Thơ Sông Hương 11-2006

16:54 08/01/2009
Nguyễn Khoa Điềm - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Đông Nhật - Từ Nguyên Tĩnh - Lê Hưng Tiến

NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Anh đợi

Đến sớm một ngày
Vượt trước thôi đường
Cao hơn thói thường
Anh đợi

Đánh đổi một đời
Cuối đất cùng trời
Anh đợi

Anh tìm em
Từ cõi hư vô

Đến phiên chợ đời
Âm dương xanh thẳm
Thương nhớ bồi hồi
Anh đợi

Vứt hết sách vở
Hai tay trụi trần
Núi cao anh trèo
Sông sâu anh lội
Anh đi tìm em
Mây chiều bạc tóc
Thương nhớ lao lung
Một thời trận mạc
Một thời cấy trồng
Anh là hạt thóc
Em là cánh đồng
Gieo bao thương nhớ
Vẫn còn mênh mông

Còn chăng điều tốt
Trong cuộc đời này?
Còn bao nồng mặn
Em dành hai ta?
Ngàn năm, trăm năm
Anh mong, anh đợi

Một ngày xuôi tay
Đường xa, để lại
Anh còn ngoái lại
Những lời hôm qua:
               Anh đợi!
       Ngày 27.9.06

Cây vú sữa trước sân nhà

Mười lăm năm tuổi, chưa cho quả
Cây đứng ngoài sân bóng lẻ loi
Đêm qua mưa bão đen vườn cũ
Sáng dậy trên cao lá nói cười
                                      Sau bão Xangsane 3/10/2006


HOÀNG VŨ THUẬT

Hoàng An

ngấn sóng vòng tay biển để lại trên vai
để lại bóng hình thanh tân của gió
vụt hiện tan chảy mất hút

trải dài chữ S bãi cát Hoàng An

chẳng thể bắt níu những sợi tóc vào mùa không người tuốt gặt hái
anh cắt dán cánh đồng lên thân thể em
điêìu phối cơn mưa
vá víu vết thương cuối hạ

xứ sở hiếm mặt trời
chỉ thấy nụ cười kéo anh qua ngã tư đường
ánh nắng ló từ khuôn ngực
từ ân thanh tiếng Việt đa sắc
từ vầng trán đóng đinh bật máu môi anh

đó là ảo ảnh phía sau hiện thực

giờ thì anh trồng thêm gốc cây
thuộc loài bạch dương chờ đông sang phủ tuyết
nào có gì ổn định

rồi con sóng tiếp tục xô đổ anh
lúc anh là cát
những con sóng siêu hình lau sạch gương mặt cũ
như chén rượu đêm ấy
chặng cuối.
Mátxcơva, 12/8/2006

Viết dưới tượng Exênin

                                                    Tặng TS Nguyễn Huy Tuấn


hai người đàn ông thổi kèn
vừa thổi vừa nhảy
ngôn thanh tám mươi năm trước
vòng người cuộün thắt

ngực áo tháo tung
Exênin đứng mà đang chạy
dòng chữ bị săn đuổi

thơ làm được gì
thế kỷ của những thế kỷ
lốc xoáy ngang đầu
lớp lớp phế hưng gối chồng
nơi bức tường dày một mét

mắt Exênin đẫm nước
đôi mắt người đang yêu
rừng mọc dưới bờ mi
phập phồng hoa bồ công anh
phập phồng nụ hôn mãn nguyện

trang sách thở trên đá

nhưng sợi dây vẫn chờ lơ lửng
quanh cổ nhà thơ
thít dần thít dần
chầm chậm

tiếng kèn vỡ vụn
máu trào sau nụ hôn.
Mátxcơva, 13/7/2006


NGUYỄN ĐÔNG NHẬT


Bài hát


Đôi khi những tiếng động mơ hồ
chợt xuyên thấu trong tôi lặng lẽ
và trái tim run rẩy ngọn đèn
chầm chậm dâng lên lời ca mờ ảo.

Ở chặng đời này tôi muốn
 dừng chân
trước vô định con đường ngui ngút gió
là người dẫn trao, em đã hiện ra
trên giao tuyến giữa bầu trời - mặt đất.

Ôi những bài hát lấm nhọc nhằn và nước mắt
trên tay em chợt hoá êm đềm
trên tay em bóng tối và ánh sáng
    vẽ nên nhan sắc của lòng yêu.

Nơi mắt em những giấc mơ
trôi giạt
tôi nhận ra bài hát của tôi
trong hình dạng đôi môi không tiếng nói
.
                                              31/10/2004

Khoảng nắng ấy

gương mặt em
thật rõ và mơ hồ
một màu xanh thẳm.

em nói
ngày mai em đã đi rồi.

tôi gọi em
vang trên đồi - tiếng gọi.

em chỉ còn là khoảng nắng mờ
tan dần theo tiếng ngân.

Vươn tới sự bất động

Trên khuôn mặt nhìn nghiêng của em
ngọn lửa khổ đau đã tắt. Một hơi ấm xa lạ
len vào máu tôi, như giọng thầm
kêu gọi mùa giông tố bình yên
nơi con người thực phải đi đến.

Cao hơn nhiều bệ thờ, chiếc ghế em ngồi
treo bên ngoài trí nhớ,
chiếc ghế dính bùn, trang hoàng bằng cái chết
bằng những mánh sống lung linh.
Tôi ngước nhìn. Thăm thẳm đôi mắt kia
toả bóng như cuộc đời quặn thắt.

Thánh nữ là em, người bình thường
dường như gần - xa một hơi thở,
Hãy lắng biển gào trong tiếng trúc tơ
và an lặng của thời gian náo động.

Bóng chiều thẫm. Đôi tay em trắng mờ
bơi qua đêm tối đang đặc lại.
Tôi nhìn theo. Có thể bắt kịp không?
Gò má ai cao lên con sóng lớn.
14/2/2005


TỪ NGUYÊN TĨNH

Đọc thơ
                        
(Tặng nhà thơ N.N.P)

Người đọc thơ như xé vải
Phanh ngực ra cùng sóng đại dương
Nói những lời như sóng lưỡi búa
Bổ trên con thuyền lúc gặp nạn ngoài khơi

Sóng thì vẫn sầm sì tức giận
Mắt nhắm nghiền không nhận ra người nghe
Anh tưởng họ khổ đau dằn vặt
Hay trái tim trong ngực hầm hè

Người đọc thơ
Lột hết quần áo ra
Bơi trong núm ruột của mẹ mình quăng xuống biển
Chín tháng mười ngày mọc lên một đảo hoang
Thành đứa con mồ côi
Đêm ngày nhớ đất liền than khóc
Hởi chàng trai con của biển kia ơi
Mỗi lần đi biển là mỗi lần quì lạy
Mong thuỷ thần đừng bắt đi làm con nuôi
Này chàng trai thi sĩ kia ơi!
Đọc thơ như khóc cùng biển cả
Cúi gằm than cùng thuỷ thần
Bao giờ không còn âu sầu, lo lắng vì sự tầm thường
 lầm than của nhân thế
Hãy ngẩng mặt nhìn lên

Nhưng chắc chẳng bao giờ
Mà sóng biển thì không ngừng tung lưỡi búa
Trên con thuyền định mệnh ra khơi

Bản thảo

Người nhận bản thảo của toà soạn có nét mặt buồn
Đó là lúc nhìn nghiêng
Đưa lưỡi kéo cắt phong bì: - một giây im lặng nhìn tên người gửi
Nhìn thẳng thì nét mặt lại trịnh trọng
Hai bàn tay như dâng lên đọc lướt từng câu văn,
                           hay bài thơ vừa mới nhận
Tay vuốt cho phẳng phiu và ghi vào sổ đầu bài

Cũng có lúc vô tình hay cố ý thở dài
Thương cho người viết hay người đọc mà đăm chiêu
Ra điều
Lo lắng
Gấp cuốn sổ lại âu sầu rầu rĩ
Mái tóc đen
Khuôn mặt đen
Cau mày
Trang văn này, bài thơ kia...
Ngày mai về đâu?
Ngày mai...ai cứu vớt linh hồn hay đẩy người ta vào ảo vọng?
Mà đời thì cần phải sống
Qua ngày
Và lại cần thực và mơ.

Tôi một người cày cuốc trên trang giấy,
Đen và trắng, thô và mịn màng
Từung nín thở chờ người nhận bài ghi vào sổ tên mình
Tôi chờ đợi
Chờ đợi và chờ đợi...
Tên mình được chương lên tờ báo tinh khôi
Nhưng nhiều lần thất vọng
Vì tên mình không đến được chân trời

Khi bản thảo bị loại ra rồi
Tiếc một điều giấy ấy không làm được vàng mã
Đốt lên ngọn lửa cho gọi âm hồn con chữ bay lên.


LÊ HƯNG TIẾN

Thời vụ

Bỏ vào khoảng trống
Mấy vụ mùa thu mảy may hạt
Ít ỏi phù sa

Trên cánh đồng triển hạn
Ai đó cày xới lên sâu thẳm
Làm con chuồn chuồn đói những vầng thơ

Khi đường bay lấm tấm vào sợi mưa
Ký ức bốc hơi về đỉnh núi
Ai đó cũ cái hồn nhiên và cái riêng tư

Những cái gọi trong thao thác
Làm hư hao từng mớ cơ thể
Trái tim rong ruổi làm đủ ưu phiền

Bỏ vào khoảng trống
Tháng ngày qua lỏng chỏng đôi vai cày
Vụ mùa thơ gầy guộc giống

Ném mồ hôi từ sóng mắt
Chiều vật vã cho hồn chữ cày cấy
Vụu mùa thơ chồi lên tư lự

Bỏ vào khoảng trống
Bỏ vào khoảng trống

Con tàu định mệnh

Cảm thức sau con mắt
Lội ngược về dòng sông
Đôi khi biên độ vẫn là mỏng mảnh vô biên
Định mệnh con tàu lại giăng võng mạc lên cao
Theo tiếp tuyến thì não bộ cũng bắt đầu chao đảo
Vô thức lại nảy nở sinh tồn
Các thực thể trở về như một giấc mơ

Từ đó
Cảm thức sau con mắt
Lại lội ngược về nguồn cội
Vết đau vẫn nằm thinh trong bóng tối
Thời gian như thể hoá mình thành dòng sông
                                                              cuốn theo các tia tử ngoại

Đến lúc con mắt nổi cộm lên những lốm đốm màu đỏ đỏ
Cảm thức lại bất chợt vỡ oà trên con tàu định mệnh
Và một lần nữa
Vô thức lại bắt đầu nảy nở sinh tồn
Các thực thể trở về như một giấc mơ

(nguồn: TCSH số 213 - 11 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất

  • Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác

  • Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy

  • Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh

  • HỒNG NHUChiếc tàu cau                        (Trích)

  • Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật

  • LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.

  • LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…

  • Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.

  • L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.

  • Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)

  • Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.

  • ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi

  • Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh

  • PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà