Thợ săn Gracchus

09:52 24/06/2019


FRANZ KAFKA

Ảnh: internet

Trong lịch sử văn học thế giới, Franz Kafka (1883 - 1924) là một trong những gương mặt nổi bật với một vị trí đặc biệt quan trọng. Ông sinh tại Praha, xuất thân từ một gia đình Do Thái trung lưu. Ông thông thạo tiếng Séc nhưng chỉ sáng tác văn chương bằng tiếng Đức.

Nhiều tác phẩm của ông chứa đựng những điều phi lí, nhưng lại khiến người đọc không thể nào không đắm chìm trong những suy tư trăn trở về lẽ đời và kiếp nhân sinh. Có những truyện rất ngắn ông cũng làm cho chúng ta trăn trở bởi bao tư tưởng sâu sắc. Các sáng tác của ông đã trở thành những tác phẩm có tầm ảnh hưởng bậc nhất của văn học phương Tây
.


 

FRANZ KAFKA  

Thợ săn Gracchus

Hai cậu bé ngồi trên kè bến cảng và chơi xúc xắc. Một người đàn ông đọc báo trên bậc của một đài kỉ niệm trong bóng râm của bức tượng người anh hùng đang vung kiếm. Một cô gái đổ đầy nước vào thùng. Một người bán hoa quả nằm bên cạnh những sọt hàng và nhìn ra hồ. Qua những khe cửa người ta nhìn thấy hai người đàn ông đang uống rượu giữa quán. Ông chủ quán ngồi ở đằng trước cạnh một cái bàn và thiu thiu ngủ. Một chiếc thuyền khẽ lắc lư tiến vào cảng nhỏ như thể nó được kéo đi ở trên mặt nước. Một người đàn ông mặc chiếc áo khoác bảo hộ lao động màu xanh leo lên bờ và buộc dây neo thuyền vào các vòng neo. Phía sau thủy thủ trưởng, hai người đàn ông khác mặc áo khoác tối màu có cúc bạc khiêng một cái cáng, hiển nhiên trên đó có một người nằm dưới một cái khăn lụa rộng thêu hoa viền tua.

Không ai ở trên bến cảng để ý đến những người mới lên bờ, ngay cả khi họ đặt chiếc cáng xuống để đợi người lái thuyền vẫn đang cuốn các dây thừng lại cho gọn thì cũng không ai đến gần, không ai hỏi han, không ai để mắt đến họ.

Người lái thuyền đứng lại một lát để một người phụ nữ với mái tóc buông xõa đang ôm con vào ngực bây giờ mới xuất hiện ở trên boong thuyền lên bờ trước. Sau đó anh ta cũng lên bờ, đi đến chỗ những người đang đợi mình, chỉ tay vào ngôi nhà hai tầng mầu vàng nhạt đứng sừng sững ở phía bên trái gần hồ. Hai người mặc áo khoác tối màu nâng cáng lên và khiêng nó qua cái cổng thấp, nhưng có hai cái trụ thanh mảnh. Một cậu bé mở cửa sổ, đúng lúc cậu ta trông thấy toán người đi vào trong nhà, và cậu vội đóng cửa sổ lại. Bây giờ cánh cổng được đóng cẩn thận bằng gỗ sồi đen cũng được đóng lại. Một đàn chim bồ câu đã bay vòng qua tháp chuông đậu xuống trước ngôi nhà. Khi không tìm thấy thức ăn những con chim bồ câu tụ tập lại ở trước cổng. Một con bay lên tầng hai và mổ vào kính cửa sổ. Đây là những con chim được chăm sóc tốt, lông sáng màu, nhanh nhẹn. Người phụ nữ lúc trước ở trên thuyền vung tay ném mạnh những hạt lúa mì về phía chúng, chúng nhặt lúa mì và sau đó bay về phía người phụ nữ.

Một người đàn ông đội mũ hình trụ có băng tang đi xuống một trong những đường hẻm nhỏ rất dốc dẫn xuống cảng. Ông ta thận trọng nhìn quanh, tất cả làm ông lo lắng, ông cau mặt nhìn đống rác ở góc phố. Vỏ trái cây nằm đầy trên các bậc của đài kỷ niệm, khi đi qua ông gạt chúng xuống đất bằng một cái gậy. Ông gõ cửa ngôi nhà hai tầng màu vàng nhạt, đồng thời cầm chiếc mũ bằng tay phải đi găng tay đen. Ngay lập tức cửa được mở ra, có lẽ có đến năm mươi cậu bé đứng thành hàng dài ở hành lang cúi chào ông. Người lái thuyền đi xuống cầu thang, chào người đàn ông, dẫn ông lên trên. Ở tầng hai, người đàn ông đi cùng người lái thuyền vòng qua cái sân được bao quanh bởi những hành lang ngoài được xây dựng đơn giản, thanh thoát; trong khi ở phía sau, các cậu bé chen chúc vào một phòng rộng lạnh lẽo ở đằng sau của ngôi nhà, đối diện với ngôi nhà không còn là nhà nữa mà chỉ còn nhìn thấy một bức tường đá màu xám đen trơ trọi. Hai người khiêng cáng đặt một vài ngọn nến nhỏ vào hai đầu của chiếc cáng và châm lửa, nhưng trong phòng vẫn tối, chỉ có bóng của họ lúc trước đứng yên thì bây giờ bị xiêu vẹo đi và xòe rộng lên tường. Chiếc khăn được bỏ ra khỏi chiếc cáng. Một người đàn ông có mái tóc rối bù, bộ râu rậm rạp, làn da sạm nắng, trông hao hao giống một thợ săn đang nằm ở trên cáng. Ông ta nằm bất động ở đó, hình như đang thở hổn hển với đôi mắt nhắm nghiền. Tuy nhiên, những người đưa ông ta đến đây nói rằng có thể ông ta đã chết.

Người đàn ông vừa mới vào cùng người lái thuyền bước đến gần chiếc cáng, đặt một bàn tay lên trán người đang nằm trên đó, sau đó quỳ xuống và cầu nguyện. Người lái thuyền ra hiệu cho hai người khiêng cáng rời khỏi căn phòng. Họ đi ra, đuổi các cậu bé đứng tụ tập ở bên ngoài và đóng cửa phòng lại. Nhưng ngay cả sự im lặng này cũng chưa làm thỏa mãn người đàn ông đang quỳ, ông nhìn người lái thuyền, người lái thuyền hiểu ý và đi qua một chiếc cửa ngách sang phòng bên cạnh. Ngay lập tức người đàn ông nằm trên cáng mở mắt, đau đớn mỉm cười quay mặt về phía người đàn ông đang quỳ và nói: “Ngài là ai?” Không tỏ vẻ ngạc nhiên, người đã ông đang quỳ đứng dậy và trả lời: “Tôi là thị trưởng của thành phố Riva(*).”

Người đàn ông nằm ở trên cáng gật đầu, duỗi cánh tay yếu ớt ra chỉ vào một cái ghế bành và nói sau khi ông thị trưởng đã ngồi vào ghế: “Đúng là tôi đã biết là ngài đến, ngài thị trưởng, nhưng lúc đầu quả thật tôi đã quên hết mọi thứ, đầu óc tôi quay cuồng, và tốt hơn hết là tôi hỏi ngay cả khi tôi biết. Hình như ngài cũng biết tôi là thợ săn Gracchus.”

“Đương nhiên rồi”, ông thị trưởng nói. “Đêm qua tôi đã được báo trước là ông sẽ tới đây. Khi đó, chúng tôi đã ngủ từ lâu. Khoảng nửa đêm vợ tôi gọi: “Anh Salvatore” - đó là tên tôi - “anh nhìn con chim bồ câu ở cửa sổ kìa! Đó đúng là một con chim bồ câu, nhưng to như một con gà trống. Nó bay đến tai tôi và nói: “Ngày mai thợ săn đã chết Gracchus sẽ đến, nhà ngươi hãy thay mặt thành phố tiếp đón ông ấy.””

Người thợ săn gật đầu, mím môi, thò đầu lưỡi ra và nói: “Đúng đấy, những con chim bồ câu bay tới đây trước tôi. Nhưng ngài thị trưởng có nghĩ là tôi nên ở lại Riva không?”

“Điều đó tôi chưa thể nói được”, ông thị trưởng trả lời. “Ông chết rồi à?”

“Vâng”, người thợ săn nói, “như ngài thấy đấy. Trước đây nhiều năm, ồ không, trước đây rất nhiều năm, tôi bị ngã từ một mỏm đá trong Rừng Đen(**) ở Đức khi tôi đuổi theo một con linh dương. Tôi chết từ đó.”

“Nhưng ông cũng đang sống đấy thôi”, ông thị trường nói.

“Gần như là tôi cũng đang sống”, người thợ săn nói. “Con thuyền chở tôi sang thế giới bên kia đã lỡ chuyến đi. Một sự quay sai của bánh lái, một thoáng không lơ là của người cầm lái hay một sự làm chệch hướng đi của con thuyền qua quê hương tươi đẹp của tôi, tôi cũng không biết đó là do điều gì nữa. Tôi chỉ biết rằng tôi đã hoàn toàn tỉnh táo và rằng từ đó con thuyền của tôi đã ở trên những vùng nước của cõi trần. Vì vậy tôi, người đã chỉ muốn sống ở trên núi, đang đi qua tất cả các nước trên thế giới.”

“Và ông không thuộc về thế giới bên kia?” ông thị trưởng nhăn trán hỏi.

Người thợ săn trả lời: “Tôi luôn luôn ở trên cầu thang khổng lồ dẫn lên trên. Tôi đi vẩn vơ ở trên chiếc cầu thang trống trải rộng mênh mông này, lúc thì ở trên, lúc thì ở dưới, lúc thì ở bên phải, lúc thì ở bên trái, cứ đi mãi, đi mãi. Từ người thợ săn đã biến thành một con bướm. Ngài đừng cười.”

“Tôi có cười đâu”, ông thị trưởng phản đối.

“Rất dễ hiểu”, người thợ săn nói. “Tôi cứ đi mãi, đi mãi. Nhưng khi tôi leo lên nơi cao nhất và cánh cổng ở phía trên đã chiếu sáng cho tôi thì tôi tỉnh dậy trên con thuyền cũ của tôi đang đơn độc ở một vùng nước nào đó của cõi trần. Nằm trong khoang thuyền, tôi cố lí giải sai lầm chủ yếu dẫn đến cái chết ngày xưa của tôi. Julia, vợ của anh lái thuyền, gõ cửa và mang xuống thuyền cho tôi đồ uống buổi sáng của đất nước mà chúng tôi đang đi thuyền dọc bờ biển của nó. Tôi nằm trên một tấm phản gỗ, mặc một cái áo liệm bẩn thỉu, tóc râu nửa đen nửa bạc, rối bù, trông tôi thật thảm hại; hai chân tôi được phủ bằng một chiếc khăn choàng rộng của phụ nữ bằng lụa, thêu hoa, được viền tua dài. Phía trên đầu và phía dưới chân tôi, mỗi đầu có một ngọn nến thờ soi sáng. Ở trên tường đối diện với phía tôi nằm có một bức tranh nhỏ, người trong tranh chắc là một thổ dân Tây Nam Phi đang chĩa ngọn giáo về phía tôi và được che chắn một cách tối đa đằng sau một cái khiên to tướng được tô vẽ lòe loẹt. Người ta thấy ở trên các thuyền có nhiều bức tranh ngu ngốc, nhưng bức tranh này là một trong những bức ngu ngốc nhất. Thông thường khoang thuyền của tôi hoàn toàn trống không. Không khí ấm của đêm phương Nam ùa vào qua một cửa khoang của mạn thuyền và tôi nghe thấy nước vỗ ì oạp vào con thuyền.

Tôi nằm ở trong khoang thuyền từ thuở ấy, sau khi tôi còn là thợ săn Gracchus đang sống đuổi theo một con linh dương trong Rừng Đen ở quê nhà và bị ngã. Mọi thứ cứ tuần tự diễn ra. Tôi đuổi theo con thú, bị ngã, bị chảy máu trong một khe núi, bị chết và con thuyền này đã phải đưa tôi sang thế giới bên kia. Tôi vẫn còn nhớ mình thích thú ra sao khi lần đầu tiên nằm dài ra ở trên tấm phản này. Những ngọn núi chưa bao giờ nghe thấy tiếng hát vui nhộn của tôi như bốn bức tường gỗ của khoang thuyền thuở ấy đã nghe trong ánh sáng lờ mờ.

Tôi đã thích sống và cũng đã thích chết. Trước khi lên thuyền tôi may mắn vứt cái bao đựng hộp sắt, túi xách, súng săn mà tôi đã luôn tự hào khoác trên người xuống trước mặt mình. Và tôi chui vào chiếc áo liệm như một cô gái chui vào chiếc váy cưới. Tôi nằm trên cáng và chờ đợi. Sau đó điều không may đã xảy ra.”

“Đúng là một số phận kém may mắn”, ông thị trưởng phẩy tay nói.

“Và ông không có lỗi gì trong chuyện này chứ?” “Không”, người thợ săn nói, “tôi đã là một thợ săn, chẳng lẽ đó là một tội lỗi ư? Tôi là người thợ săn hòa nhã trong Rừng Đen, nơi thuở ấy còn có chó sói. Tôi rình nấp, ngắm bắn…, đó là tội lỗi ư?... Tôi được mệnh danh là “người thợ săn cừ khôi của Rừng Đen”. Đó cũng là một tội lỗi ư?”

“Tôi không có quyền phán xét”, ông thị trưởng nói, “tuy nhiên, tôi cũng cho là trong việc này ông không có lỗi. Nhưng ai có lỗi kia chứ?”

“Tay thủy thủ trưởng”, người thợ săn nói. “Sẽ không có ai đọc những gì tôi viết ở đây, sẽ không có ai đến giúp tôi; giả thử rằng việc giúp tôi là nhiệm vụ thì cửa của tất cả các ngôi nhà sẽ đóng im, tất cả mọi người sẽ nằm trên giường kéo chăn chùm kín đầu, cả thế giới sẽ là một chỗ nghỉ đêm khi tôi yêu cầu được giúp đỡ. Điều đó rất có lợi, vì không ai biết đến tôi, và nếu không có ai đó biết đến tôi thì cũng không có ai biết tôi đang dừng lại, và nếu không có ai biết tôi đang dừng lại thì cũng không có ai biết giữ tôi lại ở đó, cho nên không có ai biết giúp tôi như thế nào. Cái ý nghĩ muốn giúp đỡ tôi là một chứng bệnh và cần được điều trị ở trên giường.

Tôi biết điều đó và vì vậy tôi không hét lên để gọi người giúp đỡ, ngay cả khi tôi rất muốn được giúp đỡ trong giây lát. Tôi rất dễ mất tự chủ, ví dụ như bây giờ. Nhưng chắc chắn điều này là cần thiết để giãi bày những ý nghĩ vừa rồi, nếu tôi nhìn quanh và hình dung mình đang ở đâu và đang sống từ hàng thế kỉ nay. Tôi quả quyết là như vậy.”

“Thật không thể tin được”, ông thị trưởng thốt lên, “không thể tin được. - Và bây giờ ông có ý định ở lại thành phố Riva của chúng tôi chứ?”

“Đúng thế”, người thợ săn mỉm cười nói và đặt bàn tay lên đầu gối của ông thị trưởng để gây thiện cảm. “Tôi đang ở đây, tôi không biết và không thể làm gì được nữa. Thuyền của tôi không có bánh lái, nó chạy bằng sức gió thổi ở những nơi tận cùng của cõi chết.”

Phạm Đức Hùng
dịch từ nguyên bản tiếng Đức  
(TCSH363/05-2019)

..............................................
(*) Còn gọi là thành phố Riva del Garda, nằm bên hồ Garda, Italia.  
(**) Rừng Đen (tiếng Đức: Schwarzwald) là một dãy núi có nhiều cây ở Baden-Wuerttemberg, phía Tây  Nam Đức.




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • RAPHAEN XÔLE (Cu Ba)

    Khi con người mở mắt ra (nỗi sợ hãi đã buộc chúng khép lại), thì việc đầu tiên mà anh ta trông thấy là cái hố có đường kính hai mét và một vòng tròn nhỏ màu xanh nằm cao chừng mười mét ở phía trên.

  • ALICE MUNRO

    LGT: Alice Munro sinh ngày 10 tháng bảy năm 1931 ở Wingham, Ontario, Canada, với tên khai sinh là Alice Ann Laidlaw. Cha của bà là chủ nông trại, mẹ là cô giáo.

  • LGT: Romain Gary tên thật là Romain Kacew, sinh năm 1914 tại Moskva và được nuôi dưỡng bởi một người mẹ đã đặt rất nhiều kỳ vọng nơi con trai mình. Năm 14 tuổi, ông theo mẹ đến Pháp và định cư tại Nice.

  • IURI BONDAREP

    Lần đầu tiên, chúng tôi nhìn thấy cô ta ở cạnh bàn bóng bàn ở sân hành lang nhà an dưỡng. Cô mặc chiếc áo len dài tay màu xanh, chiếc váy thật thẳng nếp, mái tóc màu sáng được cắt ngắn, và cứ mỗi lần vụt rơkét cô lại hất mạnh những sợi tóc vương khỏi trán. Những lúc như vậy, đôi mắt nâu đen của cô lại mỉm cười.

  • O.HENRY

    Rất lâu trước khi bụng dạ lờ đờ của anh nhà quê cảm nhận được hơi xuân thì tay thị dân ấy đã biết rằng bà chúa xanh màu cỏ ấy đã lên ngôi.

  • LTS: Trong 24 bài trong tập Cỏ dại của nhà văn Lỗ Tấn do GS. Trần Đình Sử dịch, Sông Hương số tháng 10 năm 2011 đã giới thiệu đến bạn đọc 3 bài “Sau khi chết”, “Sự giã từ của cái bóng” và “Sự run rẩy trên đường đồi bại”. Kỳ này Sông Hương xin giới thiệu tiếp với bạn đọc 4 bài chọn lọc từ Cỏ dại.

  • VILIAM KHÂYNÊXEN (Đan Mạch)

    Khi Lêô tỉnh giấc, trong tai anh vẫn còn vang lên những lời của ông giáo sĩ giảng đạo.

  • LGT: Nhà văn, nhà nghiên cứu sử học và văn hóa Mỹ Jon Holmes sinh ra tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng công nghệ Texas nơi ông từng tham gia phong trào nhân quyền và phản chiến, Jon Holmes chuyển đến New York làm việc cho một tạp chí nhiếp ảnh và phụ trách một chương trình sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ hiện đại cho một đại công ty ở Bos- ton.

  • KNUT HAMSUN (*)

    Do tôi viết. Viết vào ngày hôm nay cho trái tim vơi nhẹ đi. Tôi đã mất chỗ làm ở tiệm cà phê cùng những ngày sung sướng của tôi. Tất thảy mọi thứ, tôi đã mất hết. Và tiệm cà phê ấy là tiệm cà phê Mắcximilăng.

  • HENRY JAMES 
         (Tiếp theo Sông Hương số 290 tháng 4/2013)

    Một buổi sáng (tôi cho là ở gần La Spezia) Harold đang vẽ bên gốc cây, không xa quán trọ, tôi ngồi cạnh, lớn tiếng đọc Shelley(18) - người có thể chứng tỏ được trìu mến hơn bất cứ ai.

  • ELENA PUCILLO TRUONG

    Nỗi khắc khoải đã kéo dài từ bao lâu?
    Có lẽ một năm. Quá nhiều. Lấy cớ đi vào toilette, hai tay tôi nắm chặt chiếc bồn rửa mặt trong nhà hàng như muốn bẻ làm đôi. Bao nhiêu bức bối đang dồn vào trong... bao nhiêu đau đớn... đau đến nỗi tôi không dám ngẩng mặt nhìn bóng mình trong gương.

  • Henry James (1843 - 1916), nhà văn Mỹ viết tiểu thuyết, truyện ngắn, phê bình văn học; đặc biệt yêu văn học và nghệ thuật Pháp. Ông định cư ở Londres, Anh từ 1876. Tác phẩm: 112 truyện ngắn (1864 - 1910), Toàn tập (1990 - 2009), nội dung thể hiện ở nhiều chủ đề như: ý thức, tâm lý, mơ mộng, tình cảm, vẻ đẹp, chân lý nghệ thuật.

  • FRANÇOIS CHENG
    (Trích từ tác phẩm Khi những linh hồn lang thang trở về)

    Dưới gầm trời này, dưới cái gầm trời rất thấp này, tất cả đều có thăng có trầm, tất cả đều bị biến đổi. Tác phẩm về Những đột biến đã chỉ rõ điều đó, tổ tiên chúng ta đã nói: “Cứ năm năm thì có chuyển biến nhỏ, cứ năm trăm năm thì có đại đột biến”.

  • L.T.S: Sherwood Anderson (1876 - 1941) là nhà văn lớn của Mỹ. Ông có nhiều tư tưởng tiến bộ, và thường tỏ thiện cảm với những lực lượng vô sản cách mạng Mỹ, đặc biệt là trong những năm 1931 - 1935. Truyện ngắn "Những ngọn đèn chưa thắp" (Unlighted Lamps) của ông dưới đây được liệt vào một trong những chuyện ngắn xuất sắc trong nền văn học Mỹ từ trước đến nay. Câu chuyện về bi kịch nội tâm của những con người không phá vỡ nổi bức tường ngăn cách giữa những tình thân và cho đến khi nhắm mắt vẫn chưa kịp thắp lên ngọn lửa thông cảm.

  • Elena Pucillo Truong là người Ý, Tiến sĩ Ngôn ngữ và Văn học nước ngoài (Đại học Milano Italia). Cô dạy tiếng Pháp và Văn minh Pháp tại Milano từ năm 1982 và gần đây có dạy tiếng Ý tại Nhạc Viện, tại phòng lãnh sự danh dự Ý và tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM.

  • LGT: Etgar Keret sinh ngày 20/8/1967 tại Ramat Gan, Israel. Nhà văn nổi tiếng với truyện ngắn và kịch bản phim, có ảnh hưởng lớn tới lớp nhà văn trẻ hiện nay ở Israel.

  • L.T.S: Narayan là nhà văn miền Nam Ấn Độ, sáng tác bằng tiếng Anh. Sinh 10/10 năm 1906 tại làng Madras (mất 13/5/2001), từng sống ở thành phố Mysore cổ kính của quê hương ông.

  • Ferit Edgu sinh năm 1936, từng sống sáu năm ở Paris học chuyên ngành gốm. Trong nhiều năm ông là người viết kịch bản quảng cáo và rồi điều hành một nhà xuất bản. Sự vô lý của cuộc đời, những ám ảnh dục tính, sự sa đọa và sự bất hòa của người trí thức là những chủ đề của ông.

  • HEINRICH BÖLL (CHLB Đức)

    (Heinrich Böll sinh 1917, mất 7-85 - giải thưởng Nôbel văn học 1972)

  • Ngoài các tác phẩm lớn về Việt Nam như Vạn Xuân, Lãn Ông, mấy năm gần đây, nữ văn sĩ Pháp Yveline Feray đã cho ra đời những tập truyện thần thoại và dân gian của các nước châu Á như Việt Nam, Trung Hoa, Campuchia, Tây Tạng. Vào cuối năm 2010, bà đã cho xuất bản tập “Chuyện kể của bà ngoại Ấn Độ”.