HUỲNH THÚY KIỀU Núi mơ Nắng tuột khỏi chiều Trượt dài theo bóng dại hoàng hôn Đi về nơi phế hoang cám dỗ Tích trầm đêm Vết hằn chiêm bao hồng tinh cầu rớt giấc Suối cưỡng bức đá khe Màu ba-zan hứng vực sâu chảy xiết Ướt rượt đường cong mụ mị Ngõ trăng lạnh Ngắc ngứ tiếng rên ngộp thở núi đồi Xối nức nở vào trăm ngàn môi nhớ Khóc sũng mưa Hương gió tuôn tràn. Băng chảy Phía sương tan phù du Đôi bồng ảo nhú mầm mười tám Cắm phực cội nguồn Rền triệu triệu thanh âm loang hạnh phúc Mơ nhào nặn hình hài Dấu thiên di mất hút Nếp đa đoan kéo thực tại Vùng thịt da song hành Ngửa mặt trời anh khát thảo nguyên em. ĐỨC SƠN Không gian huyền Đừng trách tháng ngày nắng mưa Đừng trách con thuyền thẳng hướng con sóng cả Nhớ cánh buồm ăn gió xa khơi Lóng lánh rắc hạt miền em biếc tím Miền cát tôi thẳm đêm ngóng từng con nước Nỗi nhớ đầy vơi chút xao lòng Trách chi vầng trăng muộn Tôi huyền hoặc bước theo con sóng cạn Huyền hoặc thầm thì bờ mi biển Giọt mặn nhớ Giọt lan toả úp mặt trống không Giọt giọt tìm về cỏ may giăng buông buốt giá Huyền hoặc đám mây lãng đãng thi vị Niềm riêng dắt trăng ảo vàng bờ cát Ảo ngôi nhà trú ngụ tôi và em KIỀU TRUNG PHƯƠNG Lửa "Lửa thiêng" tắt lửa tình già. Đau người trong cuộc thế là thơ đau. Nén linh hương thắp nguyện cầu. Hồn siêu thoát thơ nhiệm mầu bay lên... THẠCH QUỲ Gửi... Với cảm giác yêu đương, tôi người xa lạ Không cả nụ cười để tặng cho em Và thơ tôi như dao chém đá Đá trơ gan dao tôi rỉ hoen Nếu trên đời thảng hoặc một vài em Tơ tưởng đến, tôi đành nói thật Tôi thiếu cả hồng cầu trên mặt Và đồng tiền trong túi thì không Có đôi khi vô cớ bỗng nao lòng Thấy hạt bụi dưới chân mình lấp lánh Cũng có phút ê va trong suối tắm Nàng tiên cá trườn mình dâng sóng thuỷ tinh Nhưng hồn tôi câm bặt, lặng thinh Tôi ngáp vặt, buồn nôn và ngái ngủ Cũng có thể vì thơ mà xấu hổ Tơ lơ mơ mình đánh lạc mất mình... LƯU LY Đêm hồi sinh Cơn lốc xoáy mang anh về trong chốc lát Hạnh phúc đến với em không là sự thật Sóng sánh giấc mơ Ân ái ngỡ ngàng Giá như... Trái tim anh đặt bảng giá viết tên Để em có thể mua về (dẫu bằng muôn vạn ngàn cay đắng) Thế giới em sẽ có anh đồng vọng Trong trái tim yêu lấp lánh những nụ cười... TRẦN HẠ THÁP Giường ruộng Cánh đồng quạt than Cháy mặt trời quay thịt Hun khói lưng Nêm muối mồ hôi chảy mỡ Mồi nhậu hạt cơm Dát vàng đất sét Đóng khung giường ruộng(*) Lồng khuôn mặt tổ tiên Vết chân chim nứt nẻ Nói mãi về những người không nói Không nói về những người nói mãi Kẻ gặt không nhậu Người nhậu không gặt Đất có chảy như nước Về nguồn tận nơi đâu Cuộc hành hương bằng cuốc Mòn vẹt lưỡi mặt trăng Lật soi nhìn Gốc bốn ngàn năm toóc rạ Tắc, rì tam đa Hưởng phước sáu chân Người - trâu - đất nhật tụng Oàm oạp bước keo sơn Sỉa bàn chân đỉa bám Công án ma Đến bao giờ đốn ngộ Người đời xưa chợp mắt Nằm kê gối cồn hoang Vẫn chưa về nhà Giữ đất thiêng Đến nay mạ xanh còn trải chiếu Cổ tích kể gì Tiếng quạ kêu để lại Lúa hay khế vàng Túi sáu gang Còn trấu tro vãi xuống Giường ruộng dọc ngang Nổi gân đất hàng hàng Giường chưa ai dám ngủ. ------------------ (*) Giường ruộng : Bốn bờ đất giới hạn thửa ruộng. NGUYỄN THỊ Vô đề Đêm lột trần những mảng tối Trăng Viễn trong và dòng sông trắng xóa Một cuộc tình vừa chạm qua tim? Xòa mái tóc ngà lên đêm Chiếc lược gãy Cây cầu cong Vắt ngang nỗi nhớ nông cuội của em Anh – con đường không điểm dừng Ngôi nhà khoá trái những miền yêu thương cũ. Nỗi nhớ khan đặc sương đông Đậu lên bờ vai nhắc nhớ Mùa đông thiếu hơi ấm môi người. Trăng Viễn trong hơn nước mắt Cho cuộc tình Ngưu lang Chức nữ Xóa nhòa giấu tích xa xưa… Có đêm thiêng bên bờ yêu mãnh liệt Cỏ hoang vu che hết lối em về. VĂN HỮU TỨ Lững xuân Sóng vỗ cuối hai bờ huyền hoặc Tà áo vàng thu ẩm mốc Lối cũ tường rêu mờ ngón Lưu ly đầm ướt giọt hồng tươi Gửi tặng cho em nụ cười xanh Gửi tặng mùa xuân nốt nhạc rung Gửi tặng giấc mơ em bé Câu hát người mù ngồi quán sông VĂN CÔNG HÙNG Nhặt trên net hoa hồng gõ vào đêm bật lên giấc mơ bạc trắng Hoàng Cát làm thơ gọi Nguyễn Trọng Tạo tuổi già nép vào khe cửa đâu đây như hạt táo nảy mầm điện thoại di động tích hợp quay phim một cháu mười chín tuổi ngông cuồng và dại dột vèo như tàn trúc hàng triệu comment ngơ ngẩn giữa trời một bài thơ giống bài thơ những trái tim bất ngờ trùng nhịp? có những sự thật thật hơn sự thật bỗng nhiên cười hềnh hệch trong nhau... thì ra nỗi buồn luôn có mẫu số chung nỗi buồn luôn luôn sẵn sàng lan tỏa nỗi buồn thương nhau trong cô đơn lặng lẽ nỗi buồn đông cô trong mỗi phận người ngại ngần gì em hoa hồng không nở nữa hoa hồng không nở nữa... NGUYỄN TIẾN CHỦNG Chiều Hương Tích Mặc khách thung dung tìm cõi Phật Tao nhân lững thững ngắm mây trời Người về khuất nẻo chiều Hương Tích Phủ bóng mờ lưng núi khơi vơi… THÁI DOÃN LONG Ví dặm Kính tặng mẹ Nghe như nước sông Lam Chảy tràn qua ví dặm Nghe như tiếng gió ngàn Vi vu niềm nhớ bạn Hát bao điều nỉ non Đàn một dây cũng đủ Cõi lòng ông già mù Bừng sáng giữa vu vơ Thảng thốt lời mẹ ru Xưa bà ngồi nhen lửa Đất nước còn chia nửa Khói mặt bà trầm tư Chỉ miếng trầu câu ví Khuây đời mẹ lấm bùn Mo cau gói thơm thảo Nhắc mãi chiều con đi Con đứa Bắc đứa Nam Đục trong nước sông Lam Lòng mẹ như đòn gánh Tao dóng căng dây đàn Giữa mênh mông bát ngát Chớp bể rồi mưa nguồn Ai tìm tôi câu hát Réo rắt phiên chợ Khuôn Có ai về Đô Lương Theo điệu ví ngược Lường Con tim nào khắc khoải Nhớ hoài miền quê hương HẢI TRUNG Đồng dao đầu năm chẳng gió ẵm đưa rung rinh bóng nắng chẳng hoàng hôn ám tóc cũng điểm vôi chẳng anh chẳng tôi mà thành bè bạn cái bóng lũi lầm lớn thêm một tuổi câu thơ viết vội thêm phiền nếp nhăn những chuyện lăn tăn vất va vất vưởng ồ, thời gian, thưởng một ngày đầu năm kiếm một quẻ xăm xem đời sấp ngửa mùa xuân xộc cửa dẫu chưa kịp mời ngoài kia em ơi gót đông vừa trở... ĐÔNG HÀ Mùa xuân trên núi Mơ mùa xuân bật mầm trong tóc như thủa xưa gội áo hoa huyền ai gõ cửa nghe dường vội vã tiếng xa dần bé tự bàn tay Thôi thì đợi cho người trễ hẹn đợi quá ra giêng hoa cải hoá tro tàn cầm kỷ niệm rải đầy vào nông nổi nông nổi tan thành một chuyến tan hoang Để mùa xuân có người con gái đổi trái tim tự thủa liêu trai tình đem lên núi đặt thành vùng vụng dại đến đêm rằm thành trái đắng hoa trăng NGUYỄN VĂN THANH Viết trong cô đơn Bệnh sinh cô đơn hay cô đơn sinh bệnh? chiều ho khan tối rét run giường gối chăn xiêu lệch nhàu trống vắng ta gọi em đáp lại tiếng vọng của bức tường. Bệnh sinh cô đơn hay cô đơn sinh bệnh? sáng tê chân trưa hâm hấp đỉnh đầu vừng hồng trong mắt xoay ảo ảnh ta gọi ta đáp lại chính ta thôi Ta gọi thơ thơ dịu ngọt đáp lời mai dùng cả phút giây hấp hối để viết câu thơ cuối tặng đời. HỒNG VINH Vọng âm của chữ Không có gì dễ thương hơn nỗi buồn Nó không bỏ ta đi Không có gì vô tâm như niềm vui Nó thường bỏ ta đi Đầy ắp này so sánh với hụt hẫng kia Đặt nó lên bàn cân Cán cân thời gian, kiếp người... Bây giờ lời nói viết ra Vỗ nghĩa thành ra có nghĩa Ý nghĩa của sự vô nghĩa Ý nghĩa của chiếc miệng huyệt đang mở ra Và những xác chữ cuối cùng Không có loài hoa nào nở để phủ lên khô hạn Khi ngữ ngôn không mang hơi thở hạt mầm Có thể nỗi buồn trở nặng trên vai Người mang vác thiên chức của chữ Nhưng sẽ được đặt vào đền thiêng Hết sức thầm lặng nhưng rất trân trọng PHỤNG LAM Ngày mới Giọt tàn đông đốt khói bay xông đêm trừ tịch mở ngày thanh tân Giọt si rơi ngực cỏ mềm giấc mơ xanh ngợp mắt em bãi cồn Gởi đầu ngày mới nụ hôn hái tiếng chim tặng mùa non khúc tình. NGUYỄN THỤY KHA Một ngọn lửa Tưởng biệt Nguyễn Hữu Đang Như sự thật vương triều nào cũng sợ Người sinh ra toàn lửa trong mình Đưa quốc ngữ vào dân, muốn tự do sáng tạo nhân văn Người đã cháy tận cùng không do dự Người đã chịu dập vùi như cỏ Những tháng năm cô độc khóc cười Cứ trai tân dọc tuổi, mình thất lỡ Cùng dân đen nhặt cơm vãi cơm rơi Cùng dân đen dựng tầm vóc giữa đời Người ép mình vào góc rừng tuyệt lộ Như sự thật Người vụt lên vách đá Một tượng đài do lửa tạc ra. (nguồn: TCSH số 228 - 02 - 2008)
|
Tải mã QRCode
Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà