Bóng dáng tháp Lôi Phong buổi chiều muộn - Ảnh: vivianfann.net
VĨNH NGUYÊN Vàng (Ấn tượng Tây Hồ) Tới Tây Hồ ta mường tượng đường Cổ Ngư đi giữa hồ Tây hồ Trúc Bạch Con đập nơi đây vắt qua cho Tây Hồ có hồ lớn hồ nhỏ Hồ lớn du ngoạn bằng thuyền máy Hồ nhỏ trai gái bơi thuyền thiên nga Cù lao xanh cho thuyền say vòng quanh Núi cao bên bờ dập dờn bức tranh thủy mạc Ngọn tháp Lôi Phong dát vàng lộng lẫy tôn vinh người anh hùng Qua cù lao mờ khuất… Thuyền cập bến Ta lại nhận ra “tháp vàng” trên bộ áo người lao công Họ gắp từng mẩu thuốc du khách vứt ra Lau dọn chỉnh chu các ngả đường quanh Tây Hồ Vàng Không cần dát vàng trên bộ đồng phục những người lao công ta gặp trước và sau khi chiêm ngưỡng tháp Lôi Phong! Hàng Châu - Tây Hồ 19.07.2010 TRẦN THỊ LINH CHI Hương Cành Chi Một loài rong cỏ cắm trong ly Sao đời khéo gọi Hương Cành Chi Dưới mắt nhà thơ hư hóa thật Cho đời cỏ dại sánh kim chi LƯU LY Gọi em ở cuối thiên đường Anh sẽ gọi em ở cuối thiên đường? Nơi ánh sáng và bóng đêm hòa vào làm một Những ẩn ức vùi mình lên cỏ ướt Xanh. Đỏ. Tím. Vàng... Mênh mang! Anh sẽ gọi em ở cuối thiên đường? Khi một ngày trái tim em sẽ sàng nhịp đập Anh sẽ xoa dịu nỗi đau em lần cuối Như một bác sỹ lành nghề Trước những bệnh nhân. Anh sẽ gọi em ở cuối thiên đường? Khi hoàng hôn đang dần dần bao phủ Anh sẽ gọi? Xé tan những buồn đau vừa ập tới Hồi sinh sự sống sau cùng... Anh sẽ gọi em?! TRIỆU NGUYÊN PHONG Ngày bắt đầu Bắt đầu từ cát bụi Nước dẫy từ đầu sông Khói khai sinh từ sóng Tay mọc lên cánh đồng Lúa kêu lên cơn khát Mưa đem đổ đồng sâu Tiếng côn trùng trỗi dậy Ngày bắt đầu từ đâu? Thượng nguồn còn xa lắm Ta trôi về cuối sông Lênh đênh chiếc thuyền lá Nao lòng giữa biển đông. TÂY LINH PHẠM XUÂN PHỤNG Tư Dung cảm hoài Hoang vắng rừng trưa Rắn bò, sóc nhảy Am lạnh sườn non Hồn ma, áo giấy! Vịnh cũ cát đầy Lơ thơ lau sậy Vách núi dấu hằn Cảnh xưa nào thấy! Lác đác đá hòn xạm mặt Gợi niềm đau bãi biển nương dâu Lô nhô con sóng bạc đầu Khơi nỗi nhớ cung giương, cờ vẫy! Hỏi cỏ hỏi cây Còn nghe tiếng quân reo, trống dậy? Dõi mắt đăm đăm Chẳng thấy cảnh buồm căng, mái quẫy! Vách núi dấu hằn Cảnh xưa nào thấy Cửa cũ còn đâu Tư Dung lừng lẫy! Vỗ núi hỏi trời Cớ sai lại vậy? NGÀN THƯƠNG Hương thời gian Thị Lộ trêu ngươi bằng sự lặng im Môi cười mỉm Oan khiên ngẩng cao đầu Nhận lỗi Xa giá xưa In dấu trước thềm Chiếc chiếu gon Trải mời khách quý Mến tài nhau Hóa thành tri kỷ Có ngờ đâu tàn một kiếp hoa Trong giấc mơ tôi thấy ông Bên cốc rượu tâm giao Còn một nửa Hoa thế kỷ vẫn nhắc ông và Thị Lộ Hương thời gian Lãng đãng chưa mờ... TỪ NGUYỄN Tìm tôi Bâng quơ, tôi đi tìm chính tôi Hỏi với thinh không tiếng gió cười Hỏi với ngàn cây chiều u tịch Hỏi bến sông, ngày nước cạn vơi Bâng khuâng, tôi mơ tìm chính tôi Tìm trong đêm vắng nỗi niềm ơi Tìm chút vô thường ngày khuất lấp Gom hết vào thơ, gởi gắm đời.. TRẦN TỊNH YÊN Giao khúc Khi trái tim hành khất của tôi chai lì khô cứng Khi cuộc đời không còn là ân phúc Khi ước vọng làm mờ tâm trí tôi bằng bụi đường cùng ảo ảnh thì xin em hãy đến như sấm rền và ánh sáng dẫn dắt tôi tới bên ngôi đền tình yêu bằng một cuộc hành hương bất tận dẫu có muộn màng Khi tôi như mây thu lang thang vô vọng trên trời thì từ cổng Hoàng cung vang lên ca khúc hoàng hôn và từ trên xe mây ẩm ướt tiếng dương cầm lạc vào đêm xanh sâu thẳm là lúc giao khúc ngập tràn hương hoa từ lời em cất lên ân cần chuyên chở lụy phiền tôi Môi em vừa ngọt vừa lạnh như lau lách đìu hiu dưới đáy sông và khi thấy những dòng sông vô định trôi dạt bên đời tôi chợt nghĩ đến dòng tóc em màu hoàng lạp phiêu lãng trên lá xuân non giữa đền tháp linh thiêng trong vô cùng mê đắm Tôi sống rộn ràng như lửa Nếu đoạn tình rồi sẽ chết như khói bay lên trời! TUỆ LAM Đêm và ngày gửi L. Đêm chật Tiếng thở dài đầy ngõ ngách Ngọn gió giựt tung cánh cửa Tràn khoảng đêm hoang hoải Len lỏi trong hố đau cùng loài trùng đêm Tôi nhát gan Dò giẫm lối quên bằng những bản flamenco hay tập bestseller Nó vẫn ở đó Ngất ngưởng. Dài mãi cơn lạnh từ đốt sống Nó háo hức kể những câu chuyện cũ Vẽ khuôn mặt ai đó lên khắp trần nhà Ai nhặt hoàng hôn ủ đầy vạt áo Đêm rạn đường cong Căng những sợi xanh Tôi ném cơn đau vào bức tường đá Tiếng va sắc lạnh Sao chẳng nguôi ngoai Tôi khát vỡ và trôi Nhưng ngày mềm với lối đi quẩn quanh bốn mùa Ôi những mùa lạnh giá Đâu mặt trời hồng triền núi xanh dòng sông lụa mướt mát ngọn gió reo vui trên đồng cải hoa vàng Đâu ngày nắng Ngọn lửa nhỏ đã bùng lên thành đám cháy Ngày hóa rồ hóa dại Không còn câu chuyện bên ô cửa mùa đông Không còn sự huyền bí nơi xứ sở vắng mặt trời. Sớm mai Khỏa sương Mặt người chông chênh xa lạ. LÊ HUỲNH LÂM Tôi nhặt chiếc bóng Tôi nhặt chiếc bóng mình trong đêm Vỡ vụn nỗi buồn Vàng ánh trăng xa cung trời nhớ Bơ vơ một con đường Tôi nhặt em bên vỉa phố Làm chiếc gương soi bóng cánh rừng sâu Những bày biện trên bộ mặt thị thành Sụp đổ sau cơn dông trái mùa Tôi nhặt những chiếc vỏ từ đất Thấy rỗng không nỗi niềm của nước Bước chân trên cơ thể di tật Bần cùng ước mơ Tôi lượm tôi sau cuộc ngày Bàn tay run hôi tanh mùi chữ Tôi lượm bóng tôi bên xó đời Rộn rã lời cóc nhái. (260/10-10) |
Tải mã QRCode
LÊ HƯNG TIẾN
NGUYỄN NGỌC HẠNH
ĐINH THỊ NHƯ THÚY
HUỲNH LÊ NHẬT TẤN
PHÙNG CUNG
VŨ THANH HOA
Ngô Liêm Khoan - Nguyên Hạnh - Trần Hương Giang - Hoàng Ngọc Giang - Dương Anh Đằng - Trịnh Minh Hiếu
Lê Tấn Quỳnh - Nguyễn Đông Nhật - Trần Thị Tường Vui - Đỗ Thượng Thế - Kiều Trung Phương - Nguyễn Thanh Văn - Từ Nguyễn - Huỳnh Ngọc Phước
NGUYỄN HƯNG HẢI
NGUYỄN THIỆN ĐỨC
PHẠM ÁNH
LTS: Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tăng Việt. Sinh ngày 20 tháng 2 năm 1922 tại làng Phúc Tằng, huyện Việt Yên (do đó mới có tên là Tăng Việt), Hà Bắc. Con một nhà nho không thành đạt, sống bằng nghề thầy thuốc. Hoàng Cầm (tên một vị thuốc rất đắng) là bút danh dùng từ năm 1939.
(Trích trong tập thơ sắp in: “Những vẻ đẹp khác”)
LTS: Nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ nổi tiếng "Màu tím hoa sim", tham gia cách mạng từ năm 1936 trong phong trào học sinh ở Thanh Hóa.
LTS: Trong 5 năm qua, trên những trang thơ, cùng với việc giới thiệu các tác giả có nhiều tìm tòi, có bút pháp riêng như Văn Cao, Thanh Thảo, Trần Vàng Sao, Phạm Tấn Hầu... Sông Hương đã chú ý đến những cây bút ở cơ sở - mà anh em trong tòa soạn gọi vui là "tác giả chân đất, như Phương Xích Lô, Nguyễn Thị Thái...
Nguyễn Ngọc Phú - Nguyễn Văn Thanh - Đỗ Hàn - Phan Văn Chương - Tháng Năm - Nguyễn Ngọc Hưng - Phạm Xuân Phụng - Nguyễn Ngọc Hạnh - Nguyễn Loan - Triệu Nguyên Phong
Tên thật: Trương Nhật Tín, sinh năm 1991, quê quán thôn An Ngãi Tây, xã Hòa Sơn, Đà Nẵng. Hiện sống với gia đình tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Daklak; - bị khiếm thính nhẹ từ nhỏ. Từng có thời gian ở Hà Nội và sống nhiều lần ở Sài Gòn. Bắt đầu làm thơ, viết truyện, Văn Phẩm Ý (dạng tùy bút phác họa vô thực)… từ khoảng năm 2005, 2008.
ANH THƠ
PHAN HOÀNG
Nguyễn Hồng Hạnh - Phan Lệ Dung - Hoàng Long - Hoàng Vân Khánh - Nguyên Quân - Bùi Mỹ Hồng - Đỗ Tấn Đạt - Nguyễn Nghĩa - Từ Sâm