Thơ Sông Hương 05-2003

10:48 18/05/2009
Nguyễn Trọng Tạo - Diệp Minh Luyện - Nguyễn Việt Tư - Lê Viết Xuân - Trần Lan Vinh - Mai Văn Phấn

 

NGUYỄN TRỌNG TẠO


Trở lại Huế

Trở lại Huế mưa vẫn mưa như cũ
Màu trời buồn như thuở ra đi
Bạn làm thơ giờ viết báo nuôi thơ
Tổng biên tập Sông Hương mặt rầu như đá xám
Những đứa em hiệp sĩ với chính mình
Chợ Bến Ngự thêm vài ba người lạ
Đêm ca Huế những nụ cười trượt giá
Áo vẫn dài nón vẫn trắng mắt vẫn đen...

Trở lại Huế dăm hè đường lát đá
Tiếng lá rơi ngõ vắng cũng giật mình
Cô bán hàng là con cô bán hàng ngày trước
Rượu vẫn là rượu Hiếu dốc Phú Cam
Góc sân chùa ngày ấy tôi hôn em
Giờ trai gái cũng hôn nhau ở đấy
Cổng uỷ ban hình như vừa sơn lại
Cửa Tam Toà thấp thoáng áo chùng thâm...

Đêm lang thang cùng Thanh Tú đượm buồn
Chuông điện thoại thở dài Văn Cầm Hải
Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn viết văn bằng miệng
Ngô Minh gửi bài lách tách nhấn i-meo
Gallery nhiều bức tranh nữ tính
Công viên trưng bày những tượng đá mô-đen
Cầu Trường Tiền mưa phủ ướt hồn em
Thành quách cũ niêm phong dần trí nhớ...

Trở lại Huế bước chân sầu vạn cổ
Ngồi chuyện trò cùng ký ức lưu kho
Ngày trở về mà cứ ngỡ ra đi
Lời chào chia tay hay lời chào gặp lại
Thôi tạm biệt Huế ơi tím tái dòng sông chảy
Ngôi biệt thự ngăn đôi hai cánh cổng màu ghi
Lâu lâu đón tôi về lâu lâu tiễn tôi đi...

                                                                   Huế, 9.11.2002

DIỆP MINH LUYỆN

Khúc ca về cây dương liễu

Trên doi đất như mũi tên chọc ra biển
Trơ lại một cây dương liễu xanh não nề

Những mai hồng mơn man ngọn nồm ve vuốt
Dương liễu hát bài ca trữ tình du dương
Du khách bảo trên đời chẳng ai yêu đời hơn nó

Những đêm tối âm u bão giông xô quật
Dương liễu rũ lá âm thầm
Mặc sóng gào, gió giật
Mặc tất
Liễu vẫn đứng bền gan
Không một du khách nào hay biết

Cứ sau mỗi cuộc chiến
Dương liễu lại hồi sinh
Cành lá nhắm trời xanh vươn đến
Vi vút hát những bài ca không lời
Những bài ca không dành cho ai
Và chẳng ai hiểu những bài ca nó hát
Vì chỉ nó, một mình nó biết
Hát là để bắt đầu những mầm xanh tiếp theo...

NGUYỄN VIỆT TƯ

Bốn mươi chiếc lá

Em chẳng phóng sinh tôi
Em giam cầm tôi mãi
Trí tưởng tượng không còn tồn tại
Để đêm đêm thế giới bóng em đè
Nửa hành tinh đang lăn vào khuya
Hương mất ngủ trong mui trời trăn trở
Gió đi đâu?
            Khi cánh hồng đang mở
Đợi một giọt sương rơi
           
Bà chúa đăng quang
Hoàng hậu lên ngôi
Giữa vương quốc kẻ tội đồ lăn lóc
Cống phẩm cạn
Nô tì bị ghét
Ướt nửa đời
            Lênh láng mộng mong manh
Không phế truất được em!
Để mở cửa giấc mơ chinh phạt

Ai dâng tha thiết?
Cho tôi khoả trắng tâm hồn
Tách vỏ hạt yêu
Hy vọng mọc mầm
Con chữ thôi câm - Bập bẹ
Mắt mùa đông lướt trên gót trẻ
Khúc xuân hoa dù nở muộn lời yêu
Viễn du em
Chếnh choáng chiều chiều
Giữ chặt trong tay
            Bốn mươi chiếc lá.

LÊ VIẾT XUÂN

Chợ quê

Một mình đi chợ cuối năm
Tôi như lạc giữa hương thầm sắc quê
Râm ran mua bán bốn bề
Hồn nhiên chào hỏi lời quê mặn nồng
Chạm vào nỗi nhớ tê lòng
Những ngày giáp tết ngóng trông mẹ về
Con gà đất gáy te te
Mồ hôi áo mẹ ướt nhoè mắt con
Bây giờ gà đất chẳng còn
Đồ chơi bằng nhựa vô hồn trẻ thơ...
Chợ quê hay chính hồn quê
Mà khôn nguôi gọi ta về, người ơi!

TRẦN LAN VINH

Sang   sợi

Một ngày
Rồi lại
Một ngày
 
Gió ngồi
Gỡ nút
Chỉ may
Rối chiều

Hai ngày
Rồi lại
Hai ngày

Xâu sợi
Đêm gầy
Qua lỗ
Trôn kim

Trời nắng
Thả ngải
Đi tìm

Trời mưa
Giăng cái
Nỗi niềm
Chung chiêng

Lần xem
Chân nhện
Xe duyên

Mũi thương
Mũi nhớ
Như ghim
Nặng lòng

Chờ ngày
Sang sợi
Qua sông...
                    Huế, 1/2003


MAI VĂN PHẤN

Biến tấu con quạ

*
Tử khí kéo ngọn bấc tới đỉnh trời
Con quạ rực sáng
*
Khai sinh
Sau tiếng quạ kêu
Ra đi không cưỡng lại
Gói bọc được mở ra
Sự băng hoại không thể cất giấu
Thầy lang đốt sách cuối vườn
Tân dược trong kho đều quá hạn sử dụng
Những phù thuỷ chịu hình phạt
miệng bị đóng bởi những móc sắt

Khai sinh
Khi quả chuông rơi xuống bất ngờ
Chụp lên đầu người bõ già
Con cá nhảy vào đám mây tự vẫn
Buông ngang trời ngàn vạn lưỡi câu

Khai sinh
Mực đổ dưới chân và máu
vón cục ở yết hầu, phế quản
Viết một nét lên trang đầu
thấm suốt cả ngàn trang sách.
*
Bổ nhào từ đỉnh cao
Bằng đôi cánh sắc
Lấy tâm điểm xác chết
Chém toác bầu không
Gió hấp tấp không kịp băng bó.
*
Móc từ hốc mắt
những nhãn quan
Di ảnh là vật chứng
Mổ vào lưỡi
và kéo dài
Phơi dưới trời bài học khẩu ngữ

Bóc từng mảng thịt
Tháo rời tứ chi
Sổ tung lục phủ ngũ tạng

Hộp sọ vừa được dựng lên
Rêu đã phủ đầy
Không viết nổi những dòng bi ký.
*
Con quạ mơ
Mọi cái chết đều được sắp đặt

Sau tiếng quạ kêu
Ai đã tự nguyện nằm xuống.
*
Con quạ bay vào phòng
Một ngón tay yếu ớt giơ lên
Ý nói:
            Đây là họng súng
            Là lưỡi mác
            Thậm chí cuốc thuổng
            Thậm chí chính ngón tay rất cứng
Đúng hơn là đông cứng
Rồi băng đá
Rồi rữa tan.
*
Đừng đến gần bóng râm
Chúng là con quạ
Xoã cánh lúc hoàng hôn, rạng đông

Nanh vuốt bám gió
Xay nghiền là khô
Bẻ những cành vượt

Nhà thơ trú trong bóng râm
Những con chữ bị khoét mất mắt.
*
Trông
Sự vật
Trừng trừng
Bởi chớp mắt
Bóng quạ
Ập tới.

Bóng mình
Không cất tiếng
Sợ biến thành gà con.
*
Một số người trỗi dậy từ đám đông, khoác áo đen, mang mặt nạ đen.
Vừa chạy, họ vừa đập cánh tay vào hai bên sườn. Đầu cố ngước lên.
Bóng đen bay là là mặt đất.
*
Đậu trên chạc cây trong trạng thái bội thực và ngủ gật, con quạ mơ mỗi mẩu thức ăn đang nén chặt trong diều biến thành quả trứng. Đàn quạ lũ lượt chui khỏi ngũ quan, lập tức sà xuống săn mồi theo bản năng của loài ăn thịt.
*
Những đau khổ tột cùng ngoái nhìn đời sống tưởng chừng đã chết. Chiếc áo khoác kêu thất thanh khi đi qua bàn tủ. Máy điện thoại im lìm ngủ. Chiếc kẹp ghim mở miệng cố giấu đi móng vuốt. Chiếc chổi móc vào tay người lao công, kéo chị ta về bên hố rác. Chiếc mũ trên đầu kêu thảng thốt, rồi cúi xuống rỉa hết mặt nhân viên bảo vệ. Không ai mở cổng. Nhiều người vẫn tìm được lối đi vào.
*
Những linh hồn thoát xác tìm cách quay về chiến đấu với loài quạ dữ. Sau những loạt đạn không gây sát thương, khói hương căng thành bảng, viết con chữ đầu tiên của bài học mới.
*
Đây là dòng cuối cùng trong một bản di chúc
"
Bắt đền lễ Thiên táng lúc xuất hiện bóng quạ".
*
Bóng đêm chui dần vào bụng quạ.

Cả chúng ta nữa, đang cồn cào cùng dòng sông đói khát. Những giọt nước đục tìm cách lọt qua khe vải. Mặt nước khổng lồ ghìm nén xao động, mong giữ lại bóng cây. Bật que diêm rồi, vẫn nhớ ngọn bấc còn rất xa. Vung tay lên, nói to một mình trong bóng tối.

Con quạ khật khừ xuyên đêm
Thảng thốt kêu

Lần đầu tiên tiếng động ra đi không vọng lại.
                                                                             Tháng 5 năm 2002

(171/05-03)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất

  • Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác

  • Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy

  • Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh

  • HỒNG NHUChiếc tàu cau                        (Trích)

  • Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật

  • LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.

  • LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…

  • Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.

  • L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.

  • Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)

  • Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.

  • ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi

  • Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh

  • PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà