HOÀNG THỦY XUÂN
Đó là một mảnh giấy nhỏ ông nhặt được. Một mảnh giấy cỡ bằng một bàn tay nhỏ, một mảnh giấy trắng nhưng đã bị nước mưa và bụi bẩn biến thành màu vàng nhạt. Một mảnh giấy chỉ bằng một bàn tay nhỏ và hoàn toàn trống trơn, không có bất cứ một chữ viết hay một hình vẽ nào trên đó.
Minh họa: Nhím
Ông nhặt nó bên một rãnh nước dài, ông nhặt nó trước khi nó bị những chiếc xe ôtô nghiền nát. Ông nhặt nó lên rồi ông cẩn thận đặt nó vào lòng bàn tay và nhẹ nhàng vuốt nó. Nó có vẻ như phẳng phiu trở lại, dĩ nhiên những nếp nhăn trên nó sẽ không mất hết được.
“Nó cắn đấy.” Mụ nói. “Nó cắn vào tay đấy.” Mụ nói.
Ông tiếp tục vuốt lên mảnh giấy. Ông không nói lại với mụ. Càng lúc mảnh giấy càng phẳng hơn. Thỉnh thoảng ông lại đưa nó về phía mặt trời và nheo mắt soi vào nó. Kỳ thực thì ánh mặt trời làm cho mắt ông nheo lại chứ ông không muốn mắt mình nheo lại bao giờ.
“Nó cắn đấy. Nó cắn vào ngón tay đấy.” Mụ lại nói với ông. Ông quay sang nhìn mụ. Ông muốn cười vào cái mặt đần của mụ. Nhưng rồi lại thôi. Đã nhiều lần ông dự định sẽ cười như thế nhưng cuối cùng ông lại thôi.
“Thông điệp.” Ông nói. Ông nói trống trơn. Ông nhìn vào mảnh giấy rồi lại nói: “Thông điệp đến rồi.”
Mụ nhón chân lên để nhìn vào mảnh giấy trên tay ông. “Trống trơn. Chẳng thấy chữ nào.” Mụ nói. “Nó cắn thì toi.” Mụ nói.
Ông lại cẩn thận đặt mảnh giấy trên tay, nó nằm gọn trong lòng bàn tay sần sùi và chai sạn của ông. Thỉnh thoảng ông lại đưa nó về phía mặt trời rồi soi vào nó. Khi soi vào nó mắt ông nheo nheo.
Rồi ông ngồi xuống. Ông đưa nó về phía mặt trời rồi soi vào nó và lấy ngón tay mình vẽ lên mặt đất đầy bụi đỏ. Ông vẽ ra những hình thù kỳ quặc, những ký tự quái dị. Những hình dạng như giun như dế. Mụ không hiểu chúng, mụ nhìn vào những hình thù kỳ quái, những mẫu tự quái đản của ông, rồi quay mặt đi. Mụ không nói, mụ thấy buồn cười. Mụ định cười vào cái mặt đần của ông. Nhưng rồi mụ lại thôi. Đã nhiều lần mụ định cười vào cái mặt đần của ông nhưng cuối cùng mụ lại thôi không cười nữa.
“Họ về. Ngày mai họ sẽ về.” Ông nói.
“Ai?” Mụ nói.
Ông không nói.
“Họ sẽ hiện diện ở đây. Thông điệp nói vậy.” Ông nói.
“Ai?” Mụ nói.
Ông không nói.
Ông lại đưa mảnh giấy về phía mặt trời rồi soi vào nó. Mụ sấn lại phía ông. Mụ ngồi xuống bên ông. Mụ cũng soi vào nó. Mặt trời làm cho mắt mụ nheo lại. Mụ chẳng thấy gì ngoài mảnh giấy ố vàng vì bụi bẩn.
“Trống trơn.” Mụ nói.
“Toi đấy. Nó cắn vào tay đấy.” Mụ nói.
Ông không nói. Ông lại lấy ngón tay vẽ xuống đất. Rồi lại đưa mảnh giấy về phía mặt trời và soi. Ông lặp lại những cử chỉ ấy nhiều lần đến nỗi mụ phát chán và quay mặt đi.
Bây giờ dưới chân ông, dưới chân mụ đầy những hình thù kỳ quái. Những hình thù quái dị, những ký tự lạ lẫm do ông vẽ lên bằng ngón tay giữa của bàn tay bên phải.
Một ngón tay đầy những vết thương.
Những chuyến xe phóng qua trước mắt ông.
Những chuyến xe phóng qua trước mắt mụ.
Chẳng một ai nhìn vào hành động của ông.
Chẳng một ai nhìn vào hành động của mụ.
Những chuyến xe phóng qua để bụi đỏ bám đầy trên tóc ông.
Những chuyến xe phóng qua để bụi đỏ bám đầy trên tóc mụ.
Rất nhiều ký tự ông vẽ ra đã bị bánh xe nghiền nát. Chúng biến mất ngay dưới dấu bánh xe, ngay dưới lớp bụi đỏ. Rồi ông vẽ lại chúng. Ông tô đậm chúng lên bằng cách gí ngón tay xuống mạnh hơn trên nền đất. Còn những ký tự biến mất hoàn toàn thì ông lại phải đưa mảnh giấy về phía mặt trời rồi soi vào nó, nhìn kỹ vào nó thì ông mới vẽ lại được những ký tự đã mất.
Mụ giật mảnh giấy trong bàn tay run run của ông. Mụ đưa nó về phía mặt trời rồi soi vào nó. Mụ chẳng nhìn thấy gì ngoài cái mặt trời như một chảo lửa đang muốn đốt cháy mặt mụ.
“Họ sẽ về từ những cơn sóng ngoài trùng dương.” Ông nói.
“Những con thuyền sẽ mang theo lương thực và nước ngọt. Những khoang thuyền đầy ắp cá và nho tươi.” Ông nói với mụ.
“Ai?” Mụ nói.
“Đúng 12 giờ trưa mai họ sẽ có mặt.” Ông nói.
“Ai?” Mụ nói.
“Những nhà thơ. Những nhà thơ sau lưng có kiếm.” Ông nói. Mắt ông sáng bừng lên.
“Những nhà thơ sau lưng có kiếm.” Ông nói. Mụ nhìn vào mắt ông. Mụ biết ông đang sung sướng.
“Những nhà thơ có kiếm sau lưng.” Ông hét lên.
“Những nhà thơ vĩ đại chứ?” Mụ nói.
“Cỡ bự đấy.” Ông nói.
Mụ lại sấn vào ông. Mụ chỉ thấy một mảnh giấy trống trơn và ố vàng.
“Sau khi hoàn thành sứ mệnh của mình, họ sẽ đón chúng ta về nhà. Ngôi nhà của chúng ta nằm dưới những lùm cây và có những khung cửa sổ đầy hoa bìm bìm. Sẽ có sẵn một lò sưởi và một giá sách đầy những điều huyền bí. Đó là những điều hoang tưởng, nhưng chúng khiến cho ta mơ mộng.” Ông nói. Chân ông như muốn nhảy lên khỏi mặt đất.
Mụ cúi mặt bỏ đi. Mụ không nói.
Ông lại đưa mảnh giấy về phía mặt trời. Ông lại gí ngón tay đầy vết thương của mình xuống đất.
“Nó cắn đấy.” Mụ nói. Mụ nói trong kẽ răng của mụ.
Những chuyến xe thay nhau nghiền nát những ký tự của ông.
Ông vẽ lại chúng, ông tô đậm chúng lên.
Mụ bỏ đi. Mụ bỏ đi cách xa ông một khoảng. Nhưng không xa lắm. Mụ cúi xuống nhặt một ống lon bên lề đường. Mụ lắc mạnh. Một ống lon trống rỗng. Một ống lon nhẹ tênh. Chẳng có gì cho ông và mụ cả. Mụ vứt ống lon xuống đất. Nó lăn vào miệng cống và bị cuốn đi theo dòng nước đen đặc.
Rồi mụ lại nhặt một ống lon khác. Một ống lon đầy kiến. Mụ thổi kiến và ngửi mùi thơm của sữa trên ống lon. Một ống lon trống trơn và nhẹ tênh. Mụ lại vứt nó xuống dòng nước đục ngầu.
Chẳng có gì cho ông và mụ vào tối nay. Vào tối nay chẳng có một cái gì cho ông và mụ. Chẳng có một cái gì cho hai kẻ già nua đi nhặt rác.
Mụ quay về chỗ ông đang hí hoáy vẽ.
“Những nhà thơ vĩ đại và giàu có chứ?” Mụ hỏi.
“Vĩ đại. Nhưng không giàu có. Những nhà thơ vĩ đại chẳng bao giờ giàu có cả.” Ông nói.
“Những nhà thơ đi bán thơ. Những nhà thơ đi bán thơ dạo. Họ để thơ vào những mảnh giấy rồi gói chúng lại. Họ sợ thơ sẽ bay đi.” Ông nói.
“Họ đến từ những cơn sóng ngoài trùng dương. Họ đến với thuyền đầy lương thực và quả ngọt. Dĩ nhiên là sau lưng họ có kiếm. Ôi, xin nghênh đón những nhà thơ sau lưng có kiếm.” Ông hát lên. Mụ cũng hát lên.
Rồi mụ lại ngẩng cổ xoay sang phía ông.
“Trống trơn.” Mụ nói.
Ông lặng nhìn hàng nghìn ký tự kéo dài cả một quãng đường đầy bụi đỏ.
Khi mặt trời lặn mụ nhìn vào mắt ông.
Mụ nhìn lên bầu trời. Mụ thấy trên trời có những vì sao. Trên trời có nho tươi, trên trời có những con thuyền, trên trời có những cơn sóng, trên trời có những vần thơ, trên trời có những thanh kiếm.
Rồi mụ nhìn thấy trong mắt ông có những vần thơ. “Nhắm mắt lại đi. Chúng bay hết đấy. Những vần thơ sẽ bay mất đấy.” Mụ nói với ông. Rồi mụ đưa tay lên mắt ông. Mụ muốn ông nhắm mắt lại và cuối cùng thì ông nhắm mắt lại.
Khi bóng tối bao trùm thì ông và mụ đã mệt nhoài. Cả hai dựa vào nhau và trở về với túp lều bằng giấy các-tông dưới chân cầu.
Nơi đó cách con đường này khoảng 1,5km.
Nơi đó có tiếng học nói của trẻ con.
Nơi đó có tiếng la hét của người lớn.
Nơi đó có rất nhiều rác thải.
Nơi đó ông và mụ vẫn luôn thức dậy khi bình minh lên.
H.T.X
(SHSDB26/09-2017)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.