Thư cuối năm

16:25 31/03/2023

NGUYỄN KINH BẮC

"...Mình biết, mỗi người đều có một Huế riêng cho mình. Riêng với mình, Huế bắt đầu là ở câu thơ này:
"Cô gái thẫn thờ vê áo mỏng
Nghiêng nghiêng vành nón dáng chờ ai".

Huế xưa một thời - Ảnh: sưu tầm

Huế nhẹ nhàng, thoát tục đến thế là cùng. Mình mang hình ảnh Huế ấy từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Rồi đi lính, nhận lệnh vào mặt trận Bác Đô (*) mình mừng biết bao. Nhưng thật buồn, mình chưa được gặp Huế bao giờ. Đánh trận Am Cây Sen mình bị đại bác cưa cụt chân, được khiêng ra hậu phương, từ đấy Huế mãi mãi chỉ còn là trong tâm tưởng, chỉ còn trong mỗi đợi chờ khôn nguôi.

Năm 1983, năm thứ mười mình để lại một chân trên đất Huế, tự nhiên nhớ Huế lạ lùng. Chẳng lẽ một phần thân thể cũng có một chút tâm linh chăng, mà nó làm mình nôn nao đến thế?

Huế ra sao? Sông Hương còn trong như xưa? cầu Tràng Tiền vẫn như dát bạc trong nắng chiều chứ, và còn có nàng thiếu nữ đẹp như mơ bên sông vê áo nghiêng nón chờ ai? Hãy thư cho mình đi. Một dòng từ Huế mình nhận được lúc này có ý nghĩa biết bao.

Sắp tết rồi. Không biết Huế có một chút nhớ thương nào đối với những người lính đã từng sống một thời trai trẻ của mình trên mảnh đất Kinh Thành?"...

Đọc thư Luông tôi cũng thấy nôn nao. Khó là trả lời sao đây với một người yêu Huế như anh. Nguyễn Luông không hề hỏi gì về lăng tẩm, điện đài... mà anh đam mê "cô gái thẫn thờ vê áo mỏng", đứng bên bờ sông Hương kia. Nhớ ngày mới giải phóng, Đỗ Chu và Bùi Bình Thi vào Huế, thấy các cô gái Huế thướt tha trong bộ đồ dài trắng, Bùi Bình Thi xuýt xoa: "Các em Huế đẹp quá, đến nỗi nhìn các em, mình chỉ muốn cắn một miếng", nói như Xuân Diệu "Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi" chăng? Luông không thế, ở anh thẳm sâu hơn, cái thẳm sâu của ký ức học sinh đầy thơ mộng.

Khách du lịch thập phương đến Huế, đều chung một cảm giác. Không có sông Hương thì Huế không còn là Huế nữa. Có lẽ Thu Bồn đã diễn đạt tâm trạng ấy rất đúng: "Con sông dùng dằng con sông không chảy. Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu". Cái bắt gặp đầu tiên của bất cứ ai đến Huế là dòng sông, sau đó mới đến thành quách. Quả thật sông Hương làm cho Huế cái ngan ngát trời mây đến mơ màng. Luông nói đến sông Hương, nói đến tà áo trắng, Luông đã hiểu thấm đậm Huế rồi.

"Sông Hương vẫn trong như xưa, trong đến tận đáy Luông ạ. Mùa lũ thì kể gì, nước rừng dồn về mấy ngày, dòng sông lại dùng dằng chảy. Đứng bên cánh gà cầu Tràng Tiền, nhìn thấy cả rừng rong rêu với bầy cá lượn lờ. Nước vẫn trong như cái đêm chúng mình vượt sông Hương ở bến Đình Môn. Giữa dòng Tấn bị chuột rút. Gần quận Nam Hòa quá, kêu sợ địch phát hiện, Tấn đành cắn răng chìm xuống dòng nước. Sáng hôm sau chúng mình quay lại tìm Tấn trên chiếc thuyền câu, nhìn thấy Tấn vẫn ôm ghì cây súng dưới làn nước trong tận đáy, như đang ngủ ấy".

Đời lính chúng tôi nhiều kỷ niệm như thế, Luông nhớ sông Hương cũng phải. Nhớ ngày mới giải phóng, mấy đứa bộ đội chúng tôi ngồi bên bờ sông Hương sau đài phát thanh, không phải ngồi hóng gió đâu, chúng tôi ngồi để nhìn cầu Tràng Tiền trong nắng chiều tím của Huế. Toàn bộ cây cầu tim tím màu hoa cà. Và trên ấy những tà áo dài thướt tha. Có ba cô đi với nhau. Một cô mặc áo màu vàng anh, một cô mặc áo màu thanh thiên, một cô mặc áo màu đỏ. Gió chiều tung tà áo, các cô dùng hai ngón tay kín đáo giữ tà áo lại. Chiều Huế thơ mộng ấy, một người nhắc tới Luông:

- Có thằng Luông ở đây, chắc nó sẽ "chết" vì Huế mất.

Chỉ có sông ấy, cầu ấy, màu sắc ấy, mây nước ấy mới tạo nên cái nhẹ nhàng thanh thoát không dễ gì có được của Huế ở bất cứ nơi nào.

Huế không có những công viên lớn giữa thành phố như Sài Gòn, Hà Nội, nhưng đôi bờ sông Hương tạo nên bốn công viên lớn: Công viên Phú Xuân, công viên Thương Bạc, công viên Đài tưởng niệm và công viên mồng 3 tháng 2. Đã có lúc anh Kỳ Sơn định lập vườn thú ở công viên Đài tưởng niệm nhưng không thành. Vài con nai, mấy con bồ nông, đôi ba chuồng khỉ được đưa về, thiếu vốn, vườn tan.

Trong hai năm 91 và 92 tỉnh đã đầu tư 1 tỷ mốt cho công ty công viên sửa sang một ít cảnh quan bước đầu.

"Công viên đôi bờ sông, tự thân nó đã có những cảnh quan của những dấu tích lịch sử: cầu Tràng Tiền, Bến Tòa Khâm, Bia tưởng niệm chiến sĩ trận vong, cột cờ, lầu Phu Văn, Nghinh Lương Đình. Trước đây hai bên Phu Văn Lâu có hai nhà để trưng bày những kỷ vật trong nước tiến vua. Bây giờ không còn. Sau này không biết có dựng lại? Hai năm nay mới xây xong sân Phu Văn Lâu và Nghinh Lương Đình bằng xi măng. Các đĩa hoa trong công viên đã được sửa sang, cụm rồng phun nước đã được tôn tạo. Đặc biệt công viên Thương Bạc đã được chỉnh tu lần thứ hai khá khang trang. Ngay như ở hai cột Bi Đình trong Thương Bạc, bốn cặp câu đối của tiến sĩ Nguyễn Khắc Niêm đã được truy cứu, tìm lại, để đắp lại trên Di Đình những chữ bị vỡ nát. Các bãi hoang đã được trồng cỏ với những cụm cây cảnh. Nếu Luông đến Huế dịp tết này, cảnh sắc đôi bờ sông Hương đã bớt hoang tàn đi rất nhiều".

Trong Hoàng Thành mấy năm nay đã làm được một số việc: Trùng tu lại cửa Hiển Nhơn, Lầu Ngũ Phụng, lầu Hiển Lân Các trong Thế Miếu, thay thế, trang trí lại các cột điện Thái Hòa. Rất đáng giá là công ty di tích đã tổ chức đốt lò tại chỗ làm được gạch trang trí, ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly. Phải có những vật liệu ấy mới thực hiện được các kế hoạch trùng tu, phục chế sau này.

Luông chưa đến Huế, nên chưa thấy các công trình này quan trọng như thế nào đối với Huế. Cũng như những người yêu Huế ở xa, thường chỉ sống trong tâm tưởng mình một Huế mộng và thơ.

Huế đẹp thanh nhã, dịu dàng, kín đáo như tà áo dài chứ không rộn rã, ồn ào đua chen. Đã có một thời Huế vắng bóng những tà áo dài, ai cũng có cảm giác rất rõ ràng giống như những món ăn ngon nhưng thiếu muối. Vắng bóng áo dài, Huế mất đi rất nhiều. Nhất là hai trục đường chính trên hai bờ sông Hương: Đường Lê Lợi phía Nam và đường Trần Hưng Đạo phía Bắc. Một bên nhộn nhịp hàng hóa, một bên thanh lịch hiền hòa. Những tà áo dài vẫn làm đẹp cho cả hai.

Buổi sớm trên đường Lê Lợi, nữ sinh đến trường như bầy thiên nga rộn ràng trở về quê hương mỗi tiết xuân về. Đường phố trở nên trinh bạch biết bao.

"Luông ơi, Luông biết không, mình bỗng buồn khi nghĩ ra cảnh trong óc Luông chống gậy lọc cọc đi trên đường phố Huế, phải chứng kiến cả mặt trái của xã hội Huế bây giờ. Trước Phu Văn Lâu xưa đã chôn ở đó một tấm bia đá, hay gọi là cột đá cũng được, trên đó khắc hai chữ: Hạ Mã. Nghĩa là dù bậc mũ cao áo dài được phép nước cho cưỡi ngựa, đến đó cũng phải xuống ngựa, vì đó là nơi nghiêm trang ngay mặt tiền cột cờ, bây giờ đêm đêm ở đó, khách làng chơi đón khách công nhiên, làm tình ngang nhiên bên gốc cây bãi cỏ. Công viên Thương Bạc nhan nhãn những người đứng đợi mời khách xuống đò. Chưa hết những con đò xưa Nguyễn Bính ghi lại trong thơ câu: "Con sông không rộng mà dài, con đò không chở những người chính chuyên". Công viên Đài Tưởng niệm ngay trước mặt ủy ban tỉnh, Trường Quốc Học, trường Hai Bà Trưng, áo quần mùng màn của khách thập phương lang thang vô gia cư cứ phơi đầy trên các lùm cây công viên giống như ở một trại tị nạn ô hợp vậy. Những ngày mưa gió, họ túm tụm dưới một mảnh che ni lông, vừa thảm hại, vừa đau lòng. Còn công viên mang tên 3-2, đêm đêm Luông sẽ gặp ở đó những tà áo dài, những nón che nghiêng của các cô gái trẻ trung, không phải đứng chờ người yêu. Không phải chờ đò, đợi bạn, mà đứng đợi những gã đàn ông nhiều tiền khát dục.

Luông ơi, có lần mình đứng với người bạn trước cổng nhà khách 2 Lê Lợi, có tay xích lô đến mồi chài: "17, 18 tuổi thôi các chú, ngon lắm. Đừng để phí của trời; Tôi dẫn các chú đi nghe!".

Ở Huế có một người phản ứng nạn mãi dâm kịch liệt, chị như dị ứng ngay cả ngôn từ ấy. Đó là Kim Bội, chủ tịch Hội phụ nữ thành phố Huế, vừa trúng cử đại biểu quốc hội khóa này. Mình định gặp Kim Bội để hỏi, với tư cách ở những vị trí quan trọng ấy, liệu Kim Bội để cảnh tượng đó trôi xuôi hay sẽ làm gì?

Phải chứng kiến những cảnh ấy, chắc Luông sẽ thấy đau bởi lý do một cẳng chân bị mất".

Nhận được thư tôi, chắc Luông sẽ hết sức bàng hoàng, lúng túng về tà áo trắng trong tâm tưởng mình. Biết làm sao được, với bạn bè không thể nói dối nhau. Ước mơ xưa của Tố Hữu "Thơm như hương nhụy hoa lài, sạch như nước suối ban mai giữa rừng", vẫn đang còn là mơ ước, dù từ khi "Tiếng hát sông Hương" của anh ra đời đến nay đã 50 năm trời.

"Luông ơi, đừng buồn nhé! Luật thanh lọc của tự nhiên bao giờ cũng tuyệt diệu. Như ở Huế chỉ có ba mùa thôi, nắng gắt gao, mưa da diết, và mùa xuân thì dịu dàng. Mùa xuân bao giờ cũng về, để cho dù con người có biết bao nhiêu chao đảo, cũng tĩnh tâm lại, Huế đã tĩnh tâm lại rồi, như đôi bờ sông Hương đã vào quy hoạch sắp xếp. Chỉ riêng một việc này Luông ạ, có 108 hộ đang sống phía bờ thành của công viên Phú Xuân, tỉnh sẽ cấp 2 tỷ 4 để chuyển số hộ này đi, để cho khách du lịch đi trên đường Trần Hưng Đạo vừa được ngắm sông Hương dịu dàng lại vừa được thấy tường thành uy nghi cổ kính.

Chưa Tết, mấy hôm nay Huế đã vào xuân, mai vàng đưa từ rừng mai Tứ Tây, Ngũ Tây về bán xếp hàng dài cả cây số bên hè phố. Các chủ vườn hoa đang chở hoa từ nhà đến dự hội hoa xuân. Năm nay hội hoa xuân không nở ở Thương Bạc mà chuyển lên Phu Văn Lâu. Phố xá như kéo dài ra, đường đi như hẹp lại. Người chen vai sát cánh bên người, mình chỉ ước ao trong dòng người ấy, một lúc nào đó có Luông. Để Luông tận mắt thấy Huế, để khỏi nhớ thương khắc khoải mỗi độ xuân về. Biết đâu tiếng nạng gỗ lộc cộc của Luông sẽ tạo thêm chiều sâu cho Huế bây giờ".

N.K.B
(TCSH53/01&2-1993)

-------------------------
(*) Bác Đô: Bí danh Huế trong kháng chiến chống Mỹ.

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).

  • PHẠM THỊ ANH NGA15-12-2002Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.

  • PHẠM THỊ CÚC                       KýTôi sinh ra ở một làng quê, không những không nhỏ bé, hẻo lánh mà còn được nhiều người biết đến qua câu ca dao "Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Cho em về với một đoàn cho vui".

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG                                        Bút kýNhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.

  • THÁI VŨ        Ghi chépNhững năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Quảng Nam- Đà Nẵng vào Bình Thuận lên Tây Nguyên được chia ra làm 3 Quân khu thuộc Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, cụ Cố vấn Phạm Văn Đồng là đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ. Qua năm 1947, 3 Quân khu (QK 5, 6 và Tây Nguyên) hợp nhất thành Liên khu (LK) 5.

  • PHƯƠNG HÀ                     (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.

  • LÊ TRỌNG SÂMTrong cuộc đời của mỗi chúng ta, khi Bác Hồ còn sinh thời, được gặp Bác một lần đã quý. Trong cuộc sống của tôi, do có nhiều hoàn cảnh, nhiều duyên may lại được gặp Bác đến ba lần thì càng quý biết bao nhiêu. Tự đáy lòng, tôi thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác đã cho tôi ba lần vinh dự như vậy. Và những kỷ niệm đó vẫn còn tươi nguyên.

  • PHẠM THỊ CÚC                         Ký…Tôi chưa thấy ai hay ở xứ nào làm các tác phẩm mỹ thuật từ cây với dây... Nếu gọi là tranh thì là một loại tranh ngoài trời, lấy tạo hoá, thiên nhiên làm cốt, không giới hạn, dãi nắng, dầm mưa, đu đưa theo chiều gió, màu sắc cũng thay đổi từng giờ, từng phút, tuỳ theo ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Cho nên, tác phẩm rất linh động…

  • LÊ VĨNH THÁI                Ghi chép Sau chặng đường dài gần 20 km vượt qua các con dốc cao ngoằn ngoèo, hiểm trở, tôi đã đến “hành lang” công trình hồ Tả Trạch, nằm giữa vùng rừng núi bạt ngàn thuộc xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ. Công trình hồ Tả Trạch được khởi công xây dựng ngày 26/11/2005, là công trình trọng điểm của Thừa Thiên Huế và của cả nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, với tổng mức đầu tư khổng lồ 2659 tỷ đồng. Đây là một trong những công trình lớn của vùng Đông Nam Á.

  • TRƯƠNG ĐÌNH MINH                                 Ký Đợt này trở lại Trường Sơn, tìm hiểu thêm các tấm bê tông xi măng vắt qua đỉnh Trường Sơn, lượn quanh các đèo U Bò, Cù Đăng, A Dớt - A Tép mưa mù phủ trắng... Có đỉnh như đỉnh Sa Mù cao trên 1400m mà đợt tháng 3/2003 vừa rồi chúng tôi đã có mặt. Song do mưa liên miên, xe vận chuyển vật liệu, vật tư đi lại co kéo quá nhiều, đường lầy lội. Các đơn vị thi công chưa hoàn thiện phần nền...

  • DƯƠNG PHƯỚC THU                              Bút kýNhiều năm rồi tôi vẫn nghe, đồng chí đồng đội, nhân dân Dương Hoà và những người từng ở hoặc đã qua lại nơi đây trước chiến tranh, khẳng định rằng: Sau khi hy sinh, thi hài liệt sĩ Ngô Hà được đơn vị tổ chức an táng tại sườn tây núi Kệ, nơi có khe suối Ngân Hàng chảy qua thuộc vùng chiến khu Dương Hoà. Trước ngày giải phóng miền Nam, mỗi lần ngang qua chỗ ông nằm mọi người lại tự ý đắp thêm một viên đá nhỏ, để cho ngôi mộ ấy sớm trở thành hòn núi như mới mọc lên từ đất, ghi dấu chỗ ông yên nghỉ ... Chờ ngày chiến thắng.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNăm cuối cùng của bậc học phổ thông, tôi được học 2 tiết văn giới thiệu về "Dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945". Cũng không có tác phẩm thơ hoặc văn xuôi được tuyển chọn để phân tích, bình giảng như bây giờ. Ngày ấy - những năm chống Mỹ cứu nước, thơ văn lãng mạn được xem là điều cấm kỵ.

  • TRƯỜNG ANChúng ta đang sống giữa những ngày rực lửa truyền thống hào hùng của Tháng Năm trong lịch sử cách mạng Việt và thế giới. Trước hết, hãy nhắc đến một sự kiện lớn của giai cấp công nhân quốc tế. Ngày 1.5.1886, do yêu cầu không được đáp ứng một cách đầy đủ, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.

  • PHẠM THỊ ANH NGA       Gởi hương hồn bạn cũTôi qua đến Pháp ngày hôm trước thì hôm sau ba tôi mất. Cái tin khủng khiếp đó đối với tôi vẫn không đột ngột chút nào, bởi từ những ngày hè về thăm nhà, tôi đã biết trước ba tôi sẽ sớm ra đi.

  • TÔ VĨNH HÀEm hẹn gặp tôi ở quán cà phê Trung Nguyên. Đó là địa điểm em tự chọn. Cái tên ấy cho tôi biết rõ là giữa hai chúng tôi không có gì nhiều hơn một cuộc trao đổi bình thường. Tuy nhiên, sự mách bảo từ nơi nào đó của linh cảm và cả ước muốn, cứ làm cho tôi tin rằng đó là điểm khởi đầu. Đêm cuối xuân, Huế gần như ít buồn hơn bởi cái se lạnh của đất trời. Huế bao giờ cũng giống như một cô gái đang yêu, đẹp đến bồn chồn. Nếu được phép có một lời khuyên thì chắc hẳn tôi đã nói với tất cả những người sẽ được gần nhau rằng, họ hãy cố chờ đến một đêm như thế này để đến bên nhau. Bầu trời mà Thượng đế đã tạo ra sẽ cho mỗi con người biết cách đến gần hơn với những lứa đôi.

  • CAO SƠNChuyện xưa: Vua Hùng kén tìm phò mã cho công chúa Ngọc Hoa, đồ lễ vật phải có gà chín cựa ngựa chín hồng mao? Thôi thúc Lạc dân xưa kia, đánh thức tiềm năng người dân phải tìm hiểu, lặn lội từ đời này sang đời kia chưa thấy. May sao với thú đi để biết, anh Trần Đăng Lâu, cựu chiến binh, hiện Giám đốc vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ cho hay: Vườn quốc gia nguyên sinh anh Lâu đang quản lý, mới phát hiện giống gà lạ ấy. Con vật đặc biệt chưa có ai biết tới, chưa được phổ biến rộng rãi, thương trường chưa có cuộc trao bán...

  • NGUYỄN HỮU THÔNG                             Bút ký"Buổi mai ăn một bụng cơm cho noChạy ra bến đòMua chín cái tráchBắc quách lên lò

  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG                                                Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)