KHẾ IÊM
(Kỳ cuối)
VIII. Nhà thơ William Carlos Williams
Phản ứng với Ezra Pound và T. S. Eliot, nhà thơ William Carlos Williams ngược lại, sáng tác loại thơ, ai cũng có thể hiểu được.
William Carlos Williams năm 1921 - Ảnh: wiki
Ông cho rằng, thơ tập trung vào các sự vật cụ thể, chứ không phải những khái niệm trừu tượng. Bởi vì các vật thể tạo ra những hình ảnh trong tâm trí, từ đó tạo ra ý tưởng, còn những khái niệm trừu tượng thì không, “không có ý tưởng ngoại trừ trong những sự vật” (No ideas but in things). Ông phát hiện ra một hình thức thơ độc đáo của Mỹ, qua ngôn ngữ nói thường ngày, với những câu chuyện xảy ra hàng ngày. Và vì thế, ông là nhà thơ duy nhất đã ảnh hưởng tới mọi trường phái trong suốt thế kỷ 20. Nhiều bài thơ của ông, với những ý tưởng liên tục, ngôn ngữ nói thông thường, có hình dạng không khác gì một thể thơ, dù rằng ông không quan tâm tới luật tắc thơ truyền thống. Thí dụ:
WILLIAM CARLOS WILLIAMS
Peasant wedding
Pour the wine bridegroom
where before you the
bride is enthroned her hair
loose at her temples a head
of ripe wheat is on
the wall beside her the
guests seated at long tables
the bagpipers are ready
there is a hound under
the table the bearded Mayor
is present women in their
starched headgear are
gabbing all but the bride
hands folded in her
lap is awkwardly silent simple
dishes are being served
clabber and what not
from a trestle made of an
unhinged barn door by two
helpers one in a red
coat a spoon in his hatband.
Đám cưới quê
Rót rượu chú rể đâu trước mặt
anh cô dâu được đăng quang tóc
lòa xòa hai bên thái dương cái
nón gắn kết nhánh lúa mì
chín vàng treo trên tường bên cạnh
cô khách ngồi nơi những chiếc bàn
dài những người thổi kèn túi sẵn
sàng con chó dưới gầm bàn ngài
Thị trưởng có râu hiện diện những
người đàn bà mang khăn trùm đầu
hồ cứng nói lép bép trừ cô
dâu ngồi bó gối yên lặng ngượng
nghịu những dĩa thức ăn đơn giản
được phục vụ với sữa chua và
các thứ khác cùng loại từ một
dàn khung làm bằng cánh cửa nhà
kho được tháo rời bởi hai người
phụ việc một mặc áo khoác đỏ
đội chiếc nón có giải băng trên
cắm một chiếc muỗm.
The red wheelbarrow
so much depends
upon
a red wheel
barrow
glazed with rain
water
beside the white
chickens.
Xe cút kít
Quá nhiều thứ tùy
thuộc
chiếc xe cút kít
đỏ
loáng bóng nước
mưa
bên cạnh những con gà
con trắng
Bài thơ chỉ là một câu văn được ngắt ra thành từng dòng cách nhau. Nhưng lại là một bài thơ mang tính cách mạng về hình thức thơ. Nhà thơ John Holland cho rằng, kỹ thuật vắt dòng đã làm cách đọc chậm lại, tạo ra một bài thơ “thiền định”. Bài thơ như một cuộc nổi loạn lặng lẽ, vì tính đơn giản của nó. Hình ảnh tương phản giữa chiếc xe và những con gà con, giữa màu đỏ và trắng bày ra một quang cảnh thực, gây nơi người đọc một cảm xúc bâng khuâng, thân quen nào đó. Trong khi những nhà thơ cùng thời với ông, viết những bài thơ có ý nghĩa hiểm hóc, Williams đã viết những bài thơ thu hút những khoảnh khắc bình thường và những sự vật bình thường, chiếc xe cút kít. Có vẻ như nhà thơ Williams đã hình thành một “thể thơ” riêng cho ông, với nhịp điệu tinh tế của ngôn ngữ nói thông thường. Ý tưởng liền lạc (ở đây chỉ là một đơn vị câu) tạo ra nội dung, tương tác với hình thức, tạo ra hình ảnh, ý nghĩa và cảm xúc. Và như vậy, khi làm thơ với thế giới thực tại, chúng ta có khả năng kết hợp được cả hai bán cầu não. Nhưng để có một Williams thì thật hiếm hoi.
Ảnh hưởng của Walt Whitman với những câu thơ dài và cú pháp song song, Williams với ngôn ngữ đời thường và cuộc sống đời thường (và bất thường), qua Allen Ginsberg, và Beat Generation, đưa thơ tự do tới một chuyển biến khác. Thơ đi sát với đời sống qua những chủ đề tính dục, cần sa, chống chiến tranh nhưng quan trọng hơn, từ hình thức thơ trên giấy bước qua hình thức thơ trình diễn. Thơ tự do một lần nữa làm việc với toàn thể bộ não, đầy cảm xúc, vang dội ra ngoài thế giới, điển hình với bài thơ Howl (Hú) của Allen Ginsberg.
Một ảnh hưởng khác nữa của Williams là những hình thức thơ, giống như bài thơ Đám cưới quê (Peasant wedding), đã ảnh hưởng đến rất nhiều nhà thơ cho cả đến bây giờ, như bài thơ Buổi sáng (Morning) của Frank O’ Hara (thập niên 1960s), hoặc hàng loạt những bài thơ của nhà thơ đương thời Tom Riordan, trông giống như thơ Tân hình thức Việt...
FRANK O’ HARA
Morning
I’ve got to tell you
how I love you always
I think of it on grey
mornings with death
in my mouth the tea
is never hot enough
then and the cigarette
dry the maroon robe
chills me I need you
and look out the window
at the noiseless snow
At night on the dock
the buses glow like
clouds and I am lonely
thinking of flutes
I miss you always
when I go to the beach
the sand is wet with
tears that seem mine
although I never weep
and hold you in my
heart with a very real
humor you’d be proud of
the parking lot is
crowded and I stand
rattling my keys the car
is empty as a bicycle
what are you doing now
where did you eat your
lunch and were there
lots of anchovies it
is difficult to think
of you without me in
the sentence you depress
me when you are alone
Last night the stars
were numerous and today
snow is their calling
card I’ll not be cordial
there is nothing that
distracts me music is
only a crossword puzzle
do you know how it is
when you are the only
passenger if there is a
place further from me
I beg you do not go
Buổi sáng
Tôi phải nói với em
làm sao tôi luôn yêu
em tôi nghĩ về điều
đó vào những buổi sáng
xám với nỗi chết trong
miệng rồi trà chưa bao
giờ đủ nóng và thuốc
lá khô chiếc áo khoác
màu hạt dẻ làm tôi
lạnh tôi cần em và
nhìn tuyết im ắng ngoài
cửa sổ trong đêm nơi
vũng tàu đậu những chiếc
xe buýt rực rỡ như
đám mây và tôi lẻ
loi nghĩ về những ống
sáo tôi luôn mất em
khi tôi ra bãi biển
cát ướt với nước mắt
dường như của tôi mặc
dù tôi chưa bao giờ
khóc và giữ em trong
trái tim tôi với niềm
vui thích em có vẻ
tự hào bãi đậu đông
xe và tôi đứng lúc
lắc chùm chìa khóa chiếc
xe hơi trống trơn như
xe đạp bây giờ em
đang làm gì em ăn
trưa ở đâu và có
nhiều cá trồng không thật
khó nghĩ về em với
không có tôi trong ý
tưởng em làm tôi buồn
phiền khi em ở một
mình đêm qua những vì
sao dày đặc và hôm
nay tuyết là danh thiếp
của chúng tôi không thân
thiết không có gì làm
tôi sao lãng âm nhạc
chỉ là trò đố chữ
em có biết thế nào
khi em là người hành
khách duy nhất nếu đó
là nơi xa hơn nơi
tôi xin em đừng đi.

TOM RIODAN
The car window
shattered into empty
sunflower husks
on the macadam
and inside the bar
a woman spit glass
into a tin ashtray
and told her lover
that neither of them
was ever going to
hit the other again.
Kính cửa xe
bị đập bể trông giống những
vỏ rỗng hạt của hoa hướng
dương trên đường trải nhựa và
bên trong quán rượu một người
đàn bà nhổ chiếc răng gẫy
vào cái gạt tàn bằng thiếc
và bảo người bồ rằng không
một ai trong bọn chúng vào
bất cứ lúc nào được đi
đánh kẻ khác lần nữa.
....................................
Glass: ám chỉ chiếc răng gẫy.
Image the scavenger’s ecstasy
as he lowers himself into the bin
and opens up the first big bag -
this, after a week of mostly slugs
and chewing over last year’s pretty
much worked-over hickory nuts.
Each night he tries the Italian deli’s
door and tonight it was unlocked -
each night he propositions every
girl in the shot-&-beer joint and
tonight every one of them said yes.
He doesn’t need an eternity of bliss.
One single glorious night like this,
and then each night recalling it,
and hoping that it happens again,
is paradise enough for a raccoon.
Hình dung trạng thái ngây ngất của kẻ viết văn dâm ô
khi hắn tự thả mình trong thùng rác
và mở cái bao lớn đầu tiên - điều
này, sau một tuần ăn hầu hết những
con ốc sên và nhai hết những hạt
mại châu héo khô hơi nhiều năm ngoái.
Mỗi đêm hắn thử một cửa hàng Ý
và đêm nay cửa hàng mở cửa - mỗi
đêm hắn gạ gẫm một cô gái ở
quán rượu rẻ tiền và đêm nay mỗi
cô đều đồng ý. Hắn không cần niềm
vui sướng vĩnh cửu. Một tối lẻ loi
huy hoàng như vầy, và để rồi mỗi
đêm nhớ lại, và hy vọng trở lại,
đó là vườn địa đàng đủ cho một
con gấu trúc.
IX. Thơ Tân hình thức Việt
Thơ tự do tiêu biểu cho thơ phương Tây thế kỷ 20, được phát huy cuồng nhiệt với tiêu chí “làm mới” (make it new), qua bao nhiêu phong trào tiền phong, nhưng cuối cùng đã đi đến bờ vực cực đoan, khủng khoảng với thơ ngôn ngữ, thập niên 1980s. Bởi vì, thơ không phải là cách mạng hay ý chí “làm mới”, thơ là sáng tạo. Kinh nghiệm với các nhà thơ Williams và Ginsberg cho thấy, tự thân nhà thơ khó có khả năng nối kết giữa hai bán cầu não khi sáng tác, mà tùy thuộc vào cách làm thơ, cả nội dung lẫn hình thức. Về hình thức, chúng ta thấy những nhạc sĩ viết ca khúc, ca từ thuộc bán cầu não trái, trong khi âm nhạc thuộc bán cầu não phải. Còn nội dung, những bài thơ của Eliot và Levertov, phản ánh thế giới khái niệm của tâm trí, nên không tạo ra được cảm xúc. Trong khi những bài thơ của Williams, Frank O’Hara, và Ginsberg, qua thế giới thực tại, với 5 giác quan, kết hợp được cả ngôn ngữ bên não trái với cảm xúc bên não phải.
Ảnh hưởng từ Ginsberg, Beat Generation, thập niên 1970s, xuất hiện phong trào thơ Lời nói (Spoken Word), là loại thơ truyện kể, được viết ra theo hình thức thơ tự do, dùng để trình diễn. Đến thập niên 1980s, thơ trình diễn trở thành thơ Slam, dùng thi đấu, từ bỏ in ấn, chỉ còn trình diễn và thu vào video. Như vậy, bước qua thế kỷ 21, thơ tự do rơi vào ba khả thể, 1/ Từ bỏ hình thức khó hiểu trên trang giấy, hóa thân thành một loại thơ trình diễn; 2/ Tạo ra hình thức thơ trông giống thơ thể luật nhưng không theo luật tắc của thể luật, diễn đạt ý tưởng liền lạc, như những bài thơ của Frank O’Hara và Tom Riordan nêu trên. 3/ Nối kết giữa thể luật và tự do như trường hợp Annie Finch. Dĩ nhiên, thơ Mỹ với hàng ngàn nhà thơ được đào luyện trong dòng thơ tự do lý trí, hậu hiện đại vẫn còn đó, cùng những cơ chế xuất bản, tạp chí, giải thưởng và những tiêu chí cũ. Bởi khó có thể thay đổi một thói quen nơi những thế hệ trước kia là cấp tiến, bây giờ đã biến thành bảo thủ.
Trở lại với nhà thơ Annie Finch, cũng như Dana Gioia, bà là một nhà thơ tự do trước khi trở thành nhà thơ thể luật, và tham gia phong trào thơ trình diễn. Ngoài những tập thơ, bà còn là tác giả của nhiều tập tiểu luận về thơ, trong đó có cuốn “A Poet’s Craft” (Kỹ năng của nhà thơ), trên 700 trang. Bà cho rằng “thơ thể luật tích hợp cơ thể và tâm trí bằng cách cho phép chúng ta tiếp cận vào vô thức, bán cầu não phải.” Khi những nhà thơ tự do tham gia vào sáng tác thơ thể luật, họ mang phong cách diễn đạt thơ tự do hòa nhập với luật tắc, kết nối hai bán cầu não trong sáng tác. Theo Finch, thơ tự do, sau một thời gian dài, đã làm “mất mát niềm tin, mất mát hồi ức mà thơ cung cấp cho chúng ta.” Nhà thơ Pháp Stéphen Mallarmé trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1891 cho rằng, thơ tự do sẽ sớm trở về thể luật phổ quát, đặc biệt là với dòng thơ Alexandrine 12 âm tiết. Điều này có vẻ đúng với những nhà thơ mà Annie Finch là đại diện. Thêm vào đó, theo một bài viết của nhà thơ Dana Gioia, thơ Mỹ hiện thời đang nổi lên những phong trào thơ đọc, bao gồm thơ Tân hình thức, thơ Slam, thơ Cow Boy, và thơ Jazz.
Thơ muốn có người đọc thì bản chất thơ phải phù hợp với bản chất của con người. Điều này đã thể hiện từ thời xa xưa, nhưng bây giờ khoa não bộ mới khám phá ra. Sáng tạo luôn luôn là điều bí ẩn vì nếu không thì làm sao gọi là sáng tạo. Và khoa não bộ đã giúp chúng ta am hiểu những điều căn bản, phát huy tài năng thiên bẩm của nhà thơ. Như vậy, cách làm thơ của thơ Tân hình thức Việt có đúng với những chức năng sáng tạo trong não bộ không? Thơ thể luật tiếng Anh gồm thơ có vần và không vần ở cuối dòng thơ, tuy rằng luật tắc hoàn toàn giống nhau. Thơ Tân hình thức Việt bổ túc thêm cho thơ vần điệu Việt một loại thơ không vần, để dễ chuyển tải tư tưởng, đưa thơ Việt ra ngoài thế giới, và khi chuyển dịch, vẫn giữ được nhịp điệu của thơ. Muốn vậy, tư tưởng phải cân bằng với cảm xúc.
Thơ Tân hình thức Việt “Dùng lại những thể thơ 5, 7, 8 và lục bát, tượng trưng cho truyền thống thơ Việt, thu nạp các yếu tố: tính truyện, ngôn ngữ đời thường, vắt dòng từ thơ truyền thống Anh, và kỹ thuật lặp lại từ thơ tự do Mỹ.” Kỹ thuật lặp lại cặp đôi bằng trắc, vừa tạo nhịp điệu, vừa tạo vần ở bất cứ chỗ nào trong bài thơ, trở thành sức mạnh cho thơ Tân hình thức Việt. Nhưng với điều kiện, người làm thơ phải có khả năng phối hợp với các yếu tố khác, cảm xúc và ý tưởng chẳng hạn, để người đọc không nhận ra đó là kỹ thuật. Như vậy, từ khởi đầu, thơ Tân hình thức Việt đã chủ trương nối kết giữa thơ truyền thống và thơ tự do hiện đại, đi xa hơn, giữa thơ tiếng Anh và thơ tiếng Việt, giữa nền văn hóa này và nền văn hóa khác, cũng có nghĩa là nối kết giữa bán cầu não trái và phải trong sáng tác.
Nhưng thơ không thể đổi mới, nếu không thay đổi cả hình thức lẫn nội dung. Vì nội dung là xương sống của bài thơ, ở đây là kiến thức. Như đã đề cập trong bài, theo phái Thực nghiệm, kiến thức đến từ kinh nghiệm và phái Duy lý, kiến thức đến từ bẩm sinh. Kant nối kết lại hai quan niệm và cho rằng kiến thức là cái gì đó được tạo ra bởi tâm trí, bằng cách lọc cảm giác thông qua các công cụ hiểu biết. Kiến thức mênh mông và hiểu biết của con người thì hạn chế. Ngoại trừ một số nhà thơ tiền phong, đa số người làm thơ cả tự do lẫn thể luật chỉ quan tâm tới trò chơi chọn chữ chọn lời, hoặc đơn giản, ghi những suy nghĩ riêng tư xuống trang giấy, ít khi quan tâm tới tư tưởng trong thơ. Thiếu kiến thức, người làm thơ không thể phát hiện những ý tưởng mới trong những biến cố và sự việc thường ngày. Kiến thức và trực giác là sức mạnh trong tâm thức, tiếp cận với thực tại, tạo nên ánh sáng lóe trong nội tâm. Nội dung bài thơ sẽ trở nên nhạt nhẽo nếu ý tưởng nghèo nàn, hoặc có khi người đọc chẳng biết bài thơ muốn nói gì.
Theo Lain McGilchrist, biết một điều gì đó thì không bao giờ đầy đủ, vì nó luôn luôn thay đổi, tiến triển, phát hiện thêm những khía cạnh khác. Sự am hiểu đầu tiên thuộc bán cầu não phải, trong khi chúng ta chờ phát hiện thêm những điều mới kế tiếp, thì sự am hiểu đầu tiên đó lập đi lặp lại thành quen, được ghim xuống trong bán cầu não trái, trở thành cái biết bây giờ. Kiến thức về toàn thể rất sớm trở thành kiến thức của từng phần những gì chúng ta đã biết rồi. Như vậy, để biết một điều gì đến nơi đến chốn, phải là một tiến trình học hỏi lâu dài, và đó mới thật sự là kiến thức, chứ không phải chỉ là những thông tin hay những ý tưởng rải rác, chúng ta tiếp nhận được hàng ngày.
Cuối cùng, qua những nghiên cứu về chức năng não bộ trong sáng tạo, nội dung quen thuộc của thơ, từ trừu tượng, siêu thực và tư duy cần chuyển qua nội dung sinh động của đời sống hiện thực. Như thế, cách diễn đạt lúc nào cũng có thể thay đổi, không bị khuôn sáo, vì đời sống muôn màu muôn vẻ, dễ tạo ra những ánh chớp lóe ra trong nội tâm. Vả lại, thực tại mới chính là trung gian nối kết thơ và người đọc. Mặt khác, khi sáng tác với toàn thể não bộ, kiến thức mà chúng ta đề cập trên, cũng phải bao gồm nhiều nguồn khác nhau, chuyên môn về thơ, dĩ nhiên rồi, còn cần thêm những nhu cầu kiến thức khác, và về đời sống thực tại. Vì đó là cái vốn tư duy nghệ thuật, và là nền tảng tạo nên tác phẩm. Chúng ta thường nghe nói, trước khi hoàn thành một tác phẩm, người nghệ sĩ phải trải qua một thời gian trầm tư rất lâu, nhưng tới khi hứng khởi thì tác phẩm được hoàn tất rất nhanh, đó chính là lúc, ánh sáng lóe ra trong nội tâm.
Một thí dụ cụ thể: khi ý tưởng về chiếc xe đạp hiện ra trong đầu, tôi phải suy nghĩ rất lâu bằng cách, lên Net tìm kiếm thông tin, những câu truyện và cả những bài thơ về chiếc xe đạp, rồi hồi tưởng lại thời còn đi học, chiếc xe đạp gắn bó với tôi từ thời niên thiếu đến lúc trưởng thành. Có điều ngạc nhiên, ngoài những hồi ức, những thông tin tìm được không mấy liên quan tới bài thơ tôi muốn làm. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rõ mọi khía cạnh về chủ đề bài thơ, và tâm trí sẽ tự loại bỏ những gì không quan trọng. Và cũng phải vài tuần lơ mơ như vậy, cho đến lúc bài thơ hiện ra, tưởng chỉ trong vài tiếng đồng hồ. Nhưng không phải tất cả các bài thơ đều lâu như vậy. Có bài rất nhanh, chẳng hạn như bài “Mẹ khổ”. Đến đây tôi mới nhận ra, hình ảnh (bán cầu não phải) từ đời sống hiện thực, dù rất bình thường - như chiếc xe đạp hay người mẹ nghèo - một lúc bất ngờ nào đó, khơi dậy những ý tưởng và cảm xúc đã có sẵn ở bên trong chúng ta, và thơ bật ra. Nếu đó gọi là sáng tạo thì quả thật là điều vô cùng bí ẩn. Như vậy, khi biết được những tính năng trong sáng tạo, tính thơ trong một bài thơ, điều đó đủ để mỗi người chúng ta tự nhận biết phải chuẩn bị những gì... sẵn sàng chờ những ánh chớp nội tâm tới. Và quan trọng hơn, hãy cứ để tâm hồn mình thoải mái.
Chiếc xe đạp
Người đàn ông dựa xe đạp
vào vách tường vừa kịp
cơn giông ập xuống mang
theo mưa và mưa và
mưa xóa nhòa biên cương
giữa sáng tối và sự
vật và bụi mờ đẩy
người đàn ông dần dần
lùi lại khoảng cách giữa
tiếng rơi mái hiên và
gió lạnh và chiếc xe
lấn tới lấn tới cho
đến khi những đường cong
vòng tròn những nan hoa
những góc cạnh khảm sâu
vào bức tường đã ố
màu thành bức tranh hiện
thực và người đàn ông
là chiếc bóng phai mờ
và cơn giông và mưa
và biên độ giữa hai
chiều thực tại còn đọng
lại nhiều năm sau đó
trong ký ức người đàn
ông những phút giây lạ
lùng tưởng chừng như câu
chuyện chỉ xảy ra trong
tâm trí.
Thơ Tân hình thức Việt, với ba tuyển tập, Thơ không vần (2006), Thơ kể (2009), Tuyển tập Thơ Tân hình thức Việt (2016), và hai tập tiểu luận, Vũ điệu không vần (2011), Cách làm thơ (2016), đã định hình những sáng tác, và cách làm thơ mang tính cơ bản. Nhưng tại sao cho đến nay, những sáng tác vẫn chỉ dừng lại ở những bước khởi đầu, và không có mấy người tham gia? Thật ra, thơ Tân hình thức không dễ, vì mỗi người làm thơ cần tạo cho mình một phong cách riêng, và mỗi bài thơ phải có nhịp điệu, cảm xúc và tư tưởng khác nhau. Lý do, chúng ta chỉ biết những chức năng của não bộ mới đây, nên chưa vận dụng được khả năng sáng tạo và phối hợp những yếu tố thơ trong bán cầu não phải như tưởng tượng, cảm xúc, trực giác, nhịp điệu, vần... Đồng thời cũng chưa ý thức được tầm quan trọng của kiến thức và tư duy nghệ thuật trong việc phát triển nội dung thơ. Một lý do nữa, đa số chúng ta từng sáng tác thơ vần điệu và thơ tự do, trước khi tham gia thơ Tân hình thức. Đối với những nhà thơ đã từng làm thơ vần điệu, họ dễ ý thức được nhạc tính trong thơ, nhưng nếu bị vướng vào nhịp điệu của vần điệu sẽ làm hỏng thơ Tân hình thức. Còn nếu sáng tác bằng cách nghĩ thơ (với bán cầu não trái) của thơ tự do, rồi lặp lại câu chữ một cách máy móc để tạo nhịp điệu, thì không thể gọi là sáng tạo. Bây giờ, bổ túc thêm những thông tin về chức năng não bộ trong sáng tạo, chúng ta hy vọng sẽ có được những nhà thơ Tân hình thức thực sự, kết hợp giữa nghệ thuật thơ và đời sống thực tại, giữa “kiến thức và kinh nghiệm trong tiềm thức”, như ý kiến của Jesper. Cụ thể hơn, thơ khẩn thiết cần một nội dung mới.
Thơ đòi hỏi người làm thơ phải có đam mê. Nhưng ở một thời đại mà đam mê thơ tưởng như đã trở thành xa xỉ, vì có những bộ môn nghệ thuật khác hấp dẫn, với nhiều tài năng hơn, những phương tiện tiên tiến mở ra những cơ hội giao tiếp rộng lớn hơn, Facebook chẳng hạn. Nhưng thơ là một bộ môn đặc biệt, mang tầm văn hóa, làm phong phú đời sống nội tâm, gốc rễ của nền văn minh. Nếu có cách làm thơ đúng, sẽ tạo nên niềm mê hoặc nơi những nhà thơ. Bởi vì, ở thời nào cũng vậy, những nhà thơ có tài, luôn luôn cần những phương tiện để thể hiện tài năng của họ.
Ngày 4 tháng 7, 2017
K.I
(TCSH345/11-2017)
Tải mã QRCode
PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...
TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".
MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.
HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.
TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H
TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.
TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.
NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...
BẢO CHI (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...
ĐỖ LAI THÚY Văn là người (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.
ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.
TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.
TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?
HOÀNG NGỌC HIẾN ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...
THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.
TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.
ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.
ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…
HỒ THẾ HÀ Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.
JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.