Thư ngỏ gửi giáo sư Cao Xuân Hạo

09:36 29/07/2008
PHẠM QUANG TRUNGAnh Cao Xuân Hạo kính mến!Trước tiên, xin thú nhận, tôi là người mê say tên tuổi anh đã từ lâu. Tuổi trẻ và sau đó là những năm tháng trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu, phê bình văn chương đã đưa tôi đến những trang dịch văn xuôi Nga – Xô viết đầy sức cuốn hút của anh, như Chuyện núi đồi và thảo nguyên, Chiến tranh và hòa bình, Truyện ngắn Gorki, Con đường đau khổ, Tội ác và trừng phạt…

Với tôi, và chắc không chỉ riêng tôi, Cao Xuân Hạo đồng nghĩa với sự thông thái, đồng nghĩa với vẻ tài hoa, những phẩm chất vốn là ước ao của bao người nhất là những người trẻ tuổi.
Vì “phải lòng” anh, nên gần đây tôi đã chăm chú theo dõi một loạt bài viết của anh gần như về cùng một vấn đề đăng trên “Văn nghệ”. Đó là các bài: Về tính hiếu học của người Việt xưa và nay, (Số 19, ngày 12/5/2001); Ngôn ngữ học với nghề văn (Số 27, ngày 7/7/2001); Phép màu của lãng quê (Số 39, ngày 29/9/2001). Thật ra những bài viết này là sự tiếp nối bài trao đổi của anh in trên “Văn nghệ”, Số 4, ngày 22/1/2000, có tên Sợ hơn bão táp. Từ nhiều góc độ khác nhau, anh lên tiếng cảnh báo, khuyến cáo về tình trạng nói và viết sai tiếng Việt một cách trầm trọng mà nguyên do là từ việc giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt bấy lâu nay quá sai lạc, tạo ra hệ thống tri thức về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa hoàn toàn không phù hợp, nghĩa là không khoa học, khiến người đọc, người học - nói như anh – “ghê sợ” tiếng mẹ đẻ. Tôi hoàn toàn chia sẻ với nỗi lo lắng chứa đựng trách nhiệm công dân cao của một nhà khoa học như anh. Tôi cũng tán đồng nhiều ý kiến xác đáng về lý lẽ, phù hợp với thực tế của anh. Và cũng như anh, tôi cho rằng những ai còn lương tri khoa học, và ý thức xã hội không thể không nghiêm túc suy nghĩ các vấn đề khẩn thiết được anh nêu ra, cùng các kiến giải độc đáo của anh.
Tuy nhiên, đọc xong các bài báo của anh, tôi thấy nỗi lo ngại được anh thành thực bày tỏ cách đây gần hai năm trong bài Sợ hơn bão táp là có cơ sở: “Tôi biết rằng những điều tôi viết trên đây không có bao nhiêu sức thuyết phục, và sẽ không thiếu gì những bạn đọc không tin tôi nói thật, hay ít nhất cũng cho rằng tôi vẽ ra một bức tranh quá ảm đạm, và những nhận định của tôi là cực đoan và thiếu căn cứ” – những chỗ in nghiêng là do tôi nhấn mạnh. Tôi cứ tự hỏi, anh có quá đủ điều kiện để lôi cuốn người khác, sao lời nói của anh “không có bao nhiêu sức thuyết phục”, mà xem ra, anh càng viết, sức thuyết phục lại càng thuyên giảm? Vâng, quả thật anh có nhiều ưu thế. Anh bàn về một ngành chuyên sâu ngữ học, Việt ngữ học mà chính anh là một chuyên gia thâm niên như có lần anh tế nhị lưu ý người đọc:... “Tôi là một trong những người đã tham gia lâu năm nhất (từ năm 1956 là năm đầu tiên có giảng dạy ngữ âm và ngữ pháp tiếng Việt trong trường đại học)”. Mục“Viết nhịu” đăng nhiều kỳ trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, cuốn sách Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa do Nxb Giáo dục ấn hành 1998, cùng nhiều bài viết, báo cáo khoa học, và một vài cuốn sách khác của anh chứng tỏ tác giả của nó vừa có thực tiễn ngôn từ dồi dào vừa có lý thuyết ngôn ngữ phong phú. (Xin lỗi, tôi không dám đánh giá những đóng góp khoa học của anh, vì tôi không có thói quen bàn về những lãnh vực bản thân chưa thật sự am hiểu). Anh còn có lòng trung thực và quả cảm – vốn là ưu thế của kẻ mạnh: “Tôi chỉ nói lên những sự thật thuần túy – anh viết – mà đã mười mấy năm nay chưa từng lấy có một người nào dám nói hay viết dù chỉ một câu để bác bỏ”. Đặc biệt, anh mang tình yêu tiếng Việt hiếm có – thiếu nó sẽ không một ai có đủ nghị lực để kiên trì đi trên con đường tìm hiểu tiếng Việt vốn quá nhiều trở ngại và thách thức để có những đóng góp thật sự. Tôi cảm động khi đọc những dòng sau của anh: “Tiếng Việt… tuy khác với tiếng Pháp về nhiều phương diện, nhất là về ngữ pháp, nó vẫn là một thứ tiếng trong sáng, chính xác, tinh tế, đẹp đẽ hoàn toàn xứng đáng được dân ta quý trọng và nâng niu”.
Tóm lại, lẽ ra những ý kiến của một người có đủ uy tín như anh phải tỏ rõ sức mạnh trong thực tế, nhưng lại chưa, thậm chí không được như vậy, vì sao? Trước hết, tôi thấy ý kiến của anh có lẽ còn phiến diện và cực đoan. Chẳng hạn, việc anh lý giải hiện trạng sử dụng sai tiếng Việt tràn lan trên sách, tạp chí, và các phương tiện thông tin đại chúng. Anh gần như đổ tất cả lỗi lầm lên đầu những người viết sách giáo khoa, giáo trình tiếng Việt, theo tôi, vậy là vô lối. Anh quả quyết: “Nhiều giáo sư văn học đã phải thốt lên: Mong sao sau 12 năm học phổ thông con tôi vẫn còn nói và viết được tiếng Việt như trước khi đi học”. Tôi không rõ những người đó có sai sót hay không, và sai sót đến đâu, nhưng cả khi họ có sai sót, kể cả những sai sót trầm trọng, không thể tha thứ được như ý của anh là “ngày nay Việt Nam đang là cái pháo đài cuối cùng và cực kỳ kiên cố của chủ nghĩa dĩ Âu vi trung cực đoan trong ngôn ngữ học”, thì cũng không thể cho đó là nguyên nhân duy nhất, hoặc ở mức độ thấp hơn là nguyên nhân quan trọng nhất được. Sách viết ra, còn có vai trò của người đọc; sách dành cho việc học còn có vai trò của người dạy và người học. Không phải sách (kể cả sách công cụ như giáo khoa, giáo trình) viết gì người ta cũng buộc phải nghe cả đâu. Vả chăng, nói viết tiếng mẹ đẻ là vấn đề giao tiếp xã hội rộng rãi, nguyên do của cái hay và cái dở trong đó bao giờ cũng tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố cực kỳ phức tạp, không thể chỉ quy lỗi cho một ai, một lãnh vực nào.
Nhưng thôi, cứ tạm chấp nhận với anh, sách viết về tiếng Việt còn nhiều sai sót và bất cập là một trong những nguyên do cơ bản của tình trạng sai phạm trong sử dụng tiếng Việt thì tôi cũng không thể đồng tình với anh về những lời giải thích một chiều, rằng do các nhà Việt ngữ học và rộng ra là các nhà ngữ văn học, các nhà khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta lạc hậu và kém cỏi xa với các nước khác, nhưng họ lại không có ý thức vươn lên vượt thoát khỏi tình trạng thê thảm ấy, thậm chí còn tự cao tự đại kiểu AQ chủ nghĩa. Anh viết: “Không ít người thấy mình vượt lên phía trước rất xa so với các nước khác… vì thế giới ngày nay đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng về khoa học xã hội, duy có Việt làm thành một ốc đảo còn có được một nền khoa học ngữ văn lành mạnh”. Tôi xin lưu ý là anh đang nói về một tình trạng “ảm đạm” chung, không riêng Việt ngữ học: “Té ra tất cả các ngành khoa học xã hội và nhân văn đều như vậy cả, và ai cũng tưởng chỉ riêng ngành mình biết mới tồi tệ như thế mà thôi”. Tôi cho rằng, có thể cũng có một ai đó nghĩ và làm vậy, nhưng chỉ là hiện tượng cá biệt, không phổ biến đâu. Phần đông các nhà khoa học xã hội tôi có dịp gặp gỡ và tìm hiểu đều khiêm nhường, thậm chí có người còn tự ti khi tiếp xúc với bên ngoài, tuyệt nhiên không dương dương tự đắc như anh nghĩ. Họ biết mình biết ta, cả mặt mạnh và mặt yếu. Khoảng cách giữa ta và người là có, nhưng chắc không quá lớn, đến mức không thể vượt qua như anh viết:“Một số lớn trong chúng tôi không hề thấy mình lạc hậu chính vì lạc hậu quá xa, nhìn về phía trước không còn trông thấy mô tê gì nữa”. Gần đây, trong tạp chí “Tia sáng”, nhân trao đổi về việc thành lập Viện Hàn lâm Việt Nam, anh vẫn nhất quán với đánh giá của mình:“Trong tình hình hiện nay tôi nghĩ rằng, các khoa học chính xác, các khoa học tự nhiên có lẽ có đủ người để làm thành Viện Hàn lâm. Chứ các khoa học xã hội nhất là ngôn ngữ học mà tôi biết rõ thì trong cả nước ta chỉ có bốn năm người có đủ trình độ đại học hay hơn một chút” (Số 8, ngày 5/9/2001,tr18). Tôi nghĩ nhận xét về chất lượng khoa học bao giờ cũng phải xuất phát từ mặt bằng chung, đồng thời lại cần có cái nhìn mang sức bao quát lớn. Hình như anh chưa có đủ cả hai. Lẽ nào các nhà khoa học tự nhiên đứng ở mảnh đất khác các nhà khoa học xã hội? Lẽ nào các chuyên gia đầu ngành thuộc khoa học xã hội và nhân văn, không ít tên tuổi trong số họ từng được vinh dự nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, mà trình độ lại thấp kém đến vậy? Nên người ta có lý do để đặt câu hỏi, vậy anh đứng ở đâu để đưa ra phán xét trên? Hay Cao Xuân Hạo với học hàm giáo sư được Nhà nước Việt phong tặng, đứng tách hẳn ra, ở một tầm cao khác?
Trong nhiều bài viết, anh còn cố công đi tìm nguyên nhân của tình trạng lạc hậu trong các ngành khoa học xã hội ở ta. Anh bảo ở Việt “có hai ngành mà nhiều người quan niệm là không cần học một chữ nào cũng có thể làm được: đó là Văn và Ngữ”. Để biện hộ cho anh, tôi cho đây là cách viết không thật phù hợp với văn phong báo chí, văn phong khoa học, như kiểu: “Một người bạn cũ lâu năm gặp lại, nay là hiệu trưởng trường phổ thông cơ sở, khi biết tôi đang dạy và viết về tiếng Việt, liền tái mặt và van xin tôi tha thiết…” hay: “Hôm ấy, khi thấy tôi tỏ ý kinh ngạc và phẫn nộ vì cái nội dung của một cuốn sách được thẩm định… một Giáo sư Tiến sĩ khoa học có tiếng tăm đã nhìn tôi với đôi mắt tràn đầy lòng trắc ẩn” (Những chỗ in nghiêng là do tôi chủ ý nhấn mạnh). Nếu không phù hợp về văn phong, lẫn sang phong cách nghệ thuật thì bắt bẻ làm gì! Thế nhưng ở đoạn sau thì tôi đành bất lực vì anh viết quá nghiêm túc: “Trong các ngành khoa học xã hội, nhất là văn học và ngôn ngữ được coi như những ngành hoàn toàn không cần đến “chuyên”, chỉ cần “đỏ”, cần lập trường “tư tưởng” mà người đã có tư tưởng tốt thì dù không học giờ nào cũng có thể làm được”. Tôi nghĩ có thể có một lúc nào đó,ở một nơi nào đó, và một ai đó nghĩ vậy, nhưng cho tới giờ, xét trên toàn cục, thì chắc chẳng còn mấy người nghĩ như anh. Cũng phiến diện y như cái dẫn dụ anh đưa ra sau đây để xác minh cho “sự ngu dốt” của một giảng viên:“Bản thân tôi đã từng được triệu tập đến nghe bốn buổi (14 tiếng đồng hồ) giảng về ngôn ngữ học trong đó diễn giả chưa từng đọc một trang sách báo nào về ngôn ngữ và ngôn ngữ học…” “Phép ngoa dụ” được anh dùng không đúng chỗ, người đọc không tin anh cũng là phải thôi!.
Tôi cứ nghĩ mãi là tại sao một người có đầu óc sáng láng như anh lại rơi vào cực đoan trong cách lập luận và cách sử dụng từ ngữ đến mức ấy. Gần đây tôi mới phát hiện ra rằng, có lẽ là do cái “tâm” của người viết? Nghĩ như thế là bởi tôi thấy lời lẽ mạt sát người khác của anh quả có hơi quá đáng. Anh coi cuốn sách giáo khoa được Hội đồng thẩm định nọ thông qua là “sản phẩm của một người hoàn toàn mù chữ về ngôn ngữ học và tiếng Việt” viết ra. Một người bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ trước Hội đồng cấp Nhà nước bị anh gọi là “một gã vô học”. Anh ta sau đó giữ chức Phó chủ nhiệm khoa Ngữ văn của một trường Đại học sư phạm mà anh bảo là “dạy toàn những chuyện tầm bậy cho sinh viên!” Cái gì cũng có giới hạn, vượt quá giới hạn nhiều lần thì sẽ không thể không rơi vào tình thế bất lợi. Có lẽ anh quá giận thành ra mất khôn rồi. Nhưng thôi, những lời lẽ báng bổ đó của anh cũng chỉ liên quan đến một vài người. Sự mai mỉa của anh hướng về số đông thì xúc phạm hơn nhiều. Đây, giọng điệu của anh dành cho một trong những phẩm chất quý giá nhất của người Việt Nam:“Nếu bây giờ ai còn nói đến tính hiếu học của người Việt đều không khỏi cảm thấy ngượng nghịu”(!); hoặc: “Những điều mắt thấy tai nghe trên các phương tiện truyền thông đại chúng cho thấy rõ cái tinh thần hiếu học trứ danh của dân ta ngày nay ra sao”(!). Chớ nên từ một vài hiện tượng lẻ tẻ mà nổi đóa lên như vậy. Không, chẳng gì có thể bôi nhọ tính hiếu học đang được phát huy có hiệu quả trong đa số người Việt , nhất là lớp trẻ. Và cũng chẳng gì có thể phủ nhận sự cố gắng của nhiều người để giữ gìn sự trong sáng và giàu có của tiếng Việt chúng ta. Một cái nhìn thái quá đi đôi với một thái độ thái quá sẽ không những không có sức mạnh cải biến, mà ngược lại, còn ngăn cản mọi cố gắng đổi thay theo chiều hướng tốt đẹp hơn.
Tôi cứ đinh ninh lý do nói trên là cái sâu xa chi phối mọi lời bàn ít sức thuyết phục của anh. Đọc bài đăng trên “Văn nghệ” mới đây tôi mới vỡ nhẽ ra là không hoàn toàn phải thế. Anh dồn mọi bực dọc không kìm chế nổi trong những câu sau: “Những điều mà Hội Ngôn ngữ học Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận có đúng sự thật không? Những đại diện của Hội cho chúng tôi biết rằng họ sẵn sàng chứng minh từng điểm một trong những nhận định mà có người coi là “cực đoan” của họ. Biết đâu họ chẳng chứng minh được điều gì có ích? Tại sao không chất vấn họ? Tại sao không điều tra xem họ có phải là một bọn vô lại hay là những nhà khoa học nghiêm túc? Tại sao không ai hé răng tranh luận với họ một lần xem sao?”( Phép màu của lãng quên).
Tôi nghĩ tới một câu chuyện ẩn chứa nhiều ý nghĩa trong bộ phim Mỹ “Đêm Ả Rập”. Chàng hoàng tử trong chuyện dùng tài bắn cung để chiếm quả táo “cải tử hoàn sinh” dành cho vua cha. Thật là điệu nghệ! Anh ta bắn tắt ngọn nến mà không làm cho nó suy xuyển. Thử thách cuối cùng đòi hỏi anh phải bắn trúng quả táo đặt trên đầu một đứa trẻ dĩnh ngộ. Giương cung lên, anh lại bỏ cung xuống nhiều lần - anh không chấp nhận được tính mệnh hiểm nguy của đứa bé. Nhưng chính vì thế mà chàng trai đã dành được quả táo thần. Kết luận được rút ra thật thấm thía, trong trường hợp này không nên giành giật chiến thắng bằng mọi cách.
Kính thư
P.Q.T

(nguồn: TCSH số 155 - 01 - 2002)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN QUANG HÀTạp chí sáu tỉnh Bắc miền Trung vẫn duy trì đều đặn hàng năm gặp gỡ giao lưu để cùng tìm cách nâng cao chất lượng tờ tạp chí văn học của địa phương mình. Năm nay, năm 2003 Tạp chí Nhật Lệ đến phiên đăng cai cuộc họp mặt. Khách mời năm nay, ngoài các cơ quan trong tỉnh Quảng Bình, còn có đại biểu của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, của tạp chí Diễn đàn, cơ quan ngôn luận của Hội về dự.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOLTS: Nhà thơ Thu Bồn có nhiều duyên nợ với Huế, với Sông Hương. 20 năm trước, trong dịp TCSH ra đời, anh có mặt ở Huế và viết bài thơ “Tạm biệt” - một trong ít ỏi những bài thơ hay nhất về Huế, 20 năm sau, cũng vào dịp TCSH kỷ niệm tròn 20 tuổi thì anh lại ra đi, ra đi trong lời vĩnh biệt!Thương tiếc nhà thơ tài hoa Thu Bồn, Sông Hương xin trân trọng giới thiệu một vài kỷ niệm vaì tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp dành cho anh.                                                                TCSH

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNVề chính trị, ông được chữ nhất: Đại biểu quốc hội trẻ nhất (22 tuổi, khóa I năm 1946); Tổng thư ký Hội Nhà văn lâu nhất (1958 – 1989).Về văn nghệ, ông được chữ đa: đa tài, sáng tác nhiều lĩnh vực, và để lại dấu ấn: thơ (Người chiến sĩ, Tia nắng, Sóng reo), văn (Vỡ bờ), kịch (Con nai đen, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc), nhạc (Diệt phát xít, Người Hà Nội), tiểu luận (Mấy vấn đề văn học, Công việc của người viết tiểu thuyết).

  • ...Có 2 từ người Việt Nam hay dùng cho những người làm thuê các công việc cho người khác là: "Lê dương" và "Pắc chung hy". Chả biết từ bao giờ, bạn bè gọi tôi là "Kha lê dương" bên cạnh các biệt hiệu khác như "Kha điên", "Kha voi", "Kha xe bò miên". Là gì thì cũng vẫn là Kha. Thiếu em ư? Đúng ra là tôi không thể sống thiếu tình yêu như một câu thơ tôi đã viết: "Điều khốn nạn là không thể nào khác được - không thể không tình yêu, không tin ở con người"...

  • ... Với giới văn nghệ sĩ thừa Thiên Huế, nhà văn Nguyễn Đình Thi là người anh lớn, rất thân thiết và gần gũi qua nhiều năm tháng. Anh là tấm gương sáng trên nhiều lĩnh vực sáng tác, quản lý, hoạt động phong trào... Đã có nhiều tác động tích cực, ảnh hưởng tốt đẹp cho một số cây bút ở Thừa Thiên Huế; đồng thời đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong đời sống văn học Thừa Thiên Huế.Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Đình Thi là một tổn thất lớn đối với nền văn học nghệ thuật nước nhà, để lại cho chúng ta niềm tiếc thương vô hạn.... Sự nghiệp sáng tạo văn học nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Đình Thi vẫn sống mãi với chúng ta!                                 (Trích điếu văn của nhà thơ Võ Quê)

  • ĐÀO DUY HIỆPGiáo sư, nhà giáo ưu tú Đỗ Đức Hiểu đã không còn nữa.Đã vĩnh biệt chúng ta một nhà sư phạm hiền từ, một nhà khoa học khiêm tốn và có nhiều phát hiện, một con người đầy lòng nhân ái, tin yêu cuộc sống và suốt đời đã sống vì cái đẹp của văn chương, nghệ thuật. Mười bảy giờ bốn mươi nhăm phút ngày 27 tháng 2 năm 2003 đã là thời khắc đó – cái thời khắc đã chia cách hai thế giới từ nay âm dương cách trở giữa giáo sư Đỗ Đức Hiểu với chúng ta. Ông đã để lại sau mình một cuộc đời dài nhiều ý nghĩa.

  • NGUYỄN HOÀNGTrong cuộc đời 83 năm của mình, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (BS.NKV) không chỉ một lần tình nguyện đem cuộc đời mình làm... vật thí nghiệm để có được một kết luận khoa học. Lần đầu, nửa thế kỷ trước, tại Pháp, sau 7 lần lên bàn mổ, cắt mất hẳn lá phổi trái, 1/3 lá phổi bên phải và 8 xương sườn (do bị lao mà thời đó chưa có thuốc chữa đặc hiệu), thấy rõ y học phương Tây không cứu được mình, BS. NKV đã vận dụng phương pháp Yoga của Ấn Độ và khí công của Trung Quốc trên cơ sở phân tích sinh lý, tâm lý và giải phẫu cơ thể con người, tự cứu sống mình, hình thành nên phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện” ngày nay.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNVào dịp Tết Bính Thìn, Tết dân tộc cổ truyền đầu tiên sau giải phóng, Viện Đại học Huế nhận được một bưu thiếp chúc Tết đặc biệt của vị Thủ tướng kính mến thời đó - Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhà trường đã cho viết to bức thư của Thủ tướng viết sau cánh thiếp lên một tấm bảng lớn, trân trọng đặt tại Hội trường của Viện Đại học Huế.

  • TÔ NHUẬN VỸTôi có một cái va ly nhỏ dùng để đựng những vật kỷ niệm, những thư từ, những bức ảnh quý nhất của mình. Trong số kỷ vật quý giá đó, có bức thư của anh Tố Hữu gửi tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, tháng 3/1987, kèm theo là bài thơ Nhớ về anh được đánh máy trên giấy Pơ luya vàng nhạt, kiểu chữ ở một cái máy nào đó mà  mới nhìn biết ngay là từ một cái máy chẳng lấy gì làm tốt, để "Kỷ niệm lần thứ 80 ngày sinh mồng 7 tháng 4 của đồng chí Lê Duẩn”.

  • LÊ MỸ Ý ghi                (Trích)Khi tôi đến, hai ông đang ngồi chiếu rượu trong căn hộ chung cư sáu tầng cao ngất ngưởng. Căn phòng như được ghép bằng sách. Trên tường, ảnh Văn Cao đang nâng ly và bức sơn dầu "Tuổi Đá Buồn" Bửu Chỉ vẽ Trịnh Công Sơn dựa vào cây đàn ghita ngóng nhìn vô định. Ngẫu nhiên tôi trở thành người hầu rượu, nói đế cho cuộc đối thoại ngẫu nhiên của hai ông...

  • MAI VĂN HOANThầy giáo dạy văn                                      Tặng Mai Văn HoanHộ tập thể nằm trên gác xépCăn phòng thanh đạm, có gì đâu!Một chồng sách cũ, dăm chai nướcMột chiếc bàn con, một bếp dầu...

  • THANH THẢOThái Ngọc San khác với một số người bạn Huế mà tôi chơi: anh ít nói, ít nói đến lặng thinh, ít nói nhiều khi đến sốt cả ruột. Nhưng nhiều lúc, vui anh vui em, rượu vào lời ra, San cũng nói hăng ra phết. Những lúc ấy, cứ nghĩ như anh nói để giải toả, nói bù cho những lúc im lặng.

  • PHAN HỮU DẬTLTS: GS.TS Phan Hữu Dật là người làng Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, TT Huế, hiện nghỉ hưu tại Hà Nội. Giáo sư từng là Trưởng ban phụ trách Đại học Văn khoa Sài Gòn (1976), Hiệu trưởng Đại học Tổng hợp Hà Nội (1985-1988). Bài viết dưới đây do Giáo sư đọc trong Lễ kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhà thơ Vĩnh Mai (1918-2008), như một sự tri ân đối với người mà Giáo sư xem như là người thầy, người thủ trưởng, người đồng chí... với những tư liệu mới mẻ và góc nhìn thấu đáo. Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài viết này cùng bạn đọc.

  • NGÔ MINHTác phẩm văn học nghệ thuật là sáng tạo của mỗi tác giả hội viên; đồng thời là thước đo hiệu quả hoạt động của Hội trong một nhiệm kỳ. Nói cách khác, tất cả mọi hoạt động của Hội đều hướng về hội viên, hướng về việc làm sao để có những tác phẩm văn học nghệ thuật chất lượng ngày càng cao. Nếu không thì sinh ra Hội để làm gì?

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOVà tôi đã rời xa Huế vào những ngày mà chính tôi cũng không muốn một chút nào. Có lẽ, không ai trách được sự sắp xếp và an bài của cuộc sống. Dù rằng Huế đối với tôi là ân nghĩa, là những kỷ niệm khó phai thì rồi cũng phải tự tạ từ. Trong sâu thẳm đáy lòng, khi nhìn những đêm trăng phả xuống thành phố tôi đang sống, tôi lại quay lòng nhớ Huế, dẫu một chút thôi, hơi thở của tôi đã không được đắp bồi bởi Huế.

  • VÕ MẠNH LẬPTôi đọc một bài. Không! Chỉ là một đoạn nhưng vừa đủ ngẫm - mà thú vị. Đó là cô gái với cái tên quen mà lạ. Cô ta phân bày quê chôn nhau cắt rốn xa xa ngoài tê tề. Cha mẹ cô đèo bòng vô ở tại một thị xã miền Trung. Sau cùng cô lại ở Huế học hành, lớn lên, đôi lúc bạn bè xa đến cứ ngỡ cô là Huế ròng.

  • L.T.S: Nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San sinh năm 1947 tại Lệ Thuỷ, Quảng Bình nguyên Thư kí Toà soạn Tạp chí Sông Hương, chuyển công tác qua phụ trách văn phòng liên lạc báo Thanh Niên tại T.T. Huế đã từ trần vào lúc 0giờ 45 phút ngày 25.7.2005 sau một tai nạn giao thông oan nghiệt.Thương tiếc anh, Sông Hương mở thêm trang để bạn bè, đồng nghiệp cùng chia sẻ và thắp nén tâm hươngKhi chúng tôi được tin buồn về anh San thì số báo tháng 8 đã in xong; Tình thế “chữa cháy” này không sao tránh khỏi những bất cập, mong các tác giả cùng quý bạn đọc lượng thứ.

  • L.T.S: Đại hội VHNT Thừa Thiên Huế lần thứ X sẽ được tổ chức vào cuối tháng 8 năm nay. Để đại hội có tiếng nói dân chủ rộng rãi, TCSH xin “dành đất” cho các anh chị hội viên, các bạn đọc quan tâm tham gia ý kiến trao đổi về nghề nghiệp, về hoạt động của Hội, về tổ chức hội v.v...Ngoài các ý kiến đã đăng tải trên số này, chúng tôi sẽ tiếp tục in thêm các ý kiến khác trong số tới

  • ĐÔNG HÀTôi không sinh ra ở Huế, nhưng với tuổi đời chưa quá ba mươi mà đã hơn hai mươi năm sống ở đất Kinh thành, đó cũng một sự gắn bó không thành tên.

  • THU NGUYỆT                (Trích tham luận tại Đại hội VII  Hội Nhà văn Việt Nam)