Từ Quốc Hoài - Đỗ Quý Bông - Trần Hậu - Trinh Đường - Phương Hoài Ngọc - Ngô Cang - Hồ Ngọc Chương - Lê Thái Sơn - Nguyễn Sĩ Cứ - Phạm Như Hải
Phác thảo “Tượng đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc” - tác giả: Phạm Văn Hạng
TỪ QUỐC HOÀI
Tổ quốc
Tổ quốc có thể
là những cột mốc lẫn giữa cỏ xanh lũng sâu non cao
như chiếc đinh thấm máu cắm vào ký ức
tổ quốc có thể là bóng tối
che chở con tim trước móng vuốt kẻ thù
tổ quốc có thể đã vỡ
cùng giọt nước mắt
để lại hiện ra cô tiên, ông bụt, bóng cây đa làng...
tổ quốc có thể là những ông hoàng hào hoa
dư bạc vàng thu góp vẻ đẹp và các món trinh tiết
lẵng nhẵng như mảnh lương tâm tấy buốt
tổ quốc là kho châu báu
đêm đêm lung linh cả trời sao
những ngôi sao mang bản mệnh con người
sẽ mãi còn thắp sáng
anh vớt từ dòng thời gian
bao niềm hi vọng
to tát hoặc nhỏ nhoi...
và đặt chúng vào những bàn giấy thường bụi bặm
những niềm hi vọng,
có thể nẩy mầm từ đất đai
và được mai táng giữa trái tim người
cuộc sống còn dữ dằn hơn cả dòng thác
mặc cho ta bỡn đùa!
và chính bàn tay bé nhỏ của chúng ta
có thể nâng cao hoặc dìm tổ quốc.
ĐỖ QUÝ BÔNG
Đêm dạ hội
Đêm hội nghiêng về cây pháo bông
đang lửa
lửa chia tay chính mình thành dăm bảy sắc
bay là là
ngang dọc
vút lên
vút lên
thăng hoa
hóa chất.
Hồng hào
ngây ngất
gương mặt đêm mới giòn tươi
cây pháo bông sinh sôi
những chùm hoa nở không từ đất
vũ hội trên cao không lời.
Tôi ngước lên xem cảnh đẹp tuyệt vời
gặp những tàn lửa
rơi
rơi
về phía sau đêm dạ hội.
TRẦN HẬU
Không tiếc nữa
Không tiếc nữa những gì đã mất,
Lòng giờ đây như một cánh đồng chiều,
Trơ gốc rạ ruộng nhà ai mới gặt,
Và bầu trời soi đáy nước trong veo.
Không tiếc nữa những người đã gặp,
Rồi ra đi không để lại bóng hình!
Thôi cũng ví như ta cầm chiếc cốc,
Lỡ buông tay rơi vỡ tan tành!
Thôi chẳng tiếc những ngày xanh uổng phí,
Ngày đang trôi trong khắc khoải đợi chờ,
Nhưng chỉ tiếc đến giờ em vẫn thế,
Như một người ngoài cuộc, sống trong mơ!
1989
TRINH ĐƯỜNG
Ngẫu bút
Lấy đất sét nơi nào
đều nặn thành ông táo
Món chay này giống như giò chả
món chay kia nhại hình cá hình chim
Tuần chay tịnh mong Phật Trời cứu khổ
Lại tràn đầy những ý nghĩ sát sinh
Khẩu súng mũi dao hay tờ giấy
cái nào đáng sợ hơn?
Quyền lực lớn lao của kẻ cầm quyền
là nhân ái chứ không là gươm súng
Tràng vỗ tay như pháo nổ kéo dài
nhưng được mấy người thực lòng tán thưởng
Em làm chi dòng sông
cho núi anh mong ngóng
em nổi chi làn sóng
cho thuyền anh đắm chìm
Ai bảo sông Hồng không chảy đến sông Hương
khi trong kia mây cứ đứng đầu non
mà ngoài này tôi tìm ai trong nước đỏ
(Rút trong tập Hội hóa trang sắp xuất bản)
PHƯƠNG HOÀI NGỌC
Cái bóng
Cái bóng ở trong em không phải là của anh
Cái bóng ở trong anh, lại là của em
Cái bóng của anh hóa thành giấc mơ đêm
Những thế giới huyền diệu từ đó sinh thành
Anh xin dâng hết cho em làm Nữ chúa
Ôi nữ chúa cai trị một linh hồn
Hãy vĩnh viễn ngự tim vàng mãi cô đơn
Dù chẳng bao giờ được em biết đến nữa
Anh âm thầm làm thần dân của riêng em.
Nha Trang 1992
NGÔ CANG
Hẹn về mùa gặt
Anh hẹn mãi mà chưa về gặt
Em còn bí mật lưỡi liềm trăng
Ngày nhật thực và đêm nguyệt thực
Em ửng hồng chưa hết bâng khuâng
Em vút giọng hò đêm đập lúa
Cầu vồng mống cụt rước mưa giông
Nơi ấy miếng gừng thương dĩa muối
Ân tình khúc hát một dòng sông
Nơi ấy mẹ già thân áo nối
Hai sương một nắng nặng vai gầy
Nơi ấy nhịp chày thương lòng cối
Sàng qua giần lại lọt sưa dày
Anh hẹn mãi mà chưa về gặt
Bây giờ lúa chín trải đầy sân
Có lẽ mùa này anh về thật
Cùng em cứa ngọt lưỡi liềm trăng
1992
HỒ NGỌC CHƯƠNG
Hoa gạo
Ngang trời hoa gạo nở
Bao mùa hạ đi qua
Chiều rưng rưng sắc đỏ
Ngỡ mình nơi quê nhà
Ôi bông hoa tuổi nhỏ
Như má hồng em tôi
Bao năm rồi xa cách
Thoắt quá nửa cuộc đời
Gió lay hoa gạo rụng
Bên lối cỏ xanh rờn
Để lại cành trơ trụi
Và nỗi buồn cô đơn
Hoa tàn rồi hoa nở
Thời gian trôi cứ trôi
Thu về rồi đông lại
Hoa nói gì với tôi?...
LÊ THÁI SƠN
Mai em đi họ nội
Em đi họ nội, ngày mai
Mẹ và các chị đêm nay thức chờ
Em tôi tám tuổi dại khờ
Ăn chưa nên đọi, nói chưa nên lời
Thương em trai, tuổi ăn chơi
Biết ai kẻ dưới, ai người bậc trên
Đêm nay em tập cho quen
Để mai khấn vái tổ tiên ông bà
Mẹ lo nồi nếp, con gà
Chị sắm bánh pháo, cành hoa, cơi trầu
Dạy em lời thỉnh, lời cầu
Khi quỳ gối, lúc cúi đầu, chắp tay
Rượu, trà em chớ rót đầy
Hương đừng thắp chẵn, trầu bày lưng cơi
Đèn thờ, khơi nhỏ ngọn thôi
Thơ ngây tám tuổi, em tôi biết gì
Ngày mai họ nội, em đi
Mẹ và các chị thức vì... ngày mai.
1-1-1992
NGUYỄN SĨ CỨ
Không đề
Trong thảo cầm viên nghe con vượn hót
Rừng già thơm như ruột rừng già
Trong cũi sắt miếng chua hóa ngọt
Đây chốn vượn nhầm... hay chính ta?
PHẠM NHƯ HẢI
Thước dây
Ước gì tôi hóa thước dây
Trải ra đo hết tháng ngày nhân gian
Nghĩa tình là chuyến đò ngang
Đo bao nhiêu, bến lại càng mãi xa
Thăng trầm câu hát dân ca
Ai cầm câu cuối để mà đo đây?
Bề cao là cái bắt tay
Bề dày là những tháng ngày xa nhau
Cuộn vào hụt hẫng trước sau
Trải ra giăng mắc nông sâu một đời...
Hà Nội 1-1992
(TCSH51/09&10-1992)
Tải mã QRCode
Nguyễn Xuân Sanh - Trần Mạnh Hảo - Ý Nhi - Võ Văn Trực - Văn Tăng - Trần Hải Sâm - Thúc Hoàng - Quốc Minh - Trần Hữu Lục
Trần Trình Lãm - Châu Thu Hà - Nguyễn Tiến Chủng - Trịnh Hải Yến - Khaly Chàm - Nguyễn Quang Hưng - Huỳnh Ngọc Lan - Đông Hương
LTS: Phan Duy nhân là bút hiệu của một nhà thơ quen biết với bạn đọc trẻ miền Nam từ đầu những năm 60. Tên thật là Phan Chánh Dinh sinh năm 1941 quê xã Triệu Thượng, huyện Triệu Hải, Bình Trị Thiên, trưởng thành trong phong trào đấu tranh yêu nước của sinh viên Huế. “Thư gửi các bạn sinh viên” của anh in ở tuần báo Sinh viên Huế năm 1964 có thể xem là bài thơ mở đầu cho dòng thơ ca tranh đấu của tuổi trẻ đô thị miền Nam trong tù (Côn Đảo 1968-1973) và sau ngày giải phóng Phan Duy Nhân vẫn tiếp tục sáng tác, dù ít xuất hiện trên báo chí.
LTS: Hoàng Vũ Thuật, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam sinh năm 1945 ở Lệ Ninh - Bình Trị Thiên. Xuất thân là một giáo viên, sau chuyển qua làm công tác văn nghệ. Bạn đọc đã quen tên anh trên các mặt báo, tạp chí Trung ương và địa phương. Tập thơ “Những bông hoa trên cát” xuất bản 1980 đã khẳng định bước đi ban đầu khá vững tay của anh.
THANH THẢOKhối vuông ru-bích
Lý Hoài Xuân - Nguyễn Loan - Trương Kiến Giang - Xuân Diệu - Chế Lan Viên - Nguyễn Hới Thọ - Nguyễn Hoa - Nguyễn Hữu Quý - Dương Toàn Thắng
ĐINH CƯỜNGCào lá ngoài sân đêm
Đức Sơn - Nguyễn Trường - Phan Lệ Dung - Nguyễn Đông Nhật - Kiêm Thêm - Nhất Lâm - Nguyễn Man Kim - Phạm Thị Điểm
LÊ THỊ KIM
Thu Bồn - Nguyễn Duy - Ngô Thế Oanh - Nguyễn Thụy Kha - Thế Dũng - Đỗ Văn Khoái - Mai Văn Hoan
NGUYỄN NGỌC PHÚBuổi sáng
LƯU QUANG VŨ...Và anh tồn tại
LƯU TRỌNG LƯCó những vườn
NGUYỄN VĂN DINHCây Huế Trong vườn Bác
Văn Lợi - Tôn Nữ Thu Thủy - Võ Quê - Phạm Hữu Xướng
LTS: Trần Thị Hiền sinh ngày 4-9-1955 tại Bình Trị Thiên. Chị là cây bút nữ có nhiều triển vọng. Thơ Trần Thị Hiền hồn hậu, trong sáng, tinh tế. Chị là người viết nhiều về đề tài lâm nghiệp. Trong hai cuộc thi của Bộ lâm nghiệp, Trần Thị Hiền hai lần được trao giải thưởng.
LÊ VĂN NGĂNNgười phu xe, từ biệt
TRỊNH QUANG QUỲNHBài thơ người tìm hạt giống
Huy Cận - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Trọng Tạo - Trần Hải Sâm - Lâm Hồng Tú
TRINH ĐƯỜNG