Thoại khúc rìu và thơ

16:18 26/06/2009
TRẦN HẠ THÁP1/ Người đàn ông đang huơ rìu. Liên tục những bi củi tươi bị xé phanh, toang toác. Gió lạnh một buổi tàn đông, sắp Tết nhưng trên khuôn ngực mồ hôi loang lổ như mưa. Xóm lò heo. Buổi sáng chưa mở mắt đã hỗn độn, mù trời hơi nước. Cái thế giới được khoanh vùng bằng tiếng kêu bi thiết các con vật thảm tử. Mùi phân chuồng phát tán, nghẹt thở. Tiếng người lê la trả giá, mặc cả. Tiếng cười rộ lên đắc ý trộn lẫn tiếng chửi thề tục tằn đe doạ. Đâu đó, mơ hồ giọng trẻ con khóc và tiếng ru hò ngái ngủ xa xôi…

Minh họa: Đặng Mậu Tựu

Người đàn ông đen điu quần đùi thô, mình trần tóc râu bậm xị. Ông ta lặng lẽ, cật lực với thứ ánh sáng lạnh người, loang loáng quanh thân. Lưỡi rìu.

Bé gái đến, đặt một cục bọc lá lên bi củi cao nhất rồi le te chạy ngay. Cặp sách đeo sau lưng thủng lỗ. “Ba ba…xôi đó nghe”. Một bàn tay thộp mạnh vào vai nó “Này, này may húc người ta”. Thanh niên thọc tay túi quần lững thững bước vào…

Người đàn ông buông rìu. Thanh niên đã dựa lưng vào đống bi củi, mặt che túi xách tay, ngủ ngồi từ hồi nào. Ngó gói xôi chỉ còn nắm lá… Ông ta bỏ đi về phía vườn cây và trở lại với vài quả chuối xanh, xoè bàn tay chấm muối nhai ngồm ngoàm.

Rít điếu thuốc, người đàn ông tiếp tục công việc. Đống củi cao dần, mùi nhựa tươi dễ chịu. Cho tới khi có tiếng vươn vai sảng khoái sau lưng:


- Người bửa củi, đổi cơm. Cơm bửa người, nợ củi… Ê, có thằng cháu tới bửa thêm mấy ngày. Ráng chịu. Lão Trình Giảo Kim… Ba Rìu ơi.

- Con đười ươi. Không đi khuất mặt, khuất mày luôn.

Thoáng tia cười trong mắt, người đàn ông cố chèn cho bi củi dựng đứng. Thanh niên thuận tay chuồi ngay túi xách tay vào chỗ chông chênh. “Rồi, khỏi chèn”. Quầng sáng bạc huơ lên. Bi củi văng bắn hai đường. Người đàn ông khùng khục cười, gỡ bỏ túi xách ra khỏi lưỡi rìu “Đười ươi nghèo gần chết bày đặt đồ đạc. Tao… bập luôn” Thanh niên tỉnh bơ “Tội nghiệp. Tội nghiệp”

Xé toạc cái túi rách vướng lưỡi rìu, ông ta trợn mắt lấy cuốn sách cũ bị rìu chặt hai:


- Quá… trời luôn. Tao tìm không ra. Hèn gì đi đâu cũng thủ túi xách kè kè.

Thanh niên che miệng ngáp dài:


- “Giải trừ kiến thức” của Krishnamurti. Trả chú. Tình trạng phổ thông về thiểu năng bộ nhớ. Chôm... không biết bao giờ?

Người đàn ông bần thần đứng mân mê cuốn sách hồi lâu:

- Mê cái búa cha Nietzsche hả. Giải trừ kiểu nầy còn gì kỷ niệm mầy. Tao mua 73, thời Văn khoa, học chung ông già mầy. Giờ quý vị dư tiền rất khoái mua sách bày kiểng. Kiểng sách.

Thanh niên ậm ừ:


- Chôm sách, rất vệ sinh. Nó không hề sợ sách. Quái gở, những đứa sợ sách lại không thiếu sách bao giờ. Chúng chả đọc, miệt mài chôm thứ khác…

Người đàn ông bật cười hô hố, đặt cuốn sách “bửa rìu” lên bi củi, nói bâng quơ:


- Quên sách đi. Đứa nào hỏi, nói làm toán cộng không nhớ. Không học thì ngu. Học, quên không nổi sách là ngốc. Là tao nói qua còn có bọn chuyên ăn mày theo sách…

- Cứ sách này nói thế, cha nọ nói kia... Nô lệ trọn đời. Bằng chứng về triệt tiêu sáng tạo. Tự thiến, để được cho quà. Những đứa khoác áo choàng và hớn hở vì vinh danh kẻ khác.

- Không tự tin nổi, bảo tao đang nói ra cái của tao đây, nghe cái coi…

- Vẹt chỉ “nói thuội” cái đã nói… Khổ nỗi, có một loại hãnh diện vì tài năng, danh vọng… vẹt.

Nâng cuốn “bửa rìu” lên tận mặt, người đàn ông cẩn thận lật tìm từng nửa trang rách nát…“Đây. Mấy dòng chữ của tao đây. Hê hê… Còn chưa hề hấn gì. Tốt”.

Thanh niên chồm tới, chong mắt nhìn:


- Có gì đâu. Viết tầm phào ngày tháng không hà.

- Ê, tìm đâu ra nữa mầy. Nét chữ thời sinh viên của tao.

Hai cái đầu chụm vào nhau. Trang sách rách y nguyên mấy dòng chữ viết, nét ký tháu bằng bút “Bic” xanh dương, còn rất rõ chưa phai “Ngày… tháng… năm. Chia tay bạn thân trước cổng trại nhập ngũ số 2… Chiều bỏ giảng đường, lang thang”.

Người đàn ông cẩn thận xé nguyên nửa trang giấy cất kỹ vào túi cái áo còn vắt ở bụi chuối bên hè. Thanh niên buột miệng:


- Ủa, kỷ niệm với ông già.

- Ừ, từ đó tới bây giờ…

Không ai hỏi ai. Một hồi khá lâu, thanh niên xoay quanh chép miệng:


- Sao thấy thiếu thiếu cái cữ... buổi sáng Ba Rìu ơi. Nhớ gì chưa?

- Ê, chúng sinh đứa nào ưa cà phê, thuốc lá khỏi hỏi Trình Giảo Kim. Hỏi cục bi này này… Củi không biết nói. Nó kêu toác toác, dzậy đó. Rìu đây. Tao phát tâm vô lượng.

Thanh niên cố nín cười, trợn mắt lấy chân đạp mạnh vào đống ba cục bi to tướng còn lại, lầm bầm:


- Này, cái tâm vô lượng. Thấy mặt, có việc.

Lượm rìu, gã vung tay coi cứng ngắc “Ê Ê, coi bập vô chân con đười ươi. Nghe nói làm thơ cực khổ hơn nhiều. Tao không tin. Tao đi kiếm… thơ đây. Quán cóc”. Giọng hô hố khoái trá kéo ra đường, mất hút…

Thanh niên cởi áo. Tiếng bập rìu vào bi củi lại nổi lên toang toác. Một nụ cười lặng lẽ mơ hồ trên môi gã.

2/ Hai phin cà phê đá, năm điếu thuốc lẻ. Nhạc “Boléro chợ Nọ” trộn lẫn tiếng heo kêu ằng ặc. Hai người ngồi bàn và một cái rìu gác ghế. Mụ quán lom lom đứng nhìn phía sau cái quầy bẩn thỉu mốc meo.

- Bốn năm ra trường thất nghiệp sống chui hả? Trường phái hái lượm quanh gốc cây đến đâu rồi. Hậu hiện đại không mầy? Thứ thơ thập loại chúng sinh… Coi coi. Hay một cách Rimbaud đang tìm vàng thử thơ nào đó?

- Khác khỉ, đười ươi không trường phái. Nó cứ tận hưởng cô độc để thường trực đối diện tự thân. Sức mạnh bầy đoàn tố cáo khả năng sáng tạo tự thân suy thoái. Đười ươi dị ứng áp đặt. Mọi thứ áo quần, kể cả y phục hậu hiện đại đều dư thừa trước bộ lông của nó. Đười ươi ngoài vùng phủ sóng bầy đoàn. Nơi nhân danh phúc lợi buộc sáng tạo tự thân treo cổ. Văn minh khỉ xuất phát từ bản chất suy thoái ấy.

- Nhưng “Mãnh hổ nan địch quần hồ”. Thắng thế của văn minh khỉ đã nghiễm nhiên đẩy đười ươi xa lần vào bóng tối hang động. Nó chỉ kiếm lưng lửng bụng xong ngủ ngồi hà. Còn gì không. Đôi chút nghe lịch kịch…?

- Bùi nhùi và đá. Đười ươi bình thản đánh lấy ngọn lửa hắt hiu cho chính nó. Không còn cách nào khác, sáng tạo trả giá bằng cô độc và bi thảm. Ngọn lửa đười ươi. Nếu không, sáng tạo sẽ trá hình từ kiêu ngạo phán truyền. Khỉ mơ ước giá trị phán truyền vì luôn đặt dưới phán truyền con vật thủ lĩnh. Thơ đười ươi không phán truyền, không thủ lĩnh.

- Vô lộ. Vô môn. Vô trường phái. Hê hê. Đười ươi cứ ra hang, vào lại… hang hoài mầy. Sáng tạo, “tối tạo” hết cha ngày. Rồi sao nào… Đến đâu?


- “The gateless gate”. Vô môn cũng là một loại cửa. Nó sẽ tự mở ra cho chính nó. Sáng tạo không phải mở bất cứ con đường nào mới hơn để chỉ trở về La Mã. Còn “tối tạo” tất nhiên - sẽ bồi táng theo xác thơ - cùng hướng về… nghĩa địa. Với đười ươi, thơ là chuyển ngữ của lửa - hang động - cô độc và tiếng hú. Đười ươi cười hay khóc? Cả hai? Khi nào cười, khi nào khóc? Hay chả khóc, cười gì? Thánh cũng chưa từng biết.

- Tự nó chưa lường trước huống hồ thánh. Ai đã bảo chung chung là khỉ hay đười ươi gì… thuỷ tổ. Coi như âm bản rửa thành bức hình nhân loại nghe mầy. Hoành tráng… như khỉ.

- Âm bản đười ươi tồn tại trong tiềm thức hôm nay với số phần trăm quá nhỏ. Âm bản khỉ - loài có đuôi - với phần trăm đa số, cứ vẫn là khuôn mặt xa xôi cho vinh danh thông minh, khôn ngoan hiểu biết của con người. Bức ảnh nền văn minh lồng khung. Nó được nhuận sắc liên tục bởi phần sáng lửa hắt ra từ hang động. Một dương bản chung cho cả hai. Đười ươi và khỉ, rửa ra từ hai âm bản… ghép.

- Khỉ hoạt đầu ma lanh. Ê, các thứ trường phái xuất hiện y chang dãy khỉ nối nhau ngồi. Hội chứng trường phái tồn tại hai điều hoạt kê… Nhất định biết kêu “Có rận” với cái lưng trước mặt. Và nhất định không thể… biết ngay sau lưng nó rồi cũng có tiếng kêu lên y hệt “Có rận”. Quy luật phủ nhận đấy. Buồn cười muốn…tịch luôn.

- Trường phái. Trò nhàm chán vô tận. Nó được đậu thai từ trời tây và cấy tất cả vào dạ con của nó. Thế giới cúc cung, tuân thủ. Cái dạ con kiêu hãnh thuộc dòng họ định nghĩa, thống kê và sắp xếp. Quy luật phủ nhận chưa can đảm phủ nhận chính nó. Điều lệ trò chơi có phong tước mặc nhiên được tôn vinh, bái tổ. Mặc nhiên khác tất nhiên. Bất quân bình nầy chờ đợi vượt qua để lấp đầy lỗ hổng. Đười ươi tự tìm lỗ hổng vĩ đại, thiết thân nhất của nó. Hang động. Nơi suốt đời, có thể vẫn chưa tìm ra cánh cửa. Với đười ươi, đấy là tất cả. Nó khịt mũi trò bắt rận giây chuyền. Nó là nó.

- Ấy, dzậy đó… Khoảng giữa phê bình và sáng tạo mọc trái núi chình ình. Hai bên. Bên nào nhô cao hơn trái núi để bên kia chiêm ngưỡng, lập tức độc tôn giai đoạn. Bên kia khuất phục. Ê, nhờ phê bình mớm ý một trường phái èo uột vẫn có thể ra đời. Khi ngược lại, một trường phái tự ra đời, đủ sức buộc phía phê bình đặt tên, công nhận. Ấy là lúc phê bình giết trâu bằng dao mổ chuột…

- Thực ra chả trường phái nào lâu dài ngoài: phê bình và sáng tạo…Hai con lắc tung hứng đẻ ra thành tựu chung của chúng. Cuộc lựa chọn ứng viên duy nhất từ hai phiếu bầu nhân loại. Ngoài hai khả năng ấy - chưa hết - vẫn tồn tại ít nhất hai tình trạng bất thường. Khi cả hai bên - rất lý tưởng đều cao hơn núi giữa. Cái còn lại, chính trái núi là nơi cao hơn hết… Cả hai bên, lúc bấy giờ nằm sâu dưới… huyệt Khí Hải của nàng thơ.

- Đười ươi nhắm tít mắt cười rú không ưa thấy. Nó chán ngấy trường phái, chui ngay vào hang động. Ừ, ngón giữa, ngón vô danh bấm huyệt Lao cung. Ba ngón còn lại chổng lên trời bắt ấn trừ tà. Hết nhập.

- Sáng tạo là hành trình khám phá luôn đầy mạo hiểm và hoàn toàn không nương cậy. Cô độc hay không cô độc, còn có nghĩa sáng tạo hay là không sáng tạo. Nó là nó hoặc không hề là nó.

- Khi cái sự thưởng thức thơ đang lên sàn “chứng khoán”. Quả nhiên có những tiếng kêu huỳnh huỵch… Cười ngất.

- Khả ố hay tuyệt vời. Tất cả vô nghĩa trước lý sinh và lẽ diệt. Còn lại, đều là trò ảo giác. Từ đâu, về đâu? Cái vô cùng cũ kỹ nhưng vĩnh viễn tân kỳ. Sự giản đơn thường nhật song mênh mông, bất tận đến kinh hoàng. Thơ ra đời từ bi thảm móc-phin. Mũi kim tiêm chữ làm dịu đi cơn đau vạn thuở. Từ đó, thậm xưng hàm hồ, thơ bị cưỡng bức để choàng vòng hoa cứu rỗi….

Mới hay cũ? Chỉ là ống xơ ran đổi kiểu. Trò đám rước, tôn bàn thờ thơ để nhảy múa hoặc sụt sùi cầu nguyện. Thực thơ chưa bao giờ tồn tại dưới một ống thông hơi bệnh viện, một miếu mạo nào… Thơ chả cần ai giúp đỡ.

- Như thủ tục con đồng trước khi ban ra lời thánh dạy. Cơn động kinh nói lên gia cảnh thơ trước những thầy mo thơ phù phiếm. Thực chất thơ phi-thấu-thị như một bố thí trá hình. Coi chừng lẫn vào doping, thuốc điên hoặc độc dược trong nồi thuốc thơ sùng sục… Mù luôn.

- Từ chỗ phi-thấu-thị, thơ hướng về đỉnh cao thấu thị. Là lúc hoá thân thơ vào thi kinh và sấm ngữ. Thơ lúc ấy thấu thị sự móc ngoặc giữa hồ lỳ thời gian cùng những tay chủ chiếu chuyên cầm cố vận mệnh con người. Khi nào nhân loại còn quầng mắt thâu đêm trong ảo giác thứ hạnh phúc được chơi trò xóc đĩa… Chừng ấy thấu thị còn đích thực vinh danh thơ cứu rỗi. Bản lai diện mục thơ phi-thấu-thị là những mũi kim tiêm bên giường bệnh…

- Tao biết. Đười ươi hì hục khai sinh thứ gì. Khi muốn, a lê hấp nó sẽ tự mình đem khai tử. Hạnh phúc đơn giản và có thực của chính nó. Trong cô độc có một điều kì dị. Đấng khai sáng và thần huỷ diệt chơi thân tương đắc. Hai trong một. Như thứ tiếng đười ươi ấy mà. Hà hà. Cười hay khóc nói mau? Chịu luôn…


- Gừ gừ… Nó nhăn răng tự chỉ vào mặt nó để người ta đừng hốt sọt rác ngôi thứ nhất số ít. Nhưng chắc chắn nó không là loài ăn thịt. Thịt sống và thịt chết.

Tự dưng người đàn ông phát cười rộ tít mắt, hai tay khuỳnh ra thay phiên nhau đấm ngực “Đây. Nó đây. Không bắt chước ai hết. Đười ươi tự đánh thức lấy nó. Ừ, đôi khi nhón cả xôi, có thể giúp hiểu rõ hơn về chuối chát. Sẽ rất tiêu điều khi… được đười ươi chợt nhớ” Thanh niên cười to…

Người đàn ông chợt trầm xuống:


- Quên cha luôn ngày tháng. Không có lịch.

- Chi… vậy?


- Ngày giỗ ông già mày.

- Đây rồi. Hôm nay. Lão Trình khỏi coi lịch.

Hai người im lặng không nhìn nhau… Rất lâu, mắt ngó ra đường, người đàn ông bình thản:


- Không về nhà giỗ sao mầy?

- Ổng chết trên trại, nhà cửa hai mươi năm sau xin lại được nửa cái. Hồi ấy lấy đâu ra nơi giỗ.

- Nhưng bây giờ này này… Tao nói chuyện cũ chi mầy.

- Giỗ ông già tại nhà bạn thân ông già được không. Ai bắt. Nếu ổng có về, không tìm nhà bạn thân mới là lạ.


Người đàn ông lại cười hô hố:

- Đúng y bon. Tao còn… nhà chuồng heo. Không nhắc. Quên cha.

Hai người vắt áo lên vai, vác rìu lòn ra quán cóc. Một xị rượu đế, gói lá chuối củ kiệu, cây nến nhỏ và thẻ nhang. “Nợ ba đời để lại. Mở mắt ra là ký… thiếu. Đồ vô hậu”. Mụ quán nghiến răng chửi te tua sau lưng, đóng cửa rầm lập tức.

3/ Ba ngày sau… Đống bi củi mới, ngổn ngang được người ta lăn vào. Không thấy ai. “Ba Rìu đâu? Muốn đói a mầy. Sướng dữ quá mà” Chủ lò heo hầm hầm:

- Đồ ăn mày bày đặt cà phê cà pháo. Lương tháng mới trả hai trăm. Đuổi cổ không cho ở cho biết tay.

Hắn thò đầu vào cái lều che bằng nylon sát bên chuồng heo, nghiến răng “Vợ ve chai. Con đi học. Chó chết... dzọt luôn rồi. Quỷ quái thật”.

4/ Bến xe ngoại tỉnh. Một chiếc xe khách khởi động. Hai người nhảy ra khỏi quán cà phê cóc. Thanh niên lên xe, thò đầu ra:

- Ê, Ba Rìu đi kiếm cái chỗ khác xẹp xẹp ở. Khi nào giỗ giùm ông già cho có bạn.

Người đàn ông dưới đất cười ngất:


- Mua xổ số chờ… thánh dạy ha mầy.

- Quên thánh tốt hơn.

Xe chạy, thanh niên lôi trong ngực gói giấy cột giây thun liệng vù. Người đàn ông chụp đại, trố mắt muốn lộn tròng ra ngoài… Cái gì. Lòi ra một cọc tiền mới dày cộm. Xe chạy khá nhanh. Người đàn ông đuổi theo không kịp, ông ta cong lưng gào lớn giữa bến xe:


- Làm bậy mầy? Đâu ra…

- Về quê bán... nhà rồi... Yên chí.

    T.H.T
(243/05-09)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG TRỌNG ĐỊNHPhòng giam chật chội, tối tăm...  Gần trần có một lỗ thông hơi. Bên ngoài lỗ thông hơi là bức tường tôn xám xỉn. Khe hở dài chừng 10 mét, rộng chừng 3 tấc, nằm song song và gần sát với mặt đường bên ngoài. Đứng trong phòng giam, từ lỗ thông hơi nhìn qua khe hở của bức tường, chỉ có thể thấy những bước chân người đi.

  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.