Ảnh: internet
TẾ HANH Giấc mộng xuân Trở lại Huế, đêm đầu tiên Chiêm bao lại thấy gặp em thế này! Mười lăm, mười tám thơ ngây Mắt đầy cả nắng, hồn đầy cả trăng Con đường đi học sương giăng Lung linh hoa phượng kết bằng lưu ly Lòng như tiếng sóng rầm rì Còn thơ trong giấy nói gì yêu đương Diệu kỳ thay giấc mộng xuân Bốn mươi năm lẻ đã ngừng không trôi? Hay đôi bạn trẻ ngoài đời Gặp nhau trong giấc mơ tôi tình cờ? Cảm ơn thành phố tuổi thơ Cho tôi sống lại một giờ xưa xa Từ đây: cùng với thơ ca Tình yêu, tuổi trẻ không già trong tôi. Xuân 85 HOÀNG VŨ THUẬT Cổ tích Hội An Con đường cong một cánh cung đầy Ta xưa cũ như là huyền thoại Như là em đó với anh đây Vòm trời lả say trên mái cổ Chú chuồn chuồn chấm một dấu son Ai đính tuổi thơ ta lên đó? Chùa Cầu bóng in dưới nước Dưới nước gương mặt hiện lên Ta bền lâu trong cổ tích Em rất gần lại rất xa xôi Thật đến thế cho một lung linh thế Như tiếng chuông chiều Phước Kiến rơi Những lá buồm thôi không bay nữa Đã nhập vào những áng mây qua Và tiếng sóng của con sông cổ Đang nhập vào hai ta… Thị xã Hội An 25 tháng Mười Huế 1-11-1984 NGUYỄN KHẮC MAI Miền đất tuổi thơ Trong tất cả những nơi tôi đã qua Chỉ miền đất tuổi thơ là đẹp. Bởi một lẽ tôi đã đi xa, Sâu vào những tháng ngày khôn lớn. Miền đất ấy không thể gì sánh nổi Mà ánh sáng cũng vào hùa bè bạn, Từ chiếc gương con đùa giỡn chú mèo. Một mảnh chiếu với những chiếc ghế gỗ, Đủ thành con tàu và những nhà ga. Bước xuống tàu đã có con ngựa nhỏ, Bờm lông vàng như một tàu cau. Con ngựa chiến tung một làn bụi mỏng, Phi dọc ngang chinh phục góc vườn. Rút kiếm đấu với con rồng dữ, Bắt nó phải đứng im hàng phục, Thành hàng rào chè tàu thẳng xanh. Ở góc vườn có cây khế ngọt, Vẫn trông chờ một cánh đại bàng. Khu vườn ấy là khu vườn cổ tích Nay chỉ còn như kỷ niệm mơ màng, Miền đất ấy bầy chim và lũ kiến, Nõn tầm xuân và nụ ổi non, Như tất cả đều có tâm hồn, Để sống với con người hòa nhịp. Xin cho tuổi thơ một miền đất đẹp, Thành mai sau thế giới huy hoàng. Praha 3-84 TUYẾT NGA Chốn sen lên Tặng N. và X. Nón trắng bay Con đường đầy hoa nắng Những ngôi nhà Như những nụ cười ẩn sau giàn ti gôn Mái chùa cong rẽ lối vào lặng im Đại nội trầm tư Thời gian khẽ khàng nhón gót Sông xa như buổi mai loáng ướt Thuyền ai đang vừa trôi vừa mơ Muộn về nhưng cũng đã tới nơi Em đi Con đường không còn “Mười tám tuổi” Hoa phượng vẫn bừng lên như tiếng gọi Ghi-ta bập bùng Áo trắng, nắng và thơ … Tháp nhà thờ chỉ ánh mắt về đâu Không ai biết nữa Ngang chợ Đông Ba, Tràng Tiền vươn cánh tay dài với Trái chín về như hạnh phúc đầy tay. Cách một con đèo là đến Huế thôi Là đến chốn Sen lên như sao mọc Nếu không có chiếc lá non kia khẽ chạm vào mái tóc Em đã nhầm Huế với ước mơ. 11-4-85 THÁI NGỌC SAN Bên kia căm thù Vĩnh Quang Không chỉ có 62 người chết ở nơi đây (1) Không chỉ có nhân dân Vĩnh Quang còn nhớ Và nếu không có cả bia khắc lên đá Tôi vẫn tin Như tôi đã tin Hàng ngàn năm sau những nhà khảo cổ Vẫn tìm ra di chỉ… Như tôi đã tin Biển dưới chân Muôn đời sóng vẫn vỗ Và dưới những tầng đất đỏ Giọt máu vẫn sục sôi Không ai muốn nhắc hoài đến tội ác Như ruộng muối ngoài mũi kia không muốn nhắc đến mùa gió rét Như thuyền chài không muốn nhắc đến những trận giông tố ngoài khơi Nhưng để cho tội ác không thể lập lại trong cuộc đời Chúng ta vẫn phải nhắc lại Và khắc căm thù lên vách núi. Cửa Tùng 6-1985 ---------- (1) Ngày 20-6-67, 62 bà con xã Vĩnh Quang, Bến Hải (Vĩnh Linh cũ) đã bị bọn Mỹ sát hại chôn vùi trong vách núi Cửa Tùng. ĐẶNG THỊ KIM LIÊN Bài thơ có cánh (Mến tặng xí nghiệp gia cầm Đồng Hới) Ngôi nhà lặng yên chờ đợi Sim tím bâng khuâng lưng đồi Trứng hồng như hoa huệ trắng Ngập ngừng ngọn gió chao nôi Mầm sống hẹn ngày hẹn tháng Tuần trăng lại mọc gà ơi! Trứng tròn xôn xao ánh sáng Bài thơ em mới ươm chồi Thời gian nén lòng hồi hộp Trứng hồng tròn đầy ước mơ Âm thanh ríu ra ríu rít Bài thơ em nở nụ cười. Trứng vỡ làm đôi vầng sáng Cánh cửa đón bước gà con Óng mượt như màu bóng nắng Rung rinh ngọn gió bên đồi Em nâng từng hơi thở nóng Như bàn tay mẹ chăm con Ngôn ngữ bài thơ sôi động Ai viết nên lời reo vui Máy ấp giang đôi cánh rộng Cho em bàn tay thần kỳ Hơi ấm hẹn ngày sinh nở Bài thơ có cánh bay đi. 3-1985 TRẦN VẠN GIẢ Ở núi Tặng T.N.S Thoáng đã mười năm xa ở núi Chân tình xin lỗi với miền xuôi Ba mươi chín tuổi đâu già lắm Núi vẫn quanh đời nên cứ vui Sống hết đời mình bên dáng núi Đừng xa nhau xa sẽ bùi ngùi Cuốc đất đêm về thơ cứ đến Dễ gì xa núi để về xuôi Lòng dạ đã là trăm sông suối Để cùng mạch sống chảy không nguôi Có được ngọn rau nhờ tấc đất Thương người nương rẫy chắt chiu nuôi Mười năm gian khó đâu hồ dễ Nhờ núi cho mình những đam mê Đừng tưởng gặp nhau lòng thấy biển Bởi vì núi lạ đã thành quê. HUỲNH DUY Ngày mai xuân đến (Kính tặng liệt sĩ Đinh Như Cựu và đội an ninh - CA huyện Hương Phú) Chiều hôm ấy chia tay đồng đội Các anh đi, mưa đan lưới lưng đồi Nhìn cánh mai vàng, rung rinh trước ngõ Chợt nhớ ra: Tết đã đến rồi. Mẹ bảo con sửa lại chiếc lư hương Anh dặn em nhớ mua cúc Đà Lạt Nhà đầu xóm hương trầm thơm ngan ngát Trẻ tung tăng, khoe áo mẹ vừa may. Các anh quây quần “ăn tết” chiều nay: Thuốc cuộn, lương khô vui vầy ra phết Để đúng giao thừa đêm ba mươi tết. Vào trận rồi không có dịp chúc nhau. Cơn mưa rừng đã tạnh từ lâu Đêm lạnh lẽo chìm sâu vào khuya vắng Chỉ còn các anh - những chiến sĩ an ninh thầm lặng Đêm nay, thao thức với rừng. Tiếng gà xa đã gáy sang canh Con “rắn độc” mới trở về hang ổ. Lệnh truyền nhau bằng những viên sỏi nhỏ. Hắn đến rồi! - Tất cả xung phong! Đêm giao thừa ai có hiểu chăng Trận chiến đấu ở nơi này không chiến tuyến Máu đã đổ, vì ngày mai xuân đến Pháo nổ dòn và trẻ hát tung tăng. Phú Sơn đêm giao thừa Tết Ất Sửu - 1985 (14/8-85) |
Tải mã QRCode
Trần Hoàng Phố - Vũ Thị Khương - Trần Hữu Lục - Lê Tấn Quỳnh - Bùi Đức Vinh - Nguyễn Công Bình - Ngô Cang - Văn Lợi - Hà Huy Hoàng - Nguyễn Ngọc Hạnh
Thần Đinh uy nghiêm kiêu dũngThanh tao tạc dáng bên trờiĐế vương ngầm ghen thế núiVung roi phạt BÁT NGHĨA SƠN...
Họ và tên đầy đủ: Nguyễn Công Nam - Sinh 1953Bút danh: Công NamQuê: Hùng Tiến - Nam Đàn - Nghệ AnLà hội viên HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT HẢI PHÒNGTác phẩm đã xuất bản: - TIẾNG VỌNG ĐÊM MƯA -Thơ (NXB Hải Phòng). - Giải thưởng cuộc thi thơ 2001 - 2003 của TCSH.
Trên bầu trời, một vì sao đỏ chóiRót ánh sáng vào tháng ngày hấp hốiMáu sao rơiGiọt lịm lưng thềmCây nến tim tôi bùng cháy...
Nguyễn Sĩ Cứ - Võ Thị Hồng Tơ - Hoàng Cầm - Đào Duy Anh - Hoàng Ly Thạch Thảo - Võ Văn Luyến - Phạm Duy Tân
Tên khai sinh: Vương Oanh NhiSinh năm 1947 tại Hải Phòng.Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam .Học viên khoá IV Trường viết văn Nguyễn DuTác phẩm chính: + Lối nhỏ (1988) + Bài mẫu giáo sáng thế(1993)
CHÂU NHONăm 1968 tại mặt trận biên giới Việt - Lào, trung đội chúng tôi sau 3 ngày quần nhau với địch, 3 đồng chí hy sinh và trung đội trưởng bị thương nặng. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, đêm đó trung đội trưởng đã “nói chuyện với người yêu” trong cơn mê sảng. Xúc động trước tình cảm đó, tôi đã chuyển lời của người liệt sĩ thành bài thơ gửi về cho người yêu của anh ở hậu phương là cô Lê Thị Ánh, giáo viên cấp I ở một bản thuộc huyện Quế Phong, Nghệ An.
Hà Duyên - Nguyễn Thụy Kha - Nguyễn Thanh Văn - Nguyễn Văn Quang - Phạm Xuân Dũng - Lê Tuấn Lộc - Hồng Thị Vinh
Phạm Tấn Hầu - Lê Ngã Lễ - Lương Ngọc An - Lê Bá Thự - Phạm Thị Anh Nga - Đoàn Mạnh Phương - Trịnh Văn - Nhất Lâm - Hoàng Lê Ân.
NGUYỄN VĂN DINHCâu thơ BácThuở chăn đơn Bác đắp trong hangỐc suối, cơm ngô, nõn chuối ngànThơ Người vẫn viết cho ta đọc"Cuộc đời cách mạng thật là sang".
Nguyễn Trọng Tạo - Diệp Minh Luyện - Nguyễn Việt Tư - Lê Viết Xuân - Trần Lan Vinh - Mai Văn Phấn
Trương Đăng Dung - Văn Công Hùng - Nguyễn Thụy Kha - Văn Công Toàn - Vĩnh Nguyên - Phan Tường Hy
Vũ Thị Huyền - Công Nam - Nguyễn Cảnh Tuấn - Đặng Hiển - Trần Đôn - Nguyễn Văn Hùng - Nguyễn Thị Thái
LTS: Binh đoàn Hương Giang thành lập ngày 17.4.1974, mang tên dòng sông thơ mộng. Sau khi giải phóng Huế, Binh đoàn tham gia chiến dịch thống nhất Tổ quốc, tiến thẳng vào Dinh Độc Lập ngày 30.4.1975. Sống lại những ngày tháng oai hùng đó, Nguyễn Trọng Bính, một sỹ quan của Binh đoàn đã viết trường ca “Nhật ký dòng sông” năm 2008. Tác phẩm này vừa được Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam xếp loại xuất sắc trong đợt sơ kết Cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết, trường ca về đề tài Chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân 2006 - 2008. Dưới đây, Sông Hương xin giới thiệu cùng bạn đọc một trong số 11 chương của trường ca này.
CAO XUÂN THÁISinh năm: 1948 - Tại Vương quốc Thái LanVề nước năm 1960Quê quán: Hoa Lư - Ninh BìnhHội viên Hội Nhà văn Việt NamPhó Chủ tịch Hội VHNT Hà Giang - Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Hà Giang.
Nguyễn Đông Nhật - Chử Văn Long - Lê Hoàng Anh - Trịnh Lữ - Đào Trung Việt - Nguyễn Trần Thái - Nguyễn Thị Anh Đào - Nguyễn Loan - Nguyễn Văn Quang
Hải Trung - Văn Cầm Hải - Ngô Tự Lập - Nguyễn Tấn On - Phan Trung Thành - Trần Thị Thu Huề
Lê Ngọc Thuận - Từ Dạ Thảo - Đặng Hùng Thường - Tuệ Lam - Hoàng Thị Thiều Anh - Trần Tịnh Yên - Nguyễn Hoa - Nguyễn Thị Tân Hoa - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Thụy Kha
Hữu Thỉnh - Lưu Ly - Đặng Nguyệt Anh - Sơn Thu - Trịnh Thanh Sơn - Nguyễn Xuân Sang - Văn Công Toàn - Nguyễn Ngọc Hưng - Nguyễn Thị Ngọc Hà - Nguyễn Thiền Nghi - Nguyễn Mẫn Cán - Lê Ngã Lễ - Mai Văn Hoan - Xuân Tùng - Lê Thị Mây - Lê Viết Xuân - Ngô Minh - Quang Huy - Thái Doãn Long - Hà Minh Đức - Sơn Đức - Tôn Nữ Thu Thuỷ - Lê Khánh Mai - Bùi Minh Quốc - Ngô Đức Tiến - Trương Quân - Trương Nam Hương - Đoàn Mạnh Phương - Nguyễn Sĩ Cứ - Thuý Nga - Lê Huy Quang - Hồ Thế Hà - Phạm Đình Ân - Trần Tâm - Hoàng Xuân Thảo
Thục Linh - Ngân Vịnh - Nguyễn Ngọc Phú - Hoàng Bình Trọng - Tôn Phong