PHẠM TẤN HẦU
Trong bản tham luận về mảng thơ trên trang viết đầu tay của Tạp chí Sông Hương do anh Hoàng Dũng trình bày tôi thấy có chủ ý nói đến tính khuynh hướng. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được đặt ra một cách chặt chẽ, sâu sắc. Theo tôi, nếu hướng cuộc thảo luận đến một vấn đề như vậy chắc sẽ đem đến cho những người viết trẻ nhiều điều bổ ích hơn.
Nhà thơ Phạm Tấn Hầu - Ảnh: LVT
Với tư cách một người có làm thơ, tôi cảm thấy vấn đề đó luôn đặt ra cho mình những băn khoăn: viết như thế nào? Thể hiện nó ra sao? Hệ quả của nó như thế nào? và có đúng nó gần gũi với thiên hướng của mình chăng?
Vậy thì, mối quan tâm trước hết đối với những người viết trẻ, những người đang cố gắng chuyển dịch cái mình cảm thụ thành "Những tác phẩm nghệ thuật", đầu tiên tôi nghĩ vẫn là vấn đề: tính khuynh hướng và hình thức thể hiện.
Ở đây, trong khuôn khổ một ý kiến nhỏ được góp vào buổi Hội thảo tôi cho rằng điều đáng được chúng ta nói đến nhiều hơn cả là những nỗ lực của các bạn ấy trong "công việc chuyển dịch", có tính cách sáng tạo nói trên. Những nỗ lực mà nếu thiếu mất, thì chúng ta lại thấy hiện trên những bản văn bóng dáng của sự già nua tẻ nhạt. Nỗ lực của sự tìm kiếm không dứt. Tìm kiếm vì thơ không dừng lại là một cách nhận thức, mà là một cách sống trọn vẹn nhất. Sống với thời đại của nó. Thời đại mà khoa học kỹ thuật không ngừng thay đổi, khiến tinh thần của nó cũng trở nên quyết liệt hơn một thời. Trong tinh thần ấy, cuộc đấu tranh của mỗi thế hệ có một ý nghĩa: rút ngắn dần khoảng cách, đồng thời với việc thể hiện đầy đủ nhất sự tồn tại của mình. Trước nhu cầu đó, họ cần có một vũ khí hiện đại hơn, một khuynh hướng táo bạo hơn và một hình thức tiếp cận với cuộc sống mới mẻ hơn. Nếu trước đây người ta chưa quen với lối biểu hiện của thơ Voznexenxky như một nhà thơ lão thành, Axêep đã từng thú nhận "Tôi đã không đánh giá đúng mức khi đọc những bài thơ đầu của Voznexenxky. Cái đó không phải lỗi tác giả mà tại tôi chưa quen với loại thơ mới mẻ ấy"; thì nay Voznexenxky đã trở thành một hiện tượng của nền thơ Xô viết. (Xin cám ơn nhà thơ Axêep đã nói những lời chân thành!).
Và còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã làm gì để thúc đẩy quá trình thể nghiệm khám phá của các bạn trẻ được diễn ra một cách trọn vẹn, tốt đẹp. Bởi vì dẫu sao quá trình đó vẫn cần thiết một chất xúc tác để có thể "xảy" ra một hiện tượng.
Tôi thành thật lo ngại rằng, quá trình trên chưa được diễn ra bao lâu, thì đâu đó đã sẵn sàng đơm đặt những mạch cắt. (Tạp chí Sông Hương số 21. "Nhìn lại 10 năm Văn học Bình Trị Thiên" và Văn hóa Bình Trị Thiên số 21 "Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ nhiều trăn trở!"). Nơi này nhà phê bình than vãn "Cây bút trẻ chưa đáp ứng yêu cầu". Nơi kia nhà phê bình nọ cho rằng: "Giọng thơ lọng ngọng..." và cũng có trường hợp muốn lật đi lật lại từng chữ trong trang viết đầu tay với nghề nghiệp của một người chấm luận văn.
Có phải cần đọc thơ với đôi kính như thế chăng, nhất là đối với trang viết đầu tay của một tác giả trẻ? và thật ra với cách đó, họ có thể xóa bớt nhiều tác phẩm của bất cứ nhà văn nhà thơ lớn nào trên thế giới mà họ đụng đến. Lấy trường hợp Saint John Perse làm ví dụ. Khi trao giải Nobel 1960 cho ông người ta nhận định "Chúng ta có thể thấy đằng sau cái vẻ bề ngoài bưng bít khó hiểu, và những hình tượng nhiều khi rất khó vào, Saint John Perse đã đem lại những sứ mệnh lớn lao cho những người đồng thời với ông".
Vẻ bề ngoài bưng bít, và những hình tượng nhiều khi rất khó vào... Phải chăng là những thách thức không thể nào vượt qua đối với những nhà phê bình, khi đã từ bỏ vai trò tiên phong của mình đối với nền văn học tiến bộ?
Tất nhiên ở đây tôi không dám kèm theo một ngụ ý so sánh nào. Nhưng có thể nào những nhà thơ lớn, những thiên tài lại bỏ qua những trang viết đầu tay. Vấn đề có tính nhân bản, và ưu việt là làm thế nào để có thêm một Mozart mới, hay ít ra cũng để không phải buột miệng than "trong mỗi chúng ta đã có 1 Mozart đã chết" như Saint Exupery.
Với trang viết đầu tay, người đọc có thể thấy rằng, tạp chí Sông Hương không có ý trình làng "những tác phẩm lớn"; mà có lẽ mong mỏi tìm thấy một vài dấu hiệu của chất vàng. Phải chắt lọc rất nhiều. Phải làm đất kỹ hơn nữa, và có lẽ, trong cuộc vận động như vậy, những điều chúng ta thấy được mới chỉ là sự ướm thử của một sức lực tinh khôi nào đó. Chúng ta chưa có thể đánh giá đầy đủ được, nhưng chúng ta tin vào những nhân tố đó. Chúng ta trân trọng với thiện chí của tạp chí Sông Hương, và càng biết trân trọng hơn với sức lực trẻ trung đó.
Riêng tôi, một thời gian sinh hoạt ở trong Câu lạc bộ Văn học trẻ Huế, tôi đã có dịp đọc một số trang viết đầu tay dưới dạng bản thảo, và tôi gần như hiểu được những gì họ mơ ước trước thế giới văn học. Bản văn mà họ mang tới ngưỡng cửa văn học ngày nay không phải dành dâng tặng, xưng tụng mà đòi hỏi sự tham gia của người đọc. Họ viết văn với tư cách là người tư duy, chứ không chỉ với tư cách là người cảm xúc. Tôi không nông nỗi để quy tất cả điều này vào khuynh hướng triết lý, cho rằng họ cố tình làm già đi cái tuổi trẻ của mình. Bởi vì rõ ràng có rất nhiều vấn đề của cuộc sống đất nước, con người và thế giới đang bùng nổ, ảnh hưởng sâu sắc đến họ, những người luôn muốn đến với tâm điểm nóng. Dưới một tác động như thế người ta dễ dàng đưa vấn đề lên một mức khái quát cao hơn. Một số bài thơ đã gây trong tôi một ấn tượng như vậy. Có khi, tôi bỗng nhìn ra một cái nhìn khác với cách trình bày rất lạ.
Chúng ta cách nhau nửa vòng xe lăn nửa vòng trái đất
Để đến được cùng em tôi đã đổi thay tốc độ thường ngày
(Sông Hương số 11 Xuân Ất Sửu)
Một đoạn trong một bài thơ khác, đã thuyết phục các biên tập viên Tạp chí Sông Hương ngay trong một đêm đọc thơ ở câu lạc bộ văn học trẻ Huế, để sau đó tạp chí có quyết định giới thiệu ngay như một tác giả (Sông Hương số 9).
Xin lặng im
Lắng nghe tiếng những bàn tay xoay khối ru bích
Những hạt lúa quay cuồng trong máy xát
Người nhạc sĩ ngồi ghi từng nốt nhạc
Những ống khói rất trẻ
và những đàn chim sẻ
giật mình bay lên trời,
***
Những người mẹ có mang đang mỉm cười...
Với cả hai bài thơ nêu trên, chúng ta không còn đọc ở đây cái "cảm xúc kiểu văn chương thuần túy nữa", mà nó đòi hỏi chúng ta phải tham gia một cách trọn vẹn vào điều nó đang nói tới. Những tác giả trẻ ngày càng muốn người cảm thụ với người sáng tạo là một. (Phải chăng đây cũng là một dấu hiệu của quá trình dân chủ hóa trong văn chương?)
Khuynh hướng đối thoại ấy (có thể gọi như vậy) tạo cho tôi cái cảm giác phải luôn quay lại nhìn mình. Hình như, đôi lúc tôi đã bỏ một giai đoạn nào đó, một cái gì đó; mà giờ đây chỉ có họ mới cảm thụ được. Đúng hơn, tôi đã bị thuyết phục, phải học tập ngôn ngữ, hình thức thể hiện của họ để sống lại cái cảm giác tươi mát do sức và thói quen cũ kỹ làm già đi.
Và có thể nói, trong cái không khí đó, tôi đã có được những tình bạn mới. Qua trang viết đầu tay, các bạn trẻ đã nghe được những tiếng nói đồng cảm, tìm đến nhau, để cùng chia sẻ hoài bão lớn của mình. Vậy là vô hình chung, một phong trào viết trẻ đã được khởi động, và được hưởng ứng rộng rãi. Nhiều cây bút trẻ xuất hiện trên tạp chí với tư cách là tác giả. Nhiều người được kết nạp vào Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên.
Theo tôi đó là điều chúng ta có thể khẳng định được, bởi vì, ở một tờ báo khác (lấy tờ Văn nghệ Bình Trị Thiên trước đây làm ví dụ) chắc gì chúng ta có được một đội ngũ như vậy, cùng xuất hiện một loạt trong vòng chỉ một hai năm.
Trong bối cảnh đang có dư luận nghi ngờ về sự tồn tại của thơ ca; cho rằng thơ đang mất dần vị trí của mình và đang lạm phát những nhà thơ(!), thì sự xuất hiện của những cây bút trẻ quả là một hiện tượng. Nó gần như một nỗ lực mới đang tích tụ lại, hướng đến một câu trả lời về tình hình trên.
Giữa lúc đó, chúng ta đã làm gì? Không ít người trong chúng ta để ngủ yên trong nếp nghĩ một thói quen "thà tỏ ra nồng nhiệt với một bài thơ của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử... thà ảnh hưởng Baudelaire hơn là đến với bài thơ của tác giả trẻ có giọng kiểu Voznexenxky.
Vậy đó, cái hôm nay có trở thành lịch sử hay không tùy thuộc ở tất cả chúng ta. Thế nhưng, đôi khi chúng ta đã không đánh giá hết những gì đang xảy ra với họ, hoặc tìm cách bài bác tính cách tồn tại của họ. Hình như đang có một thành trì gìn giữ cảm quan của chúng ta rất kỹ. Trước thành trì này, một nhà thơ lớn đã phải coi "là nhà thơ, kẻ nào giúp ta đập tan mọi thói quen dễ dãi..."
Nuôi dưỡng một tham vọng như vậy là hoàn toàn chính đáng. Phía độc giả, và những nhà phê bình tiên tiến khi đánh giá về họ, những cây bút trẻ, cái cần đặt lên bàn chân trước tiên phải là nỗ lực đó. Và hôm nay nếu họ chọn một tiếng nói mới có vẻ lạ với chúng ta, thì không phải vì sự tình cờ, vì lập dị, mà vì họ có tâm tình mới, những mơ ước mới; cho dẫu những tâm tình ấy, những mơ ước ấy chưa bao giờ đến, hoặc không bao giờ đến nữa với chúng ta!
Đã qua rồi cái thời phải tôn thờ một khuynh hướng, một hình tượng cần thiết cho cuộc tuần đạo. Ngày nay cuộc sống mới mở ra rộng lớn hơn; và thơ ca nếu không tự mình làm phong phú thêm bằng tư duy mới, khám phá mới, tất yếu sẽ chịu mất vòng nguyệt quế của mình.
Người đốn củi
đã biến thành cái cây
người đốn củi khác
đến chặt
và tự nhận lượt mình
biến thành cây
……..
(Yanis Ritsos)
Một sự liên tục có tính kế thừa, đã diễn ra như vậy, để nghệ thuật không bao giờ cũ kỹ. Trang viết đầu tay trên tạp chí Sông Hương là sự chuẩn bị cho tính chất ấy. Mọi sự lặp lại tiếng nói của quá khứ đều có nghĩa như tự mình phế bỏ quyền thừa kế của mình. Bởi vì đây là đất cần khai phá, cần được dũng cảm cách tân; đây là miền đất trẻ…
P.T.H
(SH24/4-87)
Tải mã QRCode
TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.
HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.
TRƯƠNG ĐĂNG DUNG Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.
ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).
NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.
LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.
NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.
AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.
TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!
PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.
THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm. VẠN HẠNH Thiền sư
HỒ THẾ HÀ Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.
LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết: Đào tiên đã bén tay phàm Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?
CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.
PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.
HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.
BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.
NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên - Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.