Nguyễn Ngọc Hạnh - Trần Văn Thiên - Trương Quốc Toàn - Đức Sơn
Tác phẩm "Hoa Ngô Đồng" của HS Lại Thanh Dũng
NGUYỄN NGỌC HẠNH
Chỗ mẹ nằm
gửi lại em chỗ ướt mẹ nằm
gửi ngọn gió lùa kẽ phên đêm trở dạ
giá rét trên từng manh chiếu vá
mẹ chừa bên ráo để con lăn
gửi lại em đời mẹ chênh vênh
héo hon cả thời thiếu nữ
đi biển một mình đêm sóng dữ
cho con lành lặn giấc mơ
gửi lại em anh của bây giờ
còn hơi ấm chiếu chăn ngày ấy
nơi mẹ nằm yêu thương đến vậy
nên suốt đời chỗ ướt vẫn chưa khô
mẹ nằm đây giữa núi non cao
rừng đã khép một đời giông tố
chiều tháng ba trời đầy gió bão
chỗ mẹ nằm sũng ướt mưa rơi
gửi lại em câu hát à ơi
bên ráo con nằm ướt đằm tình mẹ
hơi ấm từ trong tim lặng lẽ
cứ lịm dần vào thịt da em
TRẦN VĂN THIÊN
Sớm mai trong nhà mẹ…
Gà gáy râm ran mảnh vườn ngủ muộn
Mẹ trở mình thức dậy trời chưa tỏ mặt người
Trong thinh vắng, tiếng vạt giường cũng trở mình cót két
Gối bông gòn lầm lũi một giấc mơ
Tí tách củi reo gọi tia nắng đầu ngày
Nước mẹ đun trên lò kêu ấm
Chiếc bình thủy cũ xưa rót một đời tần tảo
Bóng mẹ in mòn bức vách lem nhem
Đêm qua có cơn mưa rơi lạc vào giấc ngủ
Ngõ nhà thấm mưa nhão thành đất sét
Con về nặn lại chiếc xe tăng, trái cà, trái dưa mang hình hài thơ ấu
Cả đời con vẫn là đứa trẻ
Tập nặn hoài những viễn ước mông lung
Gian bếp ấm quẩn quanh ngọn khói già
Mùi nước mắm còn vương trên những sợi tóc bết
Con là đốm lửa nhỏ mẹ nhen lên bằng một đời chi chút
Mẹ neo lại bóng mình bằng ánh lửa liu riu...
Mẹ ơi,
Có chuyến tàu nào trong đời,
con đợi mong hơn chuyến tàu đưa con về với mẹ
Thời gian dẫu chẳng hình hài
Vẫn để lại trên tóc người những dấu vết xót xa...
TRƯƠNG QUỐC TOÀN
Thủ thỉ cùng tháp đôi
Bàng bạc những lọn khói trầm
Mang dấu hỏi tôi ngược dòng thế kỷ
Những phù điêu thoát xác theo tiếng kèn Saranai
Tượng thần trầm tư len lén nụ cười hiền
Có thể nào giải tỏa giùm tôi những ẩn ức
Vẫn ngày đêm thao thức
Chực trào trong lòng ngực
Vì sao
Những cuồng si đi qua
Để lại khoảng trời xanh yêu thương giữa hai đầu đỉnh tháp
Ngọn lửa đam mê tưởng chẳng còn âm ỉ cháy
Tháp vẫn choàng vai như buổi yêu đầu?
Có những lúc
Một mình tôi trước tháp
Ghen hờn vu vơ
Khi mình không thể
Cầm tay ai đi hết một phần đời
Giữa chơi vơi với tay chạm vào thớ trầm tích cổ
Buông vào hư không
Những lời van vỉ
Chất liệu nào những viên gạch gắn kết như sam
Cho một ít tôi hàn bao đổ vỡ
Có thể nào nguyên sơ như bản thể ban đầu
Những ánh mắt nào chìm vào đêm sâu
Hun hút miên trường lịch sử
Vọng về tôi những thanh âm
Tiếng đàn, tiếng kèn, tiếng trống dập dồn không nhịp phách
ĐỨC SƠN
Ngôi trường làng mang tên Nhà Thơ
Như đàn chim về đậu sân trường
Đụn cát và gió gió
Bên đưa thơm mùi nước lợ
Ngôi trường mang tên Nhà Thơ(*)
Mãi xanh như hàng dương lùa trời nước
Cho hạt giống mùa màng
Trường ơi! Thân thiết yêu trường
Đẹp vần thơ - nhà thơ kháng chiến
Sớm gió biển mặn môi
Tình mẹ phá Tam Giang
Đầy đặn lo toan
Mong ngày, đưa bước chân con tới học hành
Bãi cát vờn dài vi vu mềm mại
Bức tranh ngôi trường chúng em
Sắc màu tươi rộn rã
Đầm phá chân sóng
Nẻo đường cát vàng nắm tay bạn bè
Chốn bùn đất khoai sắn
Chốn sóng chảy về tinh hoa thơ và đất nước
Chốn con cá, con tôm tự do quẫy vùng
Chốn ngọt bùi con đường mới sau cuộc chiến
Chốn ngây thơ và lớn khôn thành người
Trường em bên rực rỡ dựng xây
Cuộc đời liền con nước
Chảy ra cửa biển
Trường ơi!
Ngói đỏ tươi màu
Rộng chào
Đi trong tươi xanh
Cùng câu thơ, có nơi nào đẹp trong veo
Tuổi của em
Dỡn sóng xô bờ đầm phá
Chuốc du dương đón bình minh…
Thêu thùa con thuyền, nò sáo
Phiên chợ muôn vẻ
Mẹ làm rổ rá đong đầy cho con
Lo âu áo cơm vợi bớt
Trang vở yên bình, nét tay tươi tốt
Nhà thơ trở về như chợt giấc mơ
Đếm triệu lần chuyến đò rời bến
Triệu đóa hoa muống biển tím đậm chân trời
Đàn em và ánh mặt trời
Yêu ngôi trường làng mang tên nhà thơ Tố Hữu(*).
----------
(*) Trường Trung học Phổ thông Tố Hữu ở xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, bên phá Tam Giang dành cho học sinh thuộc 3 xã: Quảng Ngạn, Quảng Công và Hải Dương đến học tập.
(TCSH380/10-2020)
Tải mã QRCode
Lưu Thị Bạch Liễu - Nguyễn Thuấn - Ngô Thị Ý Nhi - Nguyễn Đạt - Nguyễn Thiền Nghi
Ngọc Biển - Bích Hải - Nguyễn Thị Duyên Sanh - Đông Hương - Hồng Vinh
Kiều Công Luận - Phan Công Tuyên - Hoàng Lê Diễm Trang - Lê Hào - Trần Hương Giang - Nguyễn Hoàng Dương
PHẠM VĂN VŨ
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO
Từ Hoài Tấn có thơ xuất hiện khá sớm trên báo Văn (miền Nam) khoảng giữa năm 1960. Ngay từ buổi đầu, thơ Từ Hoài Tấn đã có một giọng điệu riêng. Và khác với một số người trong nhóm Nội Dung ngày ấy (như Thái Ngọc San, Mường Mán, Nguyễn Miên Thảo…), Từ Hoài Tấn có vẽ lặng lẽ như sự tách biệt của một con đường độc đạo để đi vào khu rừng nội tâm.
HỒ ĐẮC THIẾU ANH
*Ghi nhớ ngày tiễn đưa Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn 01-04-2001
Lê Từ Hiển - Nguyễn Như Huyền
Hồ Đắc Thiếu Anh - Nguyễn Hoàng Thọ - Trần Xuân An - Trần Hữu Dũng - Dương Thành Vũ - Nguyễn Hoàng Anh Thư
NGUYỄN HƯNG HẢI
Trần Vàng Sao - Ngô Minh - Phùng Tấn Đông - Nguyễn Văn Phương - Lê Ánh
Phùng Tấn Đông - Bạch Diệp - Nguyễn Man Kim - Đoàn Mạnh Phương - Ngô Công Tấn - Vĩnh Nguyên - Phan Trung Thành - Lê Hưng Tiến - Nhất Lâm - Châu Thu Hà - Nguyên Tiêu
Nguyễn Đức Quang - Đặng Thị Vân Khanh - Tuyết Nga - Thạch Quỳ
LTS: Phùng Quán sinh năm 1932, quê xã Thủy Dương thành phố Huế, gia nhập Vệ Quốc đoàn năm 13 tuổi (1-1946) làm liên lạc, chiến sĩ trinh sát trung đoàn 101.
Đinh Thu - Thái Kim Lan - Ngàn Thương - Hoàng Thị Thương - Nguyễn Miên Thượng - Nguyễn Loan - Vũ Trọng Quang - Trần Hữu Lục - Lê Huy Quang - Đỗ Hàn - Mai Văn Hoan - Trần Tịnh Yên
Nguyễn Đạt - Lê Ngã Lễ - Nguyễn Đông Nhật - Xuân Cao - Từ Hoài Tấn - Tôn Phong
PHAN ĐẠO
Đinh Cường - Anh Túc - Trần Hoàng Vy - Trần Hữu Lục - Nguyễn Thiền Nghi - Đông Hương - Thanh Trắc Nguyễn Văn
ĐỖ TẤN ĐẠT
Thái Kim Lan - Nguyễn Đặng Mừng - Đông Hương