũng lẽ thường vậy thôi

  • MAI VĂN HOANNguyễn Đắc Xuân không chỉ có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam mà anh còn là hội viên Hội Lịch sử Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam... Nhưng dù ở cương vị nào thì điều mà anh tâm huyết nhất vẫn là lịch sử và văn hóa Huế.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG   (Nhân đọc sách "Gió về Tùng Môn Trang" của Nguyễn Xuân Dũng)Tác giả cuốn sách này là một võ sư đệ bát đẳng huyền đai thuộc phái không thủ đạo, vừa là một nhà hoạt động thương trường nổi tiếng ở Mỹ. Nhưng cuốn sách này không hề bàn đến chuyện đấm đá hơn kém hoặc là chuyện mua bán lời lỗ mà bàn về cái TÂM. Tác giả tỏ ra hết sức chú trọng vũ đạo; nhất cử nhất động đều phải xuất phát từ cái TÂM, cái TÂM viết hoa.

  • TRẦN THUỲ MAI            (Đọc Uẩn khúc, tiểu thuyết của Hoàng Văn Bàng, NXB Thuận Hoá 2002)Câu chuyện xảy ra ở một vùng quê không xa lắm, với một tầm mức tai hại không lớn, gây một ảnh hưởng mới xem qua tưởng chừng không đáng kể. Một ông trưởng phòng ở huyện tham ô vài chục triệu thì đã thấm gì so với những câu chuyện động trời hàng ngày trên các báo, mà thủ phạm mang những chức tước lớn lao hơn, với những số tiền khổng lồ tới hàng nghìn tỉ!

  • MAI VĂN HOAN         (Giới thiệu các tác giả thuộc chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế)Ngô Minh là một trong những nhà văn Việt Nam ở Huế được Đài truyền hình Cáp Việt Nam chọn giới thiệu tới 45 phút trong chương trình “Người của công chúng”. Tôi cũng được mời nói đôi lời về anh. Với tôi, Ngô Minh là người làm việc “tới số” và chơi cũng... “tới số”!

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNCùng một kiếp bên trời lận đận                  (Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa cho ra mắt tác phẩm Rừng xưa xanh lá (Mười chân dung văn nghệ sĩ) tại Nhà xuất bản Hải Phòng (1/2003).

  • TÔ VĨNH HÀNhững trang viết sau cùng của một con người luôn luôn là điều thiêng liêng và không bao giờ hết bí ẩn. Vì sao lại dùng từ ấy chứ không phải là chữ kia; đề cập đến cái này chứ không phải là cái khác..? Rất nhiều câu hỏi sẽ đến với người đọc khi trước mắt ta là những ý tưởng hiện hữu sau cùng của một đời người - đặc biệt ở con người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là cái tên mà mỗi người Việt lúc đọc hay nói, không chỉ diễn đạt một quan niệm gần như vô hạn của nhận thức, mà hơn nhiều thế nữa - là âm sắc tuyệt vời của sự kết tụ những tinh hoa quý giá nhất của trái tim mình.

  • NGUYỄN TỐNGQuê hương đất nước và con người luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau trong suốt chiều dày của lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó tự nhiên chan hoà đến mức như cá bơi quẫy giữa đại dương, chim tung cánh vô tư giữa bầu trời bát ngát. Đến lúc nào đó, khi con người rơi vào cảnh cá chậu chim lồng, tình cảm, ý thức về đất nước thiêng liêng mới trở nên ám ảnh day dứt.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ           (Đọc “Thân Trọng Một – con người huyền thoại” của Nguyễn Quang Hà)Đã từ lâu, tên tuổi anh hùng Thân Trọng Một trở nên thân quen với mọi người, nhất là với quân dân Thừa Thiên Huế; những “sự tích” về ông đã thành truyện “truyền kỳ” trong dân chúng và đã được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, với “THÂN TRỌNG MỘT – CON NGƯỜI HUYỀN THOẠI”, lần đầu tiên, chân dung và những chiến công của ông đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động nhất.

  • Nhà văn Nguyễn Quang Hà tâm sự với tôi rằng anh có hai món nợ rất lớn mà chắc đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng không thể nào trả xong. Hai món nợ mà anh đang gánh trên đôi vai của mình là món nợ đối với nhân dân và món nợ đối với đồng đội. Gần bốn mươi năm cầm bút, anh đã viết 9 tập tiểu thuyết; 7 tập truyện ngắn, ký, truyện ký; 2 tập thơ cùng với hàng trăm bài báo cũng chỉ mong sao trả được hai món nợ ấy.

  • XUÂN CANGNhờ cuốn hồi ký nhỏ Ngày ấy Trường Sơn (Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 2000) của Nguyễn Khoa Như Ý- tên khai sinh của Hà Khánh Linh, bạn đọc được biết đây là một nhà văn nữ có khí chất không bình thường. Một người con gái mảnh dẻ, nhưng có chí, mơ mộng, ham hành động, vì nghĩa lớn mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.

  • Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.

  • HUỲNH HẠ NGUYÊN         (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...

  • LÊ MỸ Ý (L.M.Y):  Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.

  • Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.

  • NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".