Thơ Sông Hương 10-1999

10:04 16/11/2009
Hà Huy Tuấn - Đông Hà - Vương Tùng Cương - Nguyễn Văn Hoa - Bùi Đức Vinh - Phan Hữu Giản - Tô Hoàn - Chu Minh Khôi - Thu Nguyệt - Nguyễn Ngọc Phú - Huỳnh Mạnh Tiên

(Ảnh: Internet)


HÀ HUY TUẤN


Sông


Có gốc tre xanh
Men theo bờ cát
Lở xuống sông rồi
Hút sâu đáy nước.

Có trảng cỏ non
Lam nham bò liếm
Sông nuốt mất bờ
Chẳng cần giấu giếm
Có nhà em gái
Ngày xưa tưới đồng
Lùi xa xóm bãi
Không còn gánh sông.

Bãi bồi kí ức
Đầy lên trong lòng
Thương về bãi lở
Đục ngầu mắt trong.
                                1999


ĐÔNG HÀ


Những người đàn bà làm thơ


Có thể là tình yêu...
Tình cờ...
hay ngẫu hứng...
Họ làm thơ

Về một điều ám ảnh những giấc mơ
Những nỗi đau đa mang khó lòng ai
                                              chia xẻ
Họ khóc trăng vấp làn gió xé
Khóc cho mình đối diện đêm đen
Những vần thơ vừa lạ vừa quen
cho người yêu đã bỏ đi xứ khác
cho mình cho bạn
   dù nỗi buồn tàn còn nóng bỏng trong tim.

Những người đàn bà câm lặng giữa đêm
Mắt bất động xoáy vào đời giông bão
Họ thả thơ quay thành hoa pháo
Nở lên trời đốm sáng ưu tư.

Những người đàn bà làm thơ...


VƯƠNG TÙNG CƯƠNG


Đại Nội chiều


Chiều vào thăm Đại Nội
trơ ngai Rồng không Vua
nước vàng son phếch bạc
Điện chống chênh gió lùa

Những uy quyền một thuở
giờ bụi mờ rêu phong
Cân đai cùng mũ áo
hóa trang thành trò đùa

Cỏ ngợp xanh lối xưa
sen bập bùng đuốc lửa
tiếng lũ trẻ vô tư
say cánh diều đong gió...
                                Huế - Hà Nội hè 1999.


NGUYỄN VĂN HOA


Chia xa

                  Tặng các em bé mồ côi
                  làm con nuôi xứ người

Cò về trắng đảo Hòa Bình
Đảo lành chim đậu địa linh chốn này
Riêng em phải đi chiều nay
Cánh chim lưu lạc phải bay cuối trời
Lênh đênh đất khách quê người
Phút chia ly em chỉ cười mà thôi
Thời gian đâu có ngừng trôi
Cò lạ thì đến, em thời biệt xa
Nhớn lên dù xa quê nhà
Đất lành chim đậu nhớ mà về thăm.


BÙI ĐỨC VINH


Nụ tầm xuân


Quê mình nụ tầm xuân nở
Thanh tao tựa hạt sương trời
Hương vương thơm màu mong đợi
Trẻ con làng thường hái chơi

Triều đê chiều se sắt gió
Tầm xuân rụng đầy lối thương
Bướm vàng đậu giậu nhà khác
Mười sáu tuổi bỏ mái trường

Theo chồng bồng con ra phố
Ngẩn ngơ nhìn áo dài bay
Lòng nao nhớ thời bé nhỏ
Tầm xuân nở trắng ngõ gầy...


PHAN HỮU GIẢN


Về với K'Long K'Lanh


Nhớ hồi kháng chiến gian truân
Bao người sống giữa tình dân đất này
Mừng còn tay được cầm tay
Lệ tràn lên mắt, đắng cay trong lòng...
Nhớ vùng hậu cứ kiên trung
Đói cơm, lạt muối, giặc lùng, giặc vây
Nguồn Đa Nhim nước dâng đầy
Như đang khát vọng những ngày tự do!
Rừng xanh biêng biếc ước mơ
Nước độc lập, dân ấm no đời đời

Nhưng hơn hai chục năm rồi
Bà con mình vẫn ngô khoai bốn mùa
Nhà xiêu mái lá phêu thưa
Bếp tàn đêm lạnh gió lùa căm căm
Đồng hoang lũ quét mấy lần
Xác xơ nghèo đói níu chân anh hùng...

... Tăng nguồn thu bảo vệ rừng
Thôi nghề đốt rẫy làm nương ngàn đời
Định cư, xây dựng vườn đồi
Trồng cây công nghiệp, chăn nuôi bò đàn...
Điện, đường, trường, trạm khang trang
Dẫn dòng nước sạch, buôn làng tươi vui
Lưu thông hàng hóa ngược xuôi
Quyết tâm làm cuộc đổi đời nay mai...(***)

Trách ai ngoảnh mặt, khoanh tay
Lãng quên ý đẹp, lời hay một thời
Nói nhiều, làm chẳng đến nơi
Tốn công của, mất lòng người... xót xa
Nghĩa tình hồ dễ phôi pha
K'Long K'Lanh không thể nhạt nhòa
tháng năm!

-------------------------------------------
(***) Tinh thần các Nghị Quyết, chính sách về xây dựng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc ít người ở Tây Nguyên - Lâm Đồng.


TÔ HOÀN


Người đàn bà gánh than bán rong


Người đàn bà gánh than bán rong
Đôi vai mảnh dẫn cuộc đời bụi bặm
Chéo khăn nhỏ làm sao che mặt lấm
Tiếng rao mời "Ai... than!" vít cong.

Người đàn bà gánh than bán rong
Bàn chân đuổi thời gian vào hẽm phố
Bếp ai nghèo mong than, chị nhớ
Xuôi ngược dòng đời ai nhớ chị không?

Người đàn bà gánh than bán rong.


CHU MINH KHÔI


Gửi quê


Tôi xanh về phía ấy quê hương
Nơi tôi ướp nỗi buồn mình xuống cỏ
Thả nước mơ xanh khói bếp oằn
            trong gió
Xao xác gầy trên mái rạ chênh vênh.

Tuổi thơ tôi gửi lại phía đầu ghềnh
Nơi gò chóc đất cằn vào thớ chóc
Thủa ăn khoai thay bữa chiều đi học
Cắp sách về trăng khuyết đậu
          sừng trâu.

Cái nghèo không trói nổi ước mơ đâu
Dẫu mẹ gọi tôi là Thằng sách vở
Bạn bè cũ đã thành chồng thành vợ
Chân lội bùn buốt nhói cánh đồng quê.

Không đứa nào bước ra khỏi lũy tre
Chỉ mình tôi chôn nỗi buồn xuống cỏ
Ngoài hai mươi vẫn bạn cùng sách vở
Ném nhọc nhằn cho quê mẹ mà đi.

Quê hương ơi!
Phía ấy nhắn nhủ gì?



THU NGUYỆT


Nói với biển


Biển lại gần ta nói biển nghe
Sóng dữ dội rồi cũng tan bờ cát
Sâu cạn, đục trong, vẫy vùng phiêu bạt
Biển rộng đến đâu cũng không thoát nổi bờ.

Biển lại gần ta đọc biển nghe thơ
Cũng dữ dội và ào ạt lắm
Cũng chồm lên rồi tan vào xa thẳm
Cũng loanh quanh không thoát khỏi phận mình.

Biển lại gần ta tỏ với biển tình
Tha thiết lắm và đa đoan lắm
Rất đỗi thân quen, vô cùng lạ lẫm
Sấp ngửa bàn tay mở nắm không ngờ.

Biển lại gần ta kể chuyện ngày xưa
Chuyện ngày sau, chuyện bây giờ ta biết
Chuyện bia đá và điều bia miệng
Trời vẫn nắng mưa, hoa vẫn nở yên lành.

Ta biết mà biển dẫu trong xanh
Không giấu nổi dòng hải lưu nóng lạnh
Biển đầy thế làm sao không sóng sánh
Nhưng chớ lo rồi nước cũng về nguồn.

Biển lại gần ta nói biển đừng buồn
Ta đá sỏi không tan vào biển được
Nhưng chắc chắn một điều ta biết trước
Phần khuyết mòn cũng về biển mà thôi.

Biển lại gần đây để cùng ta vui
Cùng ta buồn cùng ta suy gẫm
Ta nói nhỏ một điều thật lắm:
Ta có thể rời khỏi trái đất này, còn biển thì không!


NGUYỄN NGỌC PHÚ


Hỏi


Tôi hỏi: Cây ơi?
- Rễ người sâu lắm

Gánh rơm thì nặng
Gánh đá thì mềm

Hao bấc còn đèn
Hao người hết của

Ta làm ra lúa
(lúa sàng sảy ai?)

Cá Đục, Cá Chai
lưới trời bỏ ngỏ

Cá Chim, cá Ngựa
lưới người nhặt hơn

Để cây xanh hồn
Biển còn phải thẳm

Ta ngồi nhặt nắng
Vá lên cánh buồm.
                               Đồ Sơn tháng 1-1999.


Chị


Cánh đồng mang thai lúa non
Chị qua một thì con gửi

(Cái Bống sao mày ở vậy
Âm thầm nuôi trứng xoãi vây)

Con tôm búng giật thót ngày
Khế vườn bén hơi người lạ

Giọt gianh kể về mái rạ
Cây rơm góa  bụa đội nồi

Cơn sốt rừng già - chị ơi!
Ăn mòn một thời tuổi trẻ

Ra đường gặp toàn người lẻ
Đêm về ấp bóng vào chăn

Chị - mang - thai - cả - cánh - đồng


HUỲNH MẠNH TIÊN


Lộc


thật diệu kỳ xác chữ rơi
những vòng đồng tâm
mang tôi lan lan diệu vợi
xa dần các vết sẹo đồng âm

thật diệu kỳ:
bỗng dưng tôi khoái nằm ngửa
- thả tàu nhìn mây rơi chữ sổ
bên em
                                Pâques - IV.99
                                (Saint-Denis/Paris)

(128/10-99)





 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất

  • Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác

  • Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy

  • Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh

  • HỒNG NHUChiếc tàu cau                        (Trích)

  • Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật

  • LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.

  • LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…

  • Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.

  • L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.

  • Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)

  • Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.

  • ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi

  • Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh

  • PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà