Vĩnh Nguyên - Đào Duy Anh - Đông Hà - Nguyen Su Tu - Khét
Tác phẩm "Sương phơi chiều tượng đá" (Acrylic, 100cm x 100cm, 2020) của HS Đặng Mậu Tựu
VĨNH NGUYÊN
Hình như
Hình như tôi bay
Và đậu xuống vầng trăng mảnh mai
Cánh tay khoanh đầu ngái ngủ
Ơn trời
Tôi hôn vầng trăng mồng bốn(*)
Em chẳng trốn mẹ
Em ngồi bình yên trong ngôi nhà bình yên
Có sắp nhỏ rúc rích
Rồi bay đan làn mây xám…
Hình như có chớp giông đầu hạ
Trăng mồng bốn khuất dần đầu non
Mùa gặt
Tóc em thơm rạ rơm
Hình như tôi không bay
Vầng trăng không nhú đầu non
Là em
Hình như…
------------------------------
(*) Ngạn ngữ: Trăng mồng bốn trốn mẹ đi chơi
ĐÀO DUY ANH
Viết từ vô thức
Sau những kìm nén ma lực khôn lường của bóng tối tâm thức giúp ta hiểu phần thất lạc ẩn kín trong mình bằng trải nghiệm yêu thương
mùa đau dịu dàng che giấu nỗi buồn cho niềm đau lao theo ảo giác của triệu triệu neuron thần kinh dẫn mình vào giấc mỏi/ ta hiền như bồ câu đi nhặt thóc em săn bẫy gì những hạt lép vừa buông/ ta đã dâng niềm yêu thương cuồng nhiệt và vẻ đẹp mạnh mẽ tuyệt vời để biết chưa bao giờ mình dịu dàng đến thế / ta trần truồng linh hồn và thể xác không phải để chói lọi mà để phân trần như cát bụi bày tỏ mình một hoang mạc nguyên sơ/ ở đó ta yêu em trong lành và cũng đã sôi như viên thuốc sủi bọt bàn tay mẫn cảm cầm chiếc ly chứa bùa độc dược/ không biết sẽ có phải viết điếu văn/ trong vô thức sống cuộn lên bao phức cảm và sang chấn tinh thần bóng tối rung chuông ký ức/ những buồn thương và tiếc nuối sẽ không còn một sáng trong để trở lại cầu xin cứu vớt khi mọi giá trị xước vỡ/ ta nhìn hư không như một tang chứng không biện giải được linh hồn những vết roi quất xuống niềm tin/ thời gian tan không gian tan ký ức tan/ chúng ném ta vào tận cùng của hư huyễn ở đó thực thể điên loạn ngự trị bóng ta chèn bóng tối/ những lập lòe cái chớp mắt đậy lại như nắp quan tài/ cuộc đày ải trân ái nỗi buồn đã cấy qua mọi động thức trên văn bản lê thê cuộc người/ ai cho ta niềm vui và tuyệt vọng sao cái đầu cấu thành vô vàn điều không thể và những điều biết không thể lý giải/ sự tồn tại phi lý trong những khoảng âm u và ta sống trong sự phi lý ấy như đồng hành hỏi buồn không/ Thượng đế đã ban kiếp con người rồi ra tay thưởng phạt/ ta tội tình chăng sao Thượng đế không cảm ơn ta những ngày còn vất vưởng nên Người được nhẹ nợ đến vậy
mất khả năng phán đoán và một nửa những gì ta viết là vô nghĩa nhưng ta nói nửa ấy ra để nửa kia có thể với tới người
ĐÔNG HÀ
Miền yêu thương
Con mắt bồ câu cây cầu giải yếm
Ai dắt đam mê lội sóng đi tìm
Ta về trỉa hạt chân chim
Bỏ khăn bỏ áo đi tìm dửng dưng
Người đi có một muôn trùng
Sao ta đứng ngóng lưng chừng non mây
Bàn tay không đổi bàn tay
Bao lời trắng xóa đã đầy trong nhau
Con mắt bồ câu thương ngày nắng hạ
Ta theo người lạ nắng quái qua sông
Buồn tình thả hạt thong dong
Nở ra bờ bãi ngóng trông vô cùng
Người đi rút ván đóng thuyền
Ta về gieo lại một miền yêu thương…
.jpg)
NGUYEN SU TU
Quy Nhơn
Đừng quay về nữa với Quy Nhơn
chúng mình xem nhau như chưa từng gặp
ngày thương mến đã qua
chẳng có gì bất ngờ trong cuộc đời toan tính
cứ xem bữa ấy mây u ám
và trời cứ thế
đổ mưa
và mình cứ thế lưu vong
Em từng gọi Quy Nhơn rồi ngủ thiếp
nhân gian hà khắc vốn lâu rồi
đừng thức dậy những nỗi buồn mất trí
Quy Nhơn cần quên thôi
Trên chuyến tàu ì ạch
mình xuống ga nào cũng lẻ loi
lũ người chen nhau trên toa chật mùi ủ mục
bọn mình không đủ sức ngóp ngoi
Ngày mình cầm tay thật chặt
giờ nghe hơi thở cạn sum vầy
vong thân trần thế
ngày u ám
trắc ẩn lên mùa li tán Quy Nhơn
Kệ những oái ăm người mua bán
áo quan chằng chịt vá mai sau
em cười nguệch ngoạc quên mà nhói
ngón đau đời tất tả chỉ vào đâu
xem như trái đất
ngày tận thế
cho hình hài về tận hôn sâu...
KHÉT
Ngồi cùng ma núi
tôi thấy mình sũng ướt giữa ngọn đồi
khi trăng tháng ba về qua lối cũ
có loài chim kêu lên rất lạ
những hàng cây cụt đầu
cắm dài trên tuổi hai mươi
tôi nhận ra mình hoang vu
trong tay em sấp ngửa
lửa cháy dưới chân và nước dội trên đầu
tôi về ngồi cùng một con ma núi
mới hay cổ tích
chết yểu
trên tay người.
.jpg)
(TCSH400/06-2022)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh