Thai Sắc - Dương Thắng - Nguyễn Thiện Đức - Trần Hạ Vi
Ảnh: internet
THAI SẮC
Chậm
Chậm để biết nơi gần còn xa
Ngắm trọn phiến lá vàng chao cõi rụng
Tia nắng chót của ngày bịn rịn
Đậu mắt phai như bắt gặp lần đầu
Chậm để ngang đời không đụng nhau đau
Nửa câu nói biết nhọc nhằn đầu lưỡi
Sẽ làm tan nỗi buồn
Gieo ngọc trần đượm đất
Chậm để yêu từ trong tâm ghét
Biết lọc tổ xấu xa chút mật ong rừng
Hoa đã nở nhưng hình như hương biếc
Đang hóa thạch đáy hỏa diệm sơn
Chậm để ghé nơi phượt hờ bao chuyến
Chiêm nghiệm đau bên tóc lạc trắng bờ
Đời ngỡ hẹp té ra siêu rộng
Hạt cát buồn phiêu du trọn tứ thơ
Chậm như sông cuối mùa lũ ác
Duềnh lộc vừng đỏ bến sông quê
Trong cơn ngủ ta thấy mình biết thức
Chìm giấc mơ khao khát lối về
Chậm để đếm xuyên mùa tuổi tác
Gặp bóng mình vẫn mộc như cơm
Gần một đời cuồng nhanh theo bão
Nay men về lánh cuối miền hương
DƯƠNG THẮNG
Bóng mẹ
Ai sinh ra điệu dân ca
Để con cò trắng ngỡ là mẹ tôi
Mưa phùn thấm rách áo tơi
Lẻ loi ướt cả quãng đời mẹ đi
Cánh đồng mưa trắng thầm thì
Mẹ như đốm nhỏ loang đi giữa mùa
Đường trơn bùn nhão gió đưa
Bóng tre nghiêng ngả mẹ chưa thấy về
Bóng mẹ cõng bóng con đê
Nặng vai trĩu cả nón mê đội đầu
Cong cong đòn gánh nông sâu
Phía vui vầy phía âu sầu tâm tư
Lúa đương xanh bởi mưa thưa
Phun từng vạt mẩy đòng đưa ngậm phùn
Mẹ còm cõi giữa rét run
Lê nhanh chân bước dính bùn áo nâu
À ơi tìm lại nông sâu
Khom hình bóng mẹ dãi dầu mang theo
Nhớ thương hạt thóc quê nghèo
Gầy gò gió bấc vẫn theo tôi về
.jpg)
Gia đình 4.0
Trong gia đình bốn chấm không
Người đàn ông cách ly mình bằng bản tin thời sự
Người đàn bà chăm chú smart phone
Đếm thế giới riêng năm nghìn người theo dõi
Bọn trẻ xếp lê gô
Điều khiển ô tô, phi thuyền... ra thế giới
Thế giới phẳng mơ hồ
Trong gia đình bốn chấm không
Khu vườn cổ tích bé lại
Cánh diều tuổi thơ bé lại
Một chấm nhỏ
Bay về phía cung trăng
Trong gia đình bốn chấm không
Một hôm, bao ngày... mất điện phố đông
Ánh sáng xanh vụt tắt
Đôi mắt đêm mơ hồ tiếng côn trùng
Sợi nến cựa mình miên man đốm lửa
Bầu trời sáng thật gần ru từng ngôi sao nhỏ
Ánh trăng sáng tỏ
Quyển sách ở trên bàn
Bấy lâu rồi đã ngủ từng trang
NGUYỄN THIỆN ĐỨC
Dã quỳ
đã bắt đầu tạnh đã bắt đầu nắng
đã bắt đầu khô đã bắt đầu hanh
đã bắt đầu hoa đã bắt đầu nụ
từng chùm từng chùm vàng vàng xanh xanh
từng chùm từng chùm tủm tỉm chúm chím
đã bắt đầu nắng đã bắt đầu gió
đã bắt đầu lạnh đã bắt đầu sương
đã bắt đầu nụ đã bắt đầu chớm
từng chùm từng chùm vừa hé vừa nở
chùm chùm bạt ngàn như là sao giăng
đã nườm nượp gió đã hừng hực nắng
đã nghìn nghịt bông đã rừng rực hoa
từng khóm từng vạt từng dải từng thảm
giống như muôn ngàn mặt trời mới nở
giống như muôn ngàn mặt trời bé con
giữa nắng và gió trập trùng mây trôi
giữa rừng và đồi bạt ngàn thảo dã
giữa Pleiku và hoa mênh mông thương nhớ
đã nườm nượp gió đã vàng rực nắng
đã nghìn nghịt bông đã rừng rực hoa…
TRẦN HẠ VI
Nụ cười đồng đen
Nụ cười đồng đen câm lặng
Cô thị tỳ chết đứng cạnh chiếc vò sen
Anh hẳn đã muốn em
cũng nếm một phần đắng cay tủi hờn câm lặng ấy!
Nhào, nặn, hun, sấy
Em là của anh, ngồi ở góc đằng kia
Ngước đôi mắt đẹp nhìn anh - ơ kìa
Thoảng vời vợi nét buồn phảng phất!
Anh yêu em - anh yêu em rất thực
Mãi mãi bên anh có gì sai?
Phóng nét cọ tô cho em cong vút đôi mày
Gieo vần thơ dắt em vào đường luyến ái
Trăm ngàn lần bên anh không sai trái
Vẫn biết em yêu anh - sao lại nét buồn vương?
Cười đi em thời gian chết sững khóe môi hường
Duyên tiền kiếp may được một lần chung bước
Nụ cười đồng đen câm lặng không trầy xước
Vua chúa nào chẳng muốn sở hữu cung phi
Em không muốn - hãy để cho em đi
Con nhạn trắng trên trời vang lừng tự do khúc hát
Chúng ta một mối duyên lầm lạc
Nếu có lai sinh... vẫn chưa chắc đã thành
Gió rít đầy trời chôn ẩn ức câm thinh
Em sẽ giữ gìn mảnh-anh-em tạo tác
Nụ cười đồng đen
trơ khấc đến gai người!
Anh đã nói yêu một người đàn bà
Anh đã nói yêu một người đàn bà
Dưới bóng tường vi đêm qua
Người đàn bà đã đi rất xa
Qua mấy vòng đại dương, năm sáu ngàn châu lục
Đáp một chiếc đĩa bay thần tốc
Kịp sáng nay về ngồi lại bên anh
Nắm lấy một bàn tay
Ô kìa không phải bàn tay
Mái tóc trắng sương khu vườn rụng hết
Con chim sẻ cuối cùng
cướp hơi ấm bay đi
.jpg)
(TCSH386/04-2021)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh