Thơ Sông Hương 07&8-1993

09:04 12/03/2024


Bạch Tâm - Xuân Hoàng - Mộng Phật Tôn Thất Diệm

"Hồn sứ" - Sơn dầu của Lê Quý Long - Ảnh tư liệu SH

BẠCH TÂM

Vịnh cầu Tràng Tiền

Sáu nhịp cầu xưa đẹp xứ thơ
Quê hương gắn bó tự bao giờ
Thiên tai một thuở, duyên còn thắm,
Địch họa bao năm, dáng chẳng mờ
Tà áo vương tình khêu nỗi nhớ
Nụ cười nghiêng nón nặng câu chờ
Đây bao viễn khách dừng chân lại
Cảm khúc Nam ai vọng cõi bờ...
                    Mạnh Đông 1992



XUÂN HOÀNG

Nước ròng

Cứ chiều là nước ròng xuôi
Cồn phơi bãi lạnh như tôi : cạn lòng !
Chao ôi như thế là ròng
Chỉ khô khan những rêu rong, chỉ buồn
Cò thôi không đến tìm cồn,
Người thôi nơm cá, không còn dấu chân
Chỉ lì mặt phẳng rêu thâm
Như lòng tôi, trải lặng thầm nỗi đau !

Có gì đâu ! Có gì đâu
Chỉ sông xanh, một dòng sâu, chảy dài!
Cũng con sông đó, mệt nhoài,
Đem chia hai nửa một ngoài, một trong
Cớ sao cùng gọi là dòng,
Một thì cạn nước, một trùng trùng xanh ?
Như khe đối diện với ghềnh,
Như là cảnh đối buồn tênh mặt người

Như sông, đối diện với đời
Vô cùng, hữu hạn, người ơi, nghĩa gì !
                              1-1993


Với ngôi nhà sắp bán

Dẫu ngôi nhà ấy chưa dời,
(Đã đi xa, vẫn về ngồi bàn xưa)
Dẫu rằng rày nắng, mai mưa
Mái tôn sửa mãi vẫn chưa thật đằm
Cớ sao mỗi lúc về thăm
Cửa song lại mở, vừng trăng lại vào ?
Hàng dừa, bụi chuối lao xao
(Đã bao năm, chẳng năm nào quả vơi)
Chùm hoa râm bụt mỉm cười
Thắm tươi những nét chào mời giữa xanh
Rập rờn gió lượn vờn quanh
Cây đào, gốc khế lung linh nắng vàng...

Vườn ơi, như thế là vườn !
Người đi xa, Huế hẳn thường với theo ?
Ra đi nhớ ít thương nhiều
Huế là em đấy : tình yêu ngôi nhà !
Cuộc đời dẫu lắm phong ba
Một thời tạm trú, cũng là nợ duyên...
Chiều xuân cứ dịu dàng nghiêng,
Bài thơ gởi lại : nhớ quên chập chờn.
                    2-1993



MỘNG PHẬT TÔN THẤT DIỆM

Hòn vay hòn trả (*)

Còn đó trơ trơ núi chẳng mòn,
Kìa vay nọ trả tiếng hai hòn
Cây chen đất Quảng đường xây trái
Đá dựng trời Nam lối lại tròn
Ngoài củi lời cho tiều mấy lão,
Trong mây vốn sẵn thú nhiều con
Bên ăn thế cũng bằng bên chịu
Chủ nợ là ai dám hỏi con.


Chơi chùa Thiên Mụ

Chùa Mụ chiều trông bóng xế ngành,
Trên non dưới nước một màu xanh
Bảy tầng bửu tháp mây un thẳng
Bốn phía Hương đình gió thổi quanh
Nền vách trăm năm chùa vốn cũ,
Bể dâu mấy độ cảnh còn xinh
Rừng thiền thanh vắng người thong thả,
Dạo bước lòng khuây đám lợi danh.

--------------------
(*) Tên hai hòn núi ở Quảng Nam.


(TCSH56/07&8-1993)
 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác

  • Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy

  • Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh

  • HỒNG NHUChiếc tàu cau                        (Trích)

  • Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật

  • LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.

  • LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…

  • Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.

  • L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.

  • Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)

  • Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.

  • ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi

  • Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh

  • PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà

  • Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh