Trần Ngọc Hòa - Trần Thu Hà - Phan Trung Thành - Phan Văn Chương - Lò Duy Bưu
Tác phẩm "Ngũ Sắc" của HS Nguyễn Đình Dàng
TRẦN NGỌC HÒA
Mình cho em xin được sẻ chia
Phim tư liệu đã kết thúc rồi
Trường Sơn tuyến hậu cần huyền thoại
Mắt vẫn nhìn màn hình rưng rưng mãi
Mình ơi…
Mình nhớ đồng đội phải không?
Tiếng khóc vỡ òa bay trong thinh không
Bay về nơi những linh hồn có nhà mà chưa về được
Nơi có nỗi nhớ đong đưa trên từng chiếc lá rừng xanh mướt
Nơi lúc nào cũng sụt sùi một điều ước
Về bên mẹ bên cha.
Em nghe mình nhắc nhiều về những chuyến xe qua
Trường Sơn không có đêm
Chỉ có bom dội ầm ì, pháo sáng cào màn đêm rách xước
Sốt rét, bị thương, đói cơm... đoàn quân vẫn tiến về phía trước
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” là đây.
Mình hãy cứ khóc đi
Khóc cho bỏ nỗi tức tưởi bao ngày
Khóc người ăn búng báng thay cơm, sốt... chết
Khóc người chở lương khô chi viện chiến trường mà đói xanh xao vàng bệt
Khóc cô thanh niên xung phong tắt thở xẻng vẫn cầm tay.
Mốc hòa bình chỉ còn tính bằng mét/ bằng sải tay
Đoàn xe tiến vào Sài Gòn rầm rầm rộ rộ
Sợ bắn trúng dân - quen rừng - lạ phố
“Sắp được gặp mẹ rồi!”
Anh lính xe tăng nụ cười chưa kịp nở đã hy sinh.
Khóc đi
Dựa vào vai em đây này và hãy cứ khóc đi mình
Vết thương chiến tranh còn chạy lòng vòng trong cơ thể
Đồng đội/ nghĩa tình/ nỗi đau/ dâu bể
Mình cho em xin được sẻ chia...
TRẦN THU HÀ
Người đàn bà đi qua chiến tranh
Tiếng súng đã ngưng
Người đàn bà đi qua chiến tranh
Ngực căng, mắt cóng
Mòn tiếng ru - lưu đày giấc mơ làm mẹ - khứa vào lòng cay xé
Người đàn bà đi qua chiến tranh
Náu mình đếm niềm vui chờ tiếng kêu gọi mẹ
Những đứa bé…
Như giọt mưa axit lăn vào khóe mắt, chị nuốt đêm thoi thóp
Đời người vỡ giấc chiêm bao!
Người đàn bà đi qua chiến tranh
Tháng năm chị giặt là tấm áo nhân duyên chưa kịp mặc
Thời gian phừng phừng lửa cháy
Người đàn bà khỏa trăng tiếng rơi không chạm đáy
Đêm đêm tự vỗ sóng lòng
Người đàn bà đi qua chiến tranh
Rùng mình
Tẩy chay ngàn ngàn con ngươi lân tinh
Tự pha cho mình ly nước.
Đêm nay
Nhìn mảnh trăng treo làm trĩu ngực cánh đồng thiếu phụ
Chị cố nhớ khu rừng có nhiều hoa dại
Khi
Bóng tối đè lên
Ướt cả tiếng chim…
PHAN TRUNG THÀNH
Viết trước mùa Đông
Trở về
Sông vẫn sông xưa...
Mẹ mang áo ấm
Lên chùa tụng kinh
Đêm hôm làng xóm yên bình
Bố ngồi vót đũa
Truyền hình coi chơi
Tính xem mấy chục năm rồi
Mình đi đâu hỡi
Mình ngồi nơi đâu
Trở về không dám về lâu
Có ai đợi trước chờ sau
Không mình?
Bến đò Ca Cút còn linh
Cầu liền nhịp, sóng gọi tình đêm đêm
Bươi trăng lên động cát mềm
May ra gặp dấu chân em thuở nào...

PHAN VĂN CHƯƠNG
Còng gió và anh
Ngày lại ngày còng gió và anh
đo chiều dài của biển
chấm thuyền nâu khơi xa vàng lưới bạc gần bờ
cấp số cộng bàn chân gió bước
cộng ngày cộng tháng cộng năm
ngày lại ngày còng gió và anh
đo chiều rộng của biển
sóng trắng quá trải mình trắng quá
cấp số nhân thăm thẳm hoàng hôn
nhân ngày nhân tháng nhân năm
ngày lại ngày còng gió và anh
đo nông sâu của biển
triều ngập ngừng từng nhịp triều đi
váy chiều đăm đắm
bình phương ngày bình phương tháng bình phương năm
đo bây giờ đo tận mai sau
trong hơi thở nóng bừng trong eo lưng mặn nước
trong ánh nhìn biếc xanh trong rong rêu tóc xõa
lập phương trời
lập phương gió
lập phương mây
biển căng tròn sau mỗi vòng tay.
LÒ DUY BƯU
Từ ô cửa nhìn ra…
Khi màn đêm buông xuống
núi buồn bã, bóng đèn đong đưa chấp chới
hắt hiu từng giọt
lộp độp rơi xuống vườn khuya sóng sánh
từ ô cửa nhìn ra
là bao la bát ngát mây trời, với triệu vì sao lấp lánh
em nhớ anh chỉ mảnh trăng tình đơn côi mới hiểu
vụng về để lạc mất anh và rụng mất trăng
gió lao xao, lá xào xạc, anh ở đâu?
em mạo muội rời núi
ngây ngô kiếm tìm ở thành phố lạ
vắng anh, thiếu trăng mà đầy rẫy tòa nhà cao ốc
núi hoang dại, phố hiện đại, cô gái Đam Ri là em
ung dung dệt thổ cẩm bên ô cửa… nhưng
hoảng hốt nhìn ra tháng bảy đầy… mưa ngâu
từng hạt… ngân ngấn… giọt ngắn… giọt dài…
tháng bảy…
em…
mất anh & trăng… tự bao giờ?

(TCSH382/12-2020)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh