Thơ Sông Hương 9-2002

09:07 03/09/2008
Lê Tấn Quỳnh - Lê Viết Xuân - Nguyễn Sĩ Cứ - Nguyễn Thị Phước

LÊ TẤN QUỲNH

Cỏ hoang

Những con kiến mê mệt giấc mơ chín tái
Sau cửa sổ nhưng nhức gai
Miếng gỗ mục phù lên âm thanh lập bập
Trơ như chiếc then cài

Đó là căn phòng chùng chình thiên lương bò sát
Bần bật người đi sống áo mơ màng
Những đêm khuya vơ bàn chân dẫm đạp
Lên chiếc bóng dài vung vấy tro than

Đó là cơn gió không ngân ngất lên nữa
Xí xoá cơn say bằng giọt sương vàng
Là nơi tôi thiêm thiếp
Mơ mình buồn sau vách cỏ hoang

Đàn ông

Mưa vặn mình lép kẹp
Chợn rợn tận góc sông
Thuyền về. Em ngược gió
Bến đá trơ mắt không

Cái nhìn bay phần phật
Lạc theo tà áo cong
Em giật từng khắc gió
Ném thành mặt đàn ông

Và tôi từ tôi

Những khung mặt dài như thời gian
Của bầy mối già
Gặm nhấm tôi qua khe cửa trật khớp
Từ sự no nê của cái sững người

Và tôi từ tôi
Bạc
Như một cơn mưa đã buốt...

LÊ VIẾT XUÂN

Mỹ sơn

Đi trong mưa bụi tháng ba
Đường vào thánh địa như xa, như gần
Cầu treo một thoáng dừng chân
Dường như nước chảy tần ngần điều chi
Đường vui xuôi ngược xe đi
Xe thì áo đỏ, người thì hoá trang
Một vùng đồi núi miên man
Em và anh với tháp Chàm... còn đây!
Loanh quanh với tháp và cây
Người xưa cùng với người nay kiếm tìm.
                              Mỹ sơn, tháng 3 năm 2002

NGUYỄN SĨ CỨ

Cuộc phù thế

 
Những thứ để say thì không được uống
Cà phê ơi ta thức đêm nay
Mảnh trăng muộn đã rớt vào xó núi
Đám tinh vân phờ phạc sau lùm mây

Ta cùng thức với bao la vũ trụ
Với quả tim không ngủ đập rộn ràng
Mắt nhắm lại mà không sao chợp mắt
Những phập phồng vô nghĩa cứ khua vang

Thèm một tiếng côn trùng trong đám cỏ                                           
Một tiếng gà dựng ngược mặt trời lên
Cuộc phù thế chỉ như là đám bụi
Rồi cũng ba thước đất dưới cỏ mềm
                                (Viết trong những ngày không uống được rượu)

Hoàn Lão

Thanh tân thế sao gọi là Hoàn Lão
Nắng ban mai chồi biếc lấp lay
Nhà mới dựng sắc hồng xanh đỏ
Màu áo em lẫn với màu mây
Ta đứng tuổi những mong trẻ lại
Để cùng em Hoàn Lão một ngày...


Tây Bắc

Lên Tây Bắc
Ngực chạm vào mây núi
Khèn Mèo rung thung sương chơi vơi

Lên Tây Bắc
Núi cao, vực thẳm
Váy Mèo phơi khuyết nửa mặt trời.

NGUYỄN THỊ PHƯỚC

Gửi Huế

Chẳng có gì - sao như là đã Huế
Sao như là mất ngủ với Hương Giang?
Thôi, xin bạn để tôi về không nợ
Đừng bắt tôi có lỗi với con đường!
                                    Đêm sông Dinh, tháng 4/2002

(nguồn: TCSH số 163 - 09 - 2002)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất

  • Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác

  • Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy

  • Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh

  • HỒNG NHUChiếc tàu cau                        (Trích)

  • Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật

  • LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.

  • LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…

  • Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.

  • L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.

  • Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)

  • Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.

  • ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi

  • Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh

  • PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà