Triều Tâm Ảnh - Nguyễn Xuân Sanh - Phạm Đình Ân - Hoàng Vũ Thuật
Ảnh: internet
TRIỀU TÂM ẢNH
Bờ Sông và lau lách
Buổi sáng người kéo xe
Qua sông, phiên chợ muộn
Nước đục đáy lòng ghe
Con cá sầu sóng cuộn
Nắng quẫy ướt lên bờ
Lau lách già đắm đuối
Đá cuội cũng làm thơ
Ngàn năm không nhớ tuổi
Buổi sáng người qua đò
Lặng im nhìn lau lách
Thân thế ngủ hai bờ
Dưới sông hoa trôi muộn
Vườn thiền
Vô tình mây trắng lại
Hờ hững nắng đầy hiên
Khóm lan và bụi trúc
là Đạo cũng là Thiền
Thơ bên vườn sương ướt
Chim đọc, bướm vờn vui
Nhưng đâu từ lối nhỏ
Cọng cỏ hé môi cười...
NGUYỄN XUÂN SANH
Con đò con mắt
Con đò con mắt giữa lòng sông
Tha thiết chờ mong một ánh hồng
Trên bến cuối chiều khi gió nghỉ
Để bồng vũ trụ, mảnh trăng trong.
Con đò con mắt của đời ta
Thao thức thâu đêm cảnh mặn mà
Đón bóng đi về người bạn cũ
Đôi lần áo đẫm trận mưa sa
Con đò con mắt mở xa trông
Sớm tối ngược xuôi nước một dòng
Con mắt con đò xưa mẹ ngóng
Giờ ngân bè nắng mừng con sông
Ôi con đò con mắt yêu thương
Nhìn chúng ta say đắm lạ thường
Ai đến bên, lòng ta khẽ bảo:
Con đò
con mắt của Sông Hương!
PHẠM ĐÌNH ÂN
Cánh rừng con gái
Mùa xuân này ai đi đâu về đâu
Em ở lại với cánh rừng con gái
Thư viết vội nhòe mưa chưa kịp gửi
Gió thương em thổi đến mẹ quê nhà
Người trồng cây giữa rét buốt, nắng thiêu
Cây xòe tán, người không nương bóng rợp
Em yêu rừng lấy gì so sánh được
Ngỡ không rừng em biết sống ra sao
Giặc phá rừng, xả đạn dọc đời em
Đêm thiếu ngủ, chồi non xanh ngơ ngác
Xuân bất tận khắp địa đầu Tổ quốc
Còn người trồng chăm, không thể mất rừng.
Tuổi xuân em trải đèo cao, rừng sâu
Cả miệng vực của đời thương dân dã
Dám đánh đổi một đồng bằng yên ả
Để lên nguồn, lũ xối tuổi hai mươi
Rừng già hồng hoang ắt sẽ xói mòn
Đang thay thế bởi cánh rừng con gái
Chính em nữa cũng không sao trẻ mãi
Chỉ mùa xuân còn lại trong rừng.
HOÀNG VŨ THUẬT
Người đàn bà ngồi bên cửa sổ
Ngày giờ nối nhau bền bỉ
Người đàn bà ngồi bên cửa sổ lâu rồi
Đóng khung thành bức tranh thế kỷ
Đôi mắt chừng ngóng đợi một người
Tôi đắp cát xây lâu đài nho nhỏ
Xóa đi rồi xây lại nhiều lần
Người đàn bà nhìn tôi, để ngỏ
Một nụ cười có lẽ với tôi chăng?
Khi mặt trời khuất sau ngọn núi
Tôi mới nghe giọng nói dịu dàng
Về bữa cơm chiều, về con thằn lằn chắt lưỡi
Với đức ông chồng mặt tựa trái bồ quân
Rồi sau đó lại bước vào im ắng
Cũng hệt như im ắng ngày qua
Đèn vụt tắt, ngôi nhà - khối đá
Đè lên thân thể ngọc ngà
Năm tháng quên lâu đài nho nhỏ
Tôi chẳng còn run sợ âu lo
Cuộc sống quăng tôi lên phía trước
Dù gai đâm, buồn tẻ dành cho
Người đàn bà vẫn ngồi bên cửa sổ
Còn ngồi như thế tới bao lâu
Vai gầy guộc suối sông biển cả
Mắt lấp vàng xác lá mùa thu.
5.3.1991
(TCSH48/03&4-1992)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh