Thử đi tìm cách thơ của Hoàng Kim Dung

16:10 09/06/2010
TRẦN QUỐC THỰCÍt người chịu đi tìm tiếng nói riêng khi đọc một tập thơ, một chặng thơ của một người. Qua từng chặng thơ, tiếng nói riêng ấy sẽ trở thành một cách thơ riêng biệt. Và đó là điều đáng mừng cho đội ngũ sáng tác.

Nhà thơ Hoàng Kim Dung - Ảnh: maxreading.com

Hoàng Kim Dung đã có quá trình 10 năm sáng tác thơ, 4 lần ra tập. Ở chị đã định hình một cách thơ khá riêng. Bên cạnh sự tươi mát, trẻ trung ở những bài thơ đầu tay là một cách diễn đạt, một cách thơ: Rong ruổi/ Đi tìm/ Mặt trời mùa hạ/ Rực sáng/ Rực cháy. Rồi cách thơ được nới rộng biên độ: Và rồi em viết được/ Có một người già nua/ Xin ăn giữa chiều đông... Cách thơ khi đằm xuống: Em vẫn chờ mùa mưa Quy Nhơn, khi ngơ ngác đau trước những xô đạp của cuộc đời: Rồi mùa hè năm nay/ Chuyện lạ lùng đến thế/ Lao vào cuộc đỏ đen/ Thua đau anh bán nhà/ Cả em, anh cũng gán... Rồi cách thơ ôn hòa hơn, đăm chiêu hơn, song cũng tươi sống hơn: Có một đêm không ngủ/ Thao thức đếm sao trời/ Có một đêm không ngủ/ Ngắm nửa vầng trăng trôi / Có một đêm không ngủ/ Gánh những thùng nước đầy...

Hai năm sau, chị cho ra đời THỜI GIAN LẶNG. Những tưởng: Em đang đi tìm cái không thể có và mình cũng lại có cái không thể tìm, thì cái cách thơ kia lại ngời ngời hiển hiện, dường như để minh chứng cho một cách diễn đạt, một nét riêng, một cách riêng mà từ những bài thơ đầu tiên, từ những câu thơ bập bẹ, trời đã ban cho chị:
            Làm sao em có thể biết trước được
            Tháng ấy, ngày ấy, giờ ấy, phút ấy, giây ấy


Tưởng như sau cách “nói” thơ ấy là một chuỗi cười trong trẻo, giòn giã, giòn tan vang lên ở đâu đó. Tôi quý và trân trọng những dòng thơ thuần hậu này:
            Xa mấy nghìn cây số mẹ nghe tiếng điện thoại của con, ngập ngừng, se sẽ, bé bỏng da diết xiết bao
            Mẹ như nghe rõ hơi thở và cả nhịp đập từ trái tim nhỏ xíu của con...
            Tiếng nói của con, nguồn sinh lực vô giá đối với đời mẹ, đã kéo mẹ trụ vững trên mảnh đất mà phù sa thì ít sỏi đá thì nhiều
            Cho dù đi đâu cho dù làm gì cho dù ở xa tít tận chân trời nào đó và gặp ai ai chăng nữa thì giọng nói của con vẫn âm vang dịu ngọt và mạnh mẽ trong tâm linh mẹ


Chỉ người mẹ mới gọi ra được trái tim nhỏ xíu của con mình. Chỉ người mẹ mới được quyền giả định cho dù. Đó là cách thơ đấy. Nó sinh ra khi người viết lựa được ngòi bút đi theo mình. Chị có những dòng thơ liên tưởng rất xúc động về con trẻ:
            ...Cuộc chiến rồi cũng qua đi
            Mẹ có con và nuôi con không bằng bo bo mì sợi.
            Ngắm con chuồn, bỗng con hỏi mẹ
            “Sao mẹ không xây nhà có vườn cây như nhà chú Đẹn”
            Mẹ cười xa xôi - xoa đầu con, ngập tràn im lặng
về tình hình thời sự: Sau bản tin chiều/ Ba người chúng tôi yên lặng/Chồng tôi thôi nói về giá đất/ Con trai tôi không còn nhõng nhẽo... và cả những mối quan hệ với xóm ngõ, với đồng nghiệp: Anh tìm cả trong thinh lặng vô hình/ Những gợi mở của âm thanh kỳ diệu...

Theo từng chặn thơ, cách riêng của Hoàng Kim Dung càng định hình sáng rõ. Đó là cái cách mà chỉ những tác giả thật sự chân thành với chính mình mới tạo ra được:
            Tuổi gặp nỗi buồn không muốn nói
            ...Bao mùa đi qua. Xa rất xa
            Em cũ dấn theo năm tháng...
            Chợt lắng lại trước điều giản dị
            Người con trai dìu mẹ tập đi...

Cách thơ này khi gặp một hiện thực không bình thường sẽ sắt lại, cứng cỏi hẳn lên:
            Giật mình quán trọ đêm sâu
            Nhớ chồng thương con đau đáu
            Cũng là miếng cơm manh áo
            Cũng là nước mắt, thịt da
            Ai bảo đời người sung sướng
            Vai gầy như là dát sắt
            Chất ngất bao nhiêu lô hàng...

Song, bản thân đời sống vốn vô cùng sinh động và tươi sáng. Chắc chắn chị không cầm được lòng khi hạ bút:
            Triệu năm lên hương
            Bàn chân muôn phương
            Chân trời là quê
            Người bao giờ về
...

Chân trời thi ca vô cùng kỳ diệu. Chỉ bằng đôi cánh của mình, cách của riêng mình. Chân trời đó mới thực sự là quê hương, xứ sở của mình.

T.Q.T
(142/12-00)



----------------------------------------
Phần thơ trích dẫn trong bài viết này được rút từ các tập thơ: NỬA VẦNG TRĂNG TRÔI (1991), THỜI GIAN LẶNG (1993), TRONG MƯA (1997), Ô CỬA GIÊNG HAI (2000).



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LÊ THÀNH NGHỊ

    Đầu năm 2002, nghĩa là sau Đổi mới khoảng mươi lăm năm, trên Tạp chí Sông Hương, có một nhà thơ nổi tiếng thế hệ các nhà thơ chống Mỹ đặt câu hỏi: Liệu Nguyễn Khoa Điềm có giai đoạn bùng nổ thứ ba của thơ mình hay không? Chắc chắn sẽ rất khó. Nhưng người đọc vẫn hy vọng*.

  • NGỌC BÁI

    (Đọc tiểu thuyết “À BIENTÔT…” của Hiệu Constant)

  • HOÀNG DIỆP LẠC

    Người ta biết đến Nguyễn Duy Tờ qua tập sách “Xứ Huế với văn nhân” xuất bản năm 2003, với bút danh Nguyễn Duy Từ, anh lặng lẽ viết với tư cách của một người làm ngành xuất bản.

  • PHẠM XUÂN NGUYÊN

    Cô Kiều của Nguyễn Du từ khi xuất hiện trong văn chương Việt Nam đã nhận bao tiếng khen lời chê, khen hết lời và chê hết mực, nhưng cô vẫn sống trong niềm yêu mến của bao lớp người Việt, từ bậc thức giả đến kẻ bình dân, xưa đã vậy mà nay cũng vậy.

  • PHAN TRỌNG HOÀNG LINH

    Bước chân vào con đường nghiên cứu văn học và hòa mình vào trào lưu lý thuyết đang trở nên thời thượng, chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism), nhưng Phan Tuấn Anh không biến nó thành cái “mác” để thời thượng hóa bản thân.

  • PHAN ĐĂNG NHẬT

    1. Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp Phan Đăng Lưu
    Phan Đăng Lưu sinh ngày 5/5/1902, tại xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An; con cụ Phan Đăng Dư và cụ bà Trần Thị Liễu.

  • KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY MẤT CỦA NHÀ THƠ BÍCH KHÊ (1946 - 2016)    

    PHẠM PHÚ PHONG

  • HỒ THẾ HÀ

    Nguyên Quân song hành làm thơ và viết truyện ngắn. Ở thể loại nào, Nguyên Quân cũng tỏ ra sở trường và tâm huyết, nhưng thơ được mọi người yêu quý và ngưỡng mộ hơn.

  • LA MAI THI GIA

    Những ngày cuối năm, Sài Gòn bỗng dưng cũng khác, sáng sớm khi băng qua cầu Thủ Thiêm vốn đã quá quen, tôi khẽ rùng mình khi làn gió lành lạnh từ dưới sông Sài Gòn thổi lên, hơi sương nhè nhẹ tỏa ra bao bọc cả mặt sông mờ ảo, bất chợt thấy lòng ngẩn ngơ rồi lẩm bẩm một mình “Sài Gòn hôm nay khác quá!”

  • PHAN HỨA THỤY

    Thời gian gần đây ở Huế, việc tìm kiếm lăng mộ vua Quang Trung đã trở thành một vấn đề sôi động.

  • LÃ NGUYÊN

    Số phận văn chương của Nguyễn Minh Châu gắn liền với những bước đi cơ bản của nền văn học Việt Nam ở nhiều thời điểm lịch sử cụ thể.

  • Chúng ta đã được biết đến, và đây là phương diện chủ yếu, về một Nguyễn Bính thi sĩ, và không nhiều về một Nguyễn Bính nhà báo gắn với tờ tuần báo tư nhân Trăm hoa (1955-1957)1.

  • ĐẶNG TIẾN    

    Đầu đề này mượn nguyên một câu thơ Nguyễn Đình Thi, thích nghi cho một bài báo Xuân lấy hạnh phúc làm đối tượng.

  • NGUYỄN HIỆP

    Dù muốn dù không thì hình thức được lựa chọn là đối tượng của nhà văn. Vậy các nhà văn “khó đọc” của ba miền Bắc, Trung, Nam chọn hình thức nào để xác lập lối viết?

  • NGUYỄN HIỆP

    Dù muốn dù không thì hình thức được lựa chọn là đối tượng của nhà văn. Vậy các nhà văn “khó đọc” của ba miền Bắc, Trung, Nam chọn hình thức nào để xác lập lối viết?

  • LƯƠNG THÌN

    Có những cuốn sách khi đọc ta như được dẫn dắt vào một thế giới huyền bí của tâm hồn, trái tim và khơi dậy lên bao khát khao mơ ước. Làm dâu nước Pháp của nữ nhà văn Hiệu Constant (Lê Thị Hiệu, Nxb. Phụ Nữ, 2014) là một cuốn tự truyện như thế.

  • VƯƠNG TRỌNG

    Thật khó xác định chính xác thời gian Nguyễn Du ở Phú Xuân, nhưng trước khi ra làm quan dưới triều Gia Long, Nguyễn Du chỉ đến Phú Xuân một lần vào năm 1793, khi nhà thơ vào thăm người anh là Nguyễn Nễ đang coi văn thư ở Cơ mật viện, điều này chúng ta biết được từ bài thơ của Nguyễn Nễ nhan đề “Tống Tố Như đệ tự Phú Xuân kinh Bắc thành hoàn” (Tiễn em trai Tố Như từ Phú Xuân trở về Bắc).

  • NHỤY NGUYÊN  

    Con người khá trầm tĩnh Lê Huỳnh Lâm không thuộc típ quan hệ rộng. Những ai đến với anh và anh tìm đến (dẫu chỉ thông qua tác phẩm) rồi in đậm dấu ấn phần nhiều lớn tuổi; là một sự thận trọng nhất định.

  • LÊ THỊ BÍCH HỒNG

    Với ý thức đi tìm cái mới, cái đẹp, hơn 30 năm qua, Hứa Vĩnh Sước - Y Phương lặng lẽ thử nghiệm, không ngừng lao động sáng tạo, miệt mài làm “phu chữ” để ngoài một tập kịch, bảy tập thơ, ba tập tản văn, anh đã bổ sung vào văn nghiệp của mình hai trường ca đầy ấn tượng, đó là Chín tháng (1998) và Đò trăng (2009).

  • THÁI KIM LAN

    Thường khi đọc một tác phẩm, người đọc có thói quen đọc nó qua lăng kính định kiến của chính mình, như khi tôi cầm tập thơ Ký ức hoa cẩm chướng đỏ của Phan Lệ Dung và lướt qua tựa đề.