Thơ Sông Hương 02-2000

14:45 10/03/2010
Trinh Đường - Thi Hoàng - Tô Hoàn - Trương Quân - Lê Thị Mây - Ngô Minh - Tôn Nữ Như Ngân - Hoàng Cầm - Hồng Thị Vinh

Hình ảnh Lũy Đào Duy Từ - Ảnh: skydoor.net








TRINH ĐƯỜNG



Đào Duy Từ


Mọi trường thi đều từ chối tên ông
từ chối một tên xướng ca vô loài
một nhà thơ của hoa đồng cỏ nội
một vầng trăng tự mọc tự tà
một mũi kim trong túi chửa thò ra...
Chúa nắm quyền hành vua ngồi lấy lệ (1)
ngậm ngùi thân danh chán chường thời thế
rộng đất trời sao chật vậy giang san
Chẳng tình cờ tìm đến Bạch Vân am (2)
và Đào công với cơm đùm khăn gói
bước lủi thủi trên “ Hoành Sơn nhất?”
ông vào Đàng Trong tìm chỗ “ dung thân”
Tối sáng giao tranh minh chủ quyền thần
buổi loạn lạc nhờ ông thành bình trị...
Cát bụi bay, hai thế kỷ qua rồi
vẫn còn đó một Lũy Thày sừng sững
một sự nghiệp ở Đàng Trong to lớn
những bài thơ, một Hổ trướng khu cơ... (3)
Kẻ vô loài ca xướng từ xưa
đổi đất ở thành bậc thầy vua chúa...

-----------------
(1) Chỉ vua Lê ở ngôi làm vì chúa Trịnh tiếm hết quyền hành
(2) Nhờ Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm gợi mở “ Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thần”, nên Đào Duy Từ mới tìm vào Đàng Trong giúp chúa Nguyễn Hoàng.
(3) Thơ ông có bài “ Ngọc Long cương vãn, tự ví mình với Khổng Minh. Hổ trướng khu cơ là cuốn binh thư của ông.



THI HOÀNG


Bổn Phận


Bổn phận là con chim đậu xuống vai mình
Bạn đã nghe lần nào chưa trái tim mình tập hót
Một lồng ngực dưỡng sinh mưa ngọt nắng thơm
Thịt xương sinh thịt xương
Đồng hồ chết mà thời gian chẳng chết

Có những con lợn chuyên vục mặt vào cái máng bổn phận
Có sự khinh bỉ ăn no nê mà cũng béo mầm
Đất để chôn người chết còn trái tim để chôn người sống
Đất và trái tim đã biết nhau từ rất lâu rồi
Và phép nhân vẫn san sẻ bù trì cho phép cộng
Và chữ tồi bớt dấu huyền đi để thành tôi
Tôi vá áo trước vợ con trước người thân thuộc
Tôi áo lành ra chỗ đông người chẳng thân thuộc một ai
Ai vuông góc với mặt phẳng đáng ngờ của những thằng vật chất
Ai song song với ngoắt ngoéo khói hương của các đấng tinh thần.

Tinh thần...! đến câu thơ thứ mười lăm này thì giắt hóc
Có khi cằn cỗi nghèo nàn cũng là bổn phận của thơ (?)
Tinh mơ chữ nghĩa đã vón cục như trái độc không ăn được
Lại vứt một mảnh đời đi, ít ra là từ sáng đến giờ.


TÔ HOÀN


Đâu ngờ


Cơn lũ vừa qua thì xuân đến
Vườn anh còn mỗi gốc mai già
Cứ ngỡ xuân này cây lỡ hẹn
Đâu ngờ mai vẫn nở bừng hoa


Đào


Thân cành mảnh mai như gió
Trụi trần sương gió ngày đông
Đất sâu chắt từng hạt lửa
Dâng tặng Mùa xuân sắc hồng.


TRƯƠNG QUÂN


Vầng trăng Đại Nội


Một mảnh trăng khuya vượt Cấm thành
Soi tìm bí sử dưới rêu xanh
Trắng đêm cung viện hồn hoa thức
Bướm rũ long sàng cánh mỏng manh

Chuông vàng khánh ngọc vẳng nơi đâu
Mà tượng trang nghiêm lạnh bóng chầu?
Nay điện Thái Hòa! Mai Thế miếu!
Duy còn chín đỉnh với ngàn sau.

Đại Nội từng khi trăng dõi soi
Biết gì vương đế thuở xa xôi?
Mười ba triều đại vòng hưng phế
Vẫy bút, thơi gian xóa sạch rồi.


LÊ THỊ MÂY


Một năm mưa Huế


Ngoài sông mưa Huế vừa ngưng
Bàng non tháng chạp ngập ngừng hết năm
Lũ nguồn trôi áo hàng cung
Đêm sương phố cổ ngấn bùn còn đau

Hạt mưa nhặt ở vườn sau
Hoa mai vừa nụ rỡ màu nắng trưa
Trống nêu giục pháo Giao thừa
Mình em ra ngõ tiễn đưa tuổi mình

Dưa hành bánh tét người xinh
Trẻ reo câu đối giật mình nước sâu
Ly hương người những bể dâu
Mình em đón Tết qua cầu Hương Giang

Một năm mưa Huế nhỏ hàng
Mái hiên năm cũ mai vàng nửa sân...


NGÔ MINH


Xác Hồng


ngày tình yêu chớm nở
những bông hoa ngát hương
bây giờ hoa, em hỡi
cánh rã rơi lạnh lùng

những cánh hoa bầm đỏ
như khóc lại như cười
đừng quét đi em nhé
màu hoa còn chưa phai

cánh cháy lên như mắt
cánh run thầm như môi
cánh vặn cong như nhớ
cánh vương sương ngậm ngùi

đừng quét đi em hỡi
những cánh yêu một thời
không được làm hoa thì làm lửa
tro tình đâu dễ nguôi...
                 Huế, 5- 4- 1999


TÔN NỮ NHƯ NGÂN


Hoa súng


Dập dờn cây súng nở hoa
Gió im sợ động món quà bình yên
Giọt sương đậu giữa hồn nhiên
Nắng vàng thả nỗi hờn ghen xuống hồ


Hoa lau


Hoa lau nở vắng đồi Xuân
Người đi bối rối bước chân nẻo về
Nghe chừng ai gọi trong mê
Nhìn ra đã trắng lời thề cỏ lau.


HOÀNG CẦM


Nén hương linh

          Khấn hương hồn vợ Lê Hoàng Yến

Đã hẳn em về xa mê tâm linh
Sao còn đứng nghiêng khói thiêng vươn mình
Sao hẳn em lên thượng tầng khinh thanh
Sao còn rưng rưng cỏ mờ bình minh

Đã hẳn em bay cõi im-vô-cực
Sao còn mưa mau quất đau lá cành
Em hết phiên canh tổng kho thế tình
Sao còn nhập siêu nhiều chiêm bao anh

Anh vâng ý em vâng mệnh Đào Hồng
Cưới người kế em hồi môn nắng đông
Xóa nhanh quầng thâm nhặt thầm sợi tóc
Từ đêm tân hôn ghi âm cười khóc
Ghi nét mày chau ghi sắc môi hồng
Băng ngắn mật gấu băng dài mật ong
Một thời yêu anh
                 Một thời... như không.


HỒNG THỊ VINH


Vô ảnh

(Về hình tượng Salomon)
                     Tặng Võ Quê

Lững thững chiếc thuyền Tôi
Biết đâu là bờ bến
Trước phận người nhỏ nhoi
Rồi tan như bọt biển

Chim đã bay ngang trời
Làm sao tìm thấy bóng
Thuyền trôi giữa biển khơi
Người đi là đi mãi

Tôi đi qua giữa đời
Nợ hình hài trả hết
Bọt biển sẽ tan thôi
Chữ tâm còn giữ lại

(132/02-2000)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất

  • Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác

  • Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy

  • Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh

  • HỒNG NHUChiếc tàu cau                        (Trích)

  • Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật

  • LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.

  • LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…

  • Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.

  • L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.

  • Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)

  • Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.

  • ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi

  • Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh

  • PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà