Thư Sartre từ chối giải Nobel văn chương

15:37 10/01/2017

JEAN-PAUL SARTRE (Nhật Vương dịch)

Jean-Paul Sartre (1905 - 1980), nhà văn Pháp, là một trong số những gương mặt tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh, thường được vinh danh là một trong số các triết gia hàng đầu của nền triết học Pháp thế kỷ XX.

Jean-Paul Sartre (1905 - 1980) - Ảnh: internet

Các tác phẩm của ông đã từng bước định hình nên hệ khái niệm quan trọng cho kiểu mẫu tâm thức hiện sinh: buồn nôn, ngụy tín, tự do và hư vô. Năm 1964, ông được Viện hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel Văn học với thông cáo được nêu ra như sau: Giải thưởng được trao cho Sartre “vì các tác phẩm giàu ý tưởng của nhà văn, được khỏa chiếu bởi tinh thần tự do cũng như việc truy vấn sự thật, những điều đã ảnh hưởng sâu sắc lên thời đại của chúng ta”. Thông cáo được đưa ra, nhưng Sartre đã từ chối giải thưởng. Liền đó, Sartre đã viết một bức thư giải thích việc khước từ giải thưởng của mình đăng trên tờ tạp chí ở Thụy Điển vào ngày 22/10. Trong bức thư này, Sartre đã lấy làm tiếc rằng việc từ chối giải thưởng của ông đã làm dấy lên một vụ tai tiếng, cũng như việc ông khước từ giải thưởng cũng không thể thay đổi được quyết định của Viện đã đưa ra. Qua thư, Sartre muốn nói rằng việc từ chối giải thưởng của ông không có nghĩa là ông coi nhẹ Viện hàn lâm mà đúng ra là vì một số lý do khách quan cũng như lý do cá nhân. Với lý do cá nhân, Sartre cho rằng quan niệm của ông về nhiệm vụ của nhà văn là từ chối bất kỳ một sự vinh danh nào thuộc về chính quyền, việc chấp nhận vinh danh sẽ khiến cho những cam kết cá nhân phải dính mắc với những thiết chế của chính sự vinh danh đó, và trên hết, một nhà văn sẽ không cho phép anh ta đi theo bất kỳ một thiết chế nào cả. Với lý do khách quan, Sartre mong muốn đến việc rằng ông sẽ không nghiêng về bất cứ bên nào trong sự tương tranh lẫn nhau giữa hai mô hình ý thức hệ của cả Đông lẫn Tây. Ông nghĩ rằng, việc vinh danh giải thưởng sẽ không thể hiện đúng đối với những nhà văn thuộc về các quốc gia khác nhau lẫn ý thức hệ không giống nhau. Do đó, ông thấy rằng, việc ông chấp nhận giải thưởng sẽ có thể gây phiền hà và thật sự là bất chính. Sartre kết thúc thư với một niềm cảm kích gửi đến công chúng Thụy Điển. Với bức thư này, Sartre chính thức trở thành người đầu tiên từ chối giải thưởng Nobel Văn học đầy danh giá.
                                    Tuệ Đan (gt) 



Tôi rất lấy làm tiếc khi mọi chuyện đã đi quá xa, đến mức xì xầm vậy: giải thưởng đã được trao, và tôi thì từ chối. Chuyện ra nông nỗi thế, là bởi tôi đã không được báo sớm hơn, về những gì diễn ra lúc ấy. Khi tôi đọc trên tờ văn nghệ Figaro số giữa tháng 10, trong mục trao đổi của thông tín viên từ Thụy Điển, rằng lựa chọn của Viện hàn lâm Thụy Điển đang nghiêng về tôi, nhưng quyết định cuối cùng vẫn chưa được đưa ra, tôi đã nghĩ, rằng viết một lá thư gửi tới Viện hàn lâm, và thực là tôi đã gửi nó ngay ngày hôm sau, tôi có thể làm mọi việc tường minh hơn, và sẽ không còn phải cân lên đặt xuống thêm gì nữa.

Tôi đã không hay rằng, khi trao giải Nobel, người ta sẽ không tham vấn ý kiến của người nhận, và tôi cũng đã tưởng rằng, mình sẽ có đủ thời gian để lay chuyển quyết định ấy. Nhưng giờ thì, tôi hiểu, khi Viện hàn lâm Thụy Điển trao giải, quyết định sau cùng sẽ không thể thay đổi được.

Lí do tôi từ chối giải Nobel lần này, không xuất phát từ phía Viện hàn lâm Thụy Điển, cũng như bản thân giải Nobel, như tôi đã giải thích trong lá thư gửi tới Viện. Trong thư ấy, tôi có ý viện dẫn tới hai lí do: cá nhân và khách quan.

Lý do cá nhân, ấy là: việc từ chối của tôi không phải là một cái phẩy tay bốc đồng, tôi lâu nay vẫn luôn khước từ trước các giải thưởng chính thống. Năm 1945, ngay sau khi chiến tranh kết thúc, khi ấy tôi được đề nghị trao tặng giải Bắc đẩu bội tinh, tôi đã từ chối, mặc dù tôi cùng một chiến tuyến với chính phủ. Cũng vậy, tôi chưa bao giờ cố mà kiếm một chân ở trường Collège de France, như các bạn tôi khuyên.

Cái lối riêng này của tôi, là bởi, tôi dựa vào cái ý niệm mà tôi đinh ninh về công việc bếp núc của một nhà văn. Một nhà văn, anh có thể theo đuổi con đường chính trị, hay các vị trí xã hội, nhưng anh chỉ có thể sống theo cách duy nhất, cùng với công cụ mà anh nắm trong tay - ấy là, chữ nghĩa. Tất cả những vinh hạnh anh có thể nhận được, sẽ đặt độc giả của anh trước một áp lực mà tôi thì không lấy gì làm hào hứng. Nếu tôi kí tên mình Jean-Paul Sartre, nó chẳng giống như cách tôi ký, giả dụ như Jean-Paul Sartre, một nhà văn đoạt giải Nobel.

Nhà văn, khi chấp nhận một vinh quang như ấy, sẽ gắn tên tuổi mình với nó, cũng như với tổ chức, thiết chế đã vinh danh mình. Những mối cảm tình của tôi với các nhà cách mạng giải phóng người Venezuela chỉ liên đới mình tôi, trong khi, nếu là một Jean-Paul Sartre đã từng nhận giải Nobel mà cổ võ cho lực lượng nổi dậy người Venezeala, thì Jean-Paul Sartre ấy cũng sẽ liên đới tới giải Nobel, như một thiết chế.

Một nhà văn, vì thế, phải khước từ, để bản thân mình khỏi mang lấy danh của một thiết chế nào đấy, ngay cả khi việc này xảy ra trong những cảnh huống vinh hạnh nhất, như trường hợp của tôi.

Cách ứng xử này, dĩ nhiên, là do tôi lựa chọn, và nó không mang bất kì một ý niệm phê phán gì, tới những người đã từng nhận giải. Tôi có một sự ngưỡng mộ và tôn kính lớn lao tới rất nhiều người đã được nhận giải ấy, những người mà tôi vinh hạnh biết tới.

Về lí do từ chối do yếu tố khách quan: Ngày nay, trận chiến duy nhất trên mặt trận văn hóa là trận chiến cho sự cộng sinh trong yên bình giữa hai nền văn hóa, một Đông, một Tây. Tôi không có ý, rằng chúng phải dung hợp lẫn nhau - tôi biết, khi hai nền văn hóa đối mặt, rồi đây sẽ phải có những kiểu xung đột nhất định - nhưng cuộc chạm trán ấy phải là cuộc chạm trán giữa những người đàn ông và các nền văn hóa, chứ không thể có sự can thiệp của các thiết chế.

Bản thân tôi chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi sự mâu thuẫn giữa hai nền văn hóa: tôi được hình thành từ chính mối mâu thuẫn ấy. Mối tương cảm của tôi, tất nhiên, là dành cho chủ nghĩa xã hội và cho, cái mà chúng ta vẫn gọi là khối phương Đông, nhưng tôi được sinh ra và nuôi dưỡng trong một gia đình trung lưu và nền văn hóa tư bản. Điều này cho phép tôi có thể cộng tác với những người nỗ lực bắc cầu cho hai nền văn hóa ấy sát lại gần nhau hơn. Tôi, tuy thế, hy vọng rằng, dĩ nhiên “lựa chọn tốt nhất sẽ thắng”. Ấy là, chủ nghĩa xã hội.

Đó là lí do vì sao tôi không thể đón nhận giải thưởng đầy vinh hạnh này, từ tay của các giới chức văn hóa, vốn thuộc về phương Tây thay vì phương Đông, ngay cả khi tôi tương cảm với sự hiện hữu của họ. Mặc dù tất cả mọi tương cảm của tôi là dành cho phía những người theo chủ nghĩa xã hội, tôi tuy thế, sẽ không thể vì vậy mà chấp nhận, chẳng hạn, giải thưởng Lê-nin, nếu như có ai đó muốn trao cho tôi, tất nhiên là không phải lần này.

Tôi biết rằng giải Nobel, bản thân nó không phải là một giải thưởng văn chương của khối phương Tây, nhưng nó là thế khi quan sát bàn tay người trao, và những gì có thể diễn ra, là nằm ngoài tầm kiểm soát của các thành viên của Viện hàn lâm Thụy Điển. Đó là tại sao, ở vị trí hiện tại, giải Nobel vẫn đứng ra, một cách khách quan, như một sự phân biệt, dành sẵn cho các nhà văn phương Tây, hoặc cho những người nổi loạn ở phương Đông. Nó đã không được trao thưởng, chẳng hạn, cho Neruda, một trong số những nhà thơ xuất sắc nhất Nam Mỹ. Người ta chưa bao giờ đặt những câu hỏi nghiêm cẩn, về việc trao giải cho Louis Aragon, mặc dù ông ấy rõ ràng xứng đáng nhận. Thật là đáng tiếc, khi giải thưởng đã được trao cho Pasternak, thay vì cho Sholokhov, và chỉ có một tác phẩm của Soviet được vinh hạnh nhận thưởng, ấy là nó được xuất bản ở nước ngoài và bị cấm lưu hành trong nước. Một sự cân bằng có thể đã được thiết lập nhờ vào một cách ứng xử tương tự, theo một hướng khác. Trong thời chiến ở Algeria, khi chúng tôi kí “tuyên bố của 121 [trí thức]”, có lẽ tôi nên vinh hạnh chấp nhận giải thưởng, vì nó sẽ vinh danh không chỉ tôi, mà cả nền tự do mà chúng tôi đã vì nó cùng nhau chiến đấu. Nhưng vấn đề là chuyện nó không như vậy, và chuyện chỉ được để tâm sau khi cuộc chiến kết thúc và giải thưởng được trao cho tôi.

Khi bàn về lí do cho quyết định của Viện hàn lâm Thụy Điển, một ý được nhắc tới là tự do, một từ có rất nhiều cách diễn giải. Ở phương Tây, chỉ có tự do chung chung là có nghĩa: cá nhân tôi cho rằng, một nền tự do phải cụ thể hơn, trong đó, người ta có quyền có hơn một đôi giày, và ăn no đến chán. Với tôi, hình như, sẽ ít nguy hiểm hơn khi từ chối giải thưởng thay vì chấp nhận nó. Nếu tôi chấp nhận, tôi sẽ hiến mình cho những gì mà tôi gọi là “một sự cải hồi khách quan”. Theo như bài báo đăng trên tờ văn nghệ Figaro, “một quá khứ chính trị rắc rối sẽ không bị coi là rào cản với tôi”. Tôi biết bài áo ấy không thể hiện quan điểm của Viện hàn lâm, nhưng rõ ràng nó cho thấy việc tôi chấp nhận giải thưởng, sẽ bị diễn giải theo hướng nào từ phía những người cánh tả. Tôi coi cái “quá khứ chính trị rắc rối” ấy vẫn là điểm để lưu tâm, dù rằng tôi đã phần nào chuẩn bị cho việc thừa nhận với những người đồng chí của mình về những lỗi lầm quá khứ nào đó.

Tôi không vì thế cho rằng, Nobel là một giải thưởng “tư sản”, nhưng giải thưởng ấy sẽ bị người ta hiểu là một giải thưởng tư sản bởi những nhóm phái nhất định mà tôi chẳng lạ gì.

Cuối cùng, tôi xin được nói đôi chút về vấn đề tiền bạc: nó là một gánh trĩu nặng mà Viện đặt lên vai người nhận thưởng, khi cùng với sự tôn vinh, còn là một món tiền rất lớn. Điều ấy đã cật vấn đầu óc tôi. Hay là chấp nhận giải thưởng và món tiền kèm theo để hỗ trợ các tổ chức hoặc phong trào, một điểm quan trọng để cân nhắc - tôi lại chỉ nghĩ về ủy ban Apartheid ở London. Hay là từ chối giải thưởng dựa trên các nguyên tắc rộng rãi, và do đó, cướp đi một cơ hội để hỗ trợ phong trào vốn đang cần kíp. Nhưng tôi tin rằng, nó là một vấn đề bị hiểu sai. Rõ ràng là tôi từ chối 250,000 crowns, vì không muốn bị gán cho là thuộc về phía Đông hoặc Tây. Nhưng mặt khác, người ta không thể bị yêu cầu từ chối, cho số tiền 250,000 crown, nguyên tắc không chỉ thuộc về một cá nhân, mà được chia sẻ bởi tất cả các đồng chí của người ấy.

Đó là những gì đã khiến tôi đớn đau, kể cả nhận thưởng, và cả từ chối, việc mà với tất cả sự trọng thị tôi đã làm.

Tôi mong được kết thúc lá thư công bố này với một thông điệp về một tình cảm nồng hậu dành cho công chúng Thụy Điển.

Nhật Vương
Chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Anh của Richard Howard, “Sartre on the Noble Prize”, link: http://www.nybooks.com   
(SHSDB23/12-2016)


 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • THANH TÙNG            Ghi chépRa giêng Canh Dần, tết nhất vừa xong, tình cờ lướt mạng thấy Vitours đang mời đối tác tham gia famtrip Khám phá Cố đô Vương quốc Thái Lan và Tam giác Vàng. Tôi đăng ký ngay, dù chỉ còn 3 ngày nữa là khởi hành.

  • THU TRANG (Pháp)Vài tháng nay ở Pháp đã rộn ràng xảy ra nhiều chuyện đáng để chúng ta suy nghĩ. Có lẽ trước hết là việc chiếc tàu Erika chở dầu đã bị vỡ hầm chứa ngoài khơi, biển Bretagne vùng Tây nước Pháp. Một đại nạn! Dầu đã bị sóng đưa vào bờ làm đen bẩn hầu hết các bờ biển, bãi tắm nổi tiếng.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGSakuya là vị nữ thần cực kỳ xinh đẹp của xứ mặt trời mọc. Nàng là người đầu tiên tự tay gieo hạt giống cây anh đào trên núi Phú Sĩ. Mùa xuân hoa anh đào nở, đẹp cái đẹp lộng lẫy mê hồn của nàng. Bởi thế, người Nhật gọi hoa anh đào là Sakura - đọc trại từ Sakuya. Ngày nay, hoa anh đào đã có nhiều loại và mọc nhiều nơi, nhưng không nơi đâu đẹp bằng hoa anh đào ở núi Phú Sĩ.

  • VŨ LÊ THÁI HOÀNGTrong ánh nắng vàng rực tuyệt đẹp, giữa một New York hối hả, tấp nập, tua tủa nhà chọc trời, kiêu hãnh hiện ra bóng hình một phụ nữ khổng lồ tay cầm ngọn đuốc cháy sáng soi đường vào Tân Thế Giới.

  • ĐẶNG THỊ HẠNHMùa rét năm ấy ở Paris đã không có tuyết. "Một điều rất đặc biệt", ông Xuân Thủy nói với tôi như vậy khi tôi đi dạo với ông trong khu vườn bao quanh một cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp dành riêng cho phái đoàn thương lượng của ta ở Paris .

  • HÀ PHẠM PHÚTôi chọn cái tựa trên cho bài viết một phần vì tôi bị ám ảnh bởi bộ tiểu thuyết Thiên long bát bộ của Kim Dung và bài của Quách Phong, một nhà nghiên cứu trẻ công tác tại đài phát thanh truyền hình châu Đại Lý - viết về chuyến thăm Đại Lý của nhà văn rất nổi tiếng này.

  • VÕ QUANG YẾNNúi cao cũng có đường trèo,Đường đi hiểm nghèo cũng có lối di.                                                Ca dao

  • VÕ QUANG YẾNNguyễn Hải Đang, 20 tuổi xuân xanh, xúng xính trong bộ y phục mới tinh trường Bách Khoa Ecole Polytechnique, thường được gọi tắt là X.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGKathmandu là kinh đô của vương quốc Nepal, nằm dưới chân Hy mã Lạp sơn. Là thành phố của tôn giáo và nghệ thuật, của nghi thức và lễ hội, của cổ kính và hiện đại, của thánh thiện và tâm linh, của suy tư và khát vọng, của du lịch và mộng mơ, của nắng gió và tuyết. Ngày nay, Kathmandu còn là thành phố của thanh bình và chiến tranh.

  • PHẠM THỊ ANH NGABài này nhằm giới thiệu một vài nét về diện mạo thi ca Pháp và một số hoạt động liên quan đến thơ trong xã hội Pháp những năm gần đây.

  • ĐINH CƯỜNGViện Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg, Paris vừa chấm dứt cuộc triển lãm qui mô, hàng trăm bức tranh của một họa sĩ lẫy lừng, bi thảm nhất thế kỷ hai mươi: Amedeo Modigliani.

  • ĐẶNG TIẾNNước Pháp có những thành phố nhỏ, lừng danh nhờ một sinh hoạt văn hoá. Ví dụ như Cannes, Deauville với những Đại Hội Điện Ảnh. Hay Angoulême nổi tiếng từ 30 năm nay với truyền thống Festival Quốc Tế Truyện Tranh BD, do chữ Bande Dessinée viết tắt, có nghĩa là băng hoạt họa (strip cartoon). Thành phố lịch sử với năm vạn dân, cách Paris hơn 400 km về phía Tây Nam, từ ngày 23 đến 26 tháng 1-2003, trở thành trung tâm thế giới về nghệ thuật Truyện Tranh BD, lần thứ 30.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP                         Ghi chépMột chiều cuối đông năm ngoái tại góc Quán Cũ 25 Phan Đình Phùng, khi biết chúng tôi chuẩn bị chuyến khảo sát văn hóa tại Nhật Bản, giáo sư Đại học ngoại ngữ Tokyo Kawaguchi đề nghị chúng tôi nên bố trí kế hoạch đến Nhật vào mùa xuân để còn kịp ngắm hoa anh đào. Y lời, đúng ngày mở đầu tháng Tư năm nay, PGS.TS Phan Trọng Thưởng, Viện trưởng Viện Văn học và tôi lên đường công du sang Nhật khi biết chắc hoa anh đào đã nở.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG                     Ghi chép Truyền thống trong hội nhập...Rời xe bus số 64 chúng tôi rảo bộ trên con đường lát đá tảng của phố Della Concilia Zionli giữa hai hàng cột đá trông như những ngọn nến khổng lồ để đến với nơi mà bất kỳ người dân công giáo nào cũng hằng mơ ước.

  • NGUYỄN VĂN DŨNG                                KýSau gần nửa tháng rong chơi suốt hai đầu thượng hạ Ai Cập, tôi trở lại Paris chuẩn bị chuyến du hành sang Hy Lạp. Bỗng được tin của Văn Cầm Hải từ quê nhà: “Thầy về gấp. Đi Tây Tạng ngày 15/9”. Tôi quyết định ngay. Lúc ấy tôi không hiểu vì sao. Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGTôi mới có ý định leo núi Phú Sĩ trên đường từ Tokyo về cố đô Kyoto. Chiếc tàu siêu tốc chạy ngang qua vùng núi Fuji. Bên ngoài, trông Fuji hùng vĩ và đẹp hơn trong ảnh nhiều. Trên nền xanh thẳm của Công viên Quốc gia Fuji-Hakone-Izu, hai cánh núi từ tít tắp hai đầu Bắc Nam như đôi tình nhân thiên thu gặp lại, tràn về phía nhau. Và khi gặp nhau, cả hai hoà thành một, rồi bay vút lên trời, xuyên qua mấy tầng mây, để lộ giữa thinh không cao ngút cái chỏm mĩ miều như đầu ngọn bút lông.

  • TRẦN LỘC HÙNG1. Bạn bè tôi thường nói: “Không hiểu nước Nga nuôi mày kiểu gì mà tới bây giờ mày vẫn yêu nước Nga”. Vợ con tôi cũng vậy. Nước Nga dưới con mắt của những người thân của tôi hoàn toàn khác tôi. Đơn giản vì tôi đã tới nước Nga từ những năm tôi mới 17 tuổi, hơn nữa tôi đã sống, học tập và làm việc ở nước NGA ngót nghét 10 năm.

  • NGUYỄN VĂN DŨNG                           Bút kýChuyện kể rằng, vào một ngày tuyết trắng Tây kinh, Võ Tắc Thiên bỗng cao hứng lệnh cho tất cả loài hoa, nội trong một đêm phải nở hết. Sáng hôm sau, tuy giữa mùa đông giá lạnh, các loài hoa đều ríu rít nở, trừ... mẫu đơn. Võ Tắc Thiên giận lắm, bèn phán đày mẫu đơn xuống Lạc Dương cho khuất mắt. Từ đó, Lạc Dương trở thành quê hương của hoa mẫu đơn.

  • LÊ BÁ THỰ           Bút kýNhận lời mời của Bộ Văn hoá và Viện sách Ba Lan, tôi đi dự Đại hội Dịch giả Văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ nhất. Sau khi đến Vacsava,  sáng 11 tháng 5 tôi đáp xe lửa xuống Krakow , thành phố cách thủ đô Vacsava trên 300 cây số. Ngồi bên cửa sổ con tàu, tôi ngắm cảnh mùa xuân hai bên đường: những rừng thông tươi tốt, những cánh đồng lúa mì xanh xanh trải dài tít tận chân trời.

  • VI THÙY LINH           Tuỳ bútNgười Trung Quốc (TQ) có câu: “Trên trời có thiên đàng, dưới có Tô Châu, Hàng Châu”. Chỉ thoạt nghe, đã thấy người ta thật tự hào, về cảnh đẹp thành phố (TP) này đến thế nào, trên đất Đại lục dày đặc thắng cảnh, di tích, kỳ quan của Trung Hoa cẩm tú.